Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu về giá cổ phiếu (CP) nói chung và các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu ngân hàng (CPNH) nói riêng là chủ đề có tính thời sự, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu chuyên ngành. Tổng quan các công trình có liên quan mật thiết đến luận án bao gồm: Những nghiên cứu về nhân tố tác động đến giá CP nói chung; những nghiên cứu về phương pháp phân tích các nhân tố tác động đến giá CP trên TTCK; những nghiên cứu về nhân tố tác động đến giá CP ngân hàng trên TTCK. Các công trình này được phân chia theo phạm vi không gian ở nước ngoài và trong nước.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Những nghiên cứu về các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu nói chung Nhóm 1: Tác động của nhân tố thuộc về môi trường kinh tế vĩ mô Trong thời gian qua, một số luận án tiến sĩ ở nước ngoài đã tiến hành đánh giá tác động của các nhân tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô đến giá CP. Cụ thể là: Luận án tiến sĩ của Mullins (2014) với đề tài "Stock market prices: determinants and consequences" [110] đã phân tích các nhân tố tác động đến giá thị trường CP và hệ quả của tác động này trên một số khía cạnh. Thứ nhất, kết quả phân tích biến động giá CP tại 23 TTCK trong giai đoạn 1700-1987 cho thấy giai đoạn nào mà giá CP tăng nhanh là bằng chứng báo hiệu khủng hoảng tài chính sắp xảy ra.
Hơn nữa, lãi suất LIBOR và lạm phát có tác động ngược chiều lên biến động giá CP tại TTCK Anh nói riêng. Luận án tiến sĩ của Apiyeva (2007) với đề tài "The determinants of stock market performance in emerging economies: The case of Latin America and Asia Pacific [57] phân tích các khía cạnh đặc trưng của các TTCK mới nổi. Nghiên cứu sử dụng các biến đánh giá tác động là lạm phát, tỉ giá hối đoái, rủi ro thị trường của CP (Beta), lãi suất của Cục dự trữ Liên bang Mỹ tại 06 TTCK Mỹ La Tinh và 04 TTCK Châu Á-Thái Bình Dương. Kết quả cho thấy Beta là nhân tố có tác động lớn nhất đến tỉ suất sinh lợi, qua đó đưa ra những khuyến nghị chính sách cho nhà quản lí thị trường nhằm duy trì tăng trưởng ổn định giá CP.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Về ảnh hưởng của GDP, nhiều công trình nghiên cứu khác đã được tìm thấy. Cụ thể có nghiên cứu của Chinzara (2011) “Macroeconomic uncertainty and conditional stock market volatility in South Africa area” [74] đưa ra kết luận GDP tác động cùng chiều lên giá CP. Trong khi đó, nghiên cứu của Hsing và cộng sự (2012) “Impacts of macroeconomic variables on the stock market index in Poland: New evidence” [88] khẳng định tầm quan trọng của sự đồng biến động giữa GDP và giá CP trong ngắn hạn. Ngoài ra, một số nghiên cứu khác đo lường tác động của GDP lên tỉ suất sinh lợi của CP, bao gồm Nayaran và cộng sự (2014) “Are Indian stock returns predictable?” [113]; Khan và cộng sự (2018) “The Impact of macroeconomic variables on stock prices: A case study of Karachi stock exchange”[95]; Mishra và cộng sự (2020) “Does the Indian financial market nosedive because of the COVID-19 outbreak, in comparison to after demonetization and the GST?"[107] cũng khẳng định GDP có quan hệ cùng chiều với giá CP.
Hơn nữa, có những nghiên cứu cung cấp bằng chứng về sự vận động của giá CP theo chu kỳ kinh tế ở cấp độ quốc gia. Đại diện gồm có Sharma và cộng sự (2015) về “Stock return forecasting: Some new evidence"[127]. Phát hiện quan trọng của nghiên cứu cho thấy biến động giá cổ phiếu và tỉ suất sinh lợi theo ngành phụ thuộc vào đặc điểm ngành và đại diện bởi quy mô vốn chủ sở hữu cũng như P/E của ngành. Nghiên cứu của Ray (2012) về “Testing Granger causal relationship between macroeconomic variables and stock price behaviour [119] cho thấy GDP, cung tiền, chỉ số giá hàng hóa cơ bản, chỉ số sản xuất công nghiệp có quan hệ nhân quả một chiều với giá cổ phiếu.
Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2013) về “What drives stock price movements?” [73] đã kết luận về ảnh hưởng của thị trường bò tót (bull market) và thị trường con gấu (bear market) đến giá CP. Về tác động của tỉ giá hối đoái, có những nghiên cứu tìm ra bằng chứng tác động cùng chiều bao gồm Moore & Wang (2014) nhan đề “Dynamic linkage between real exchange rates and stock prices: Evidence from developed and emerging Asian markets”[109]; Shula (2017) về “The impact of GDP, inflation, interest and exchange rates on the stock market in Zambia"[129]. Trái lại, nghiên cứu của Gong & Dai (2017) “Monetary policy, exchange rate fluctuation, and herding behavior in the stock market” [81] và nghiên cứu của Agrawal và cộng sự (2010) về "A study of exchange rates movement and stock market volatility" [49] có kết quả cho thấy tỉ giá hối đoái có tác động ngược chiều đến giá cổ phiếu trên TTCK. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Về ảnh hưởng của lãi suất, nghiên cứu của Alam & Uddin (2009) về “Relationship between interest rate and stock price: Empirical evidence from developed and developing countries” [50]; và nghiên cứu của Jefferis & Okeahalam (2000) về “The impact of economic fundamentals on stock markets in Southern Africa" [94] đã cho thấy bằng chứng tác động ngược chiều của lãi suất lên giá cổ phiếu ở các nước đang phát triển.
Về tác động của lạm phát, từ năm 2009 trở lại đây có một số nghiên cứu đưa ra kết luận khác nhau. Có những nghiên cứu khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát và giá CP, nhưng một số khác nhận thấy đây là mối quan hệ ngược chiều, hoặc có những giai đoạn cùng chiều, có giai đoạn ngược chiều. Chẳng hạn, trong công trình đồ sộ của Antonakakis và cộng sự (2017) nhan đề “Has the correlation of inflation and stock prices changed in the United States over the last two centuries?” [55] phát hiện quan hệ cùng chiều trong giai đoạn 1791÷2015 và ngược chiều trong các thập kỉ thập kỉ 1840, 1860, 1930 và 2011. Nghiên cứu chỉ tìm thấy tác động ngược chiều bao gồm Reddy (2012) nhan đề “Impact of inflation and GDP on stock market returns in India” [121]; Kumar và cộng sự (2012) nhan đề “The impact of macroeconomic fundamentals on stock prices: Evidence from Indian data” [99]; Saleem và cộng sự (2013) nhan đề “The relationship between inflation and stock return: Evidence from Pakistan” [125].
Về tác động của cung tiền, có nhiều nghiên cứu tại các thị trường đang phát triển chứng tỏ lượng cung tiền của ngân hàng trung ương (NHTƯ) có tác động tới giá CP. Điển hình trong số đó có Shiblee (2009) về “The impact of inflation, GDP, unemployment, and money supply on stock prices” [128] cho thấy cung tiền là nhân tố có tác động mạnh và tích cực lên giá CP, nhưng đồng thời khi lạm phát và thất nghiệp tăng cao thì tác động này bị yếu đi khá nhiều. Một nghiên cứu khác của Ghazali và Yakob (2016) nhan đề “The money supply and stock prices: The case of Malaysia” [80] tìm thấy bằng chứng giá CP tăng lên khi NHTƯ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, đồng thời những kiểm định dựa trên quan sát trong dài hạn cũng khẳng định mối quan hệ cùng chiều này. Một nghiên cứu khác của Hussain và cộng sự (2012) về "The impact of macroeconomic variables on stock prices: An empirical analysis of Karachi stock exchange" [90] cho thấy trong dài hạn thì tỉ giá hối đoái, lãi suất thị trường, xuất nhập khẩu, cung tiền và chỉ số giá bán buôn có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê tới giá CP, trong khi đó IIP có tác động ngược chiều.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Về tác động của sản xuất công nghiệp, nghiên cứu của Shahu và Bandopadhyay (2020) nhan đề "Relationship between industrial production and stock market: Evidence from India" [124] đã sử dụng kiểm định đồng liên kết Johansen để kiểm định mối quan hệ trong dài hạn và cùng chiều giữa chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) và giá CP trên thị trường Ấn Độ. Trong khi đó, mô hình VECM cũng được hai tác giả sử dụng và cho thấy mối quan hệ cùng chiều diễn ra trong ngắn hạn. Về tác động của giá vàng, nghiên cứu của Lawrence (2003) nhan đề “Why is gold different from other assets? An empirical investigation” [101] và của Garefalakis và cộng sự (2011) nhan đề “Determinant factors of Hong Kong stock market" [78] đều tìm thấy bằng chứng quan hệ ngược chiều giữa biến động giá vàng và giá CP. Các tác giả đã lập luận rằng giá vàng có mối quan hệ đặc biệt với giá CP.
Vàng khác với các tài sản khác bởi vì tiềm năng đối với vàng là tính thanh khoản cao và nó phản ứng với những thay đổi giá. Vàng trong lịch sử thường được xem là “nơi tránh bão” giúp tránh thiệt hại xảy ra trong thời kỳ lạm phát, bất ổn xã hội, chiến tranh giữa các thời kỳ mà giá CP luôn luôn sụt giảm. Trong các cuộc khủng hoảng kinh tế, giá vàng tăng mạnh khi giá chứng khoán sụt giảm, mặc dù mức độ tác động mạnh yếu có thể khác nhau đối với từng nền kinh tế. Nghiên cứu về tác động của giá vàng, giá dầu thô lên giá CP bao gồm Tursoy và Faisal (2018) nhan đề “The impact of gold and crude oil prices on stock market in Turkey: Empirical evidences from ARDL bounds test and combined integration” [131] cho thấy tác động ngược chiều của giá vàng lên giá chứng khoán trong dài hạn lẫn ngắn hạn.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Raza và cộng sự (2016) về“Asymmetric impact of gold, oil prices and their volatilities on stock prices of emerging markets” [120] kết luận giá vàng có tác động tích cực đến giá CP trong dài hạn lẫn trong ngắn hạn, trong đó tìm thấy bằng chứng tác động tích cực tại các thị trường có mức vốn hóa lớn thuộc khối BRICS, còn bằng chứng tác động tiêu cực được tìm thấy tại các thị trường Mexico, Malaysia, Thái lan, Chilê và Indonesia. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa chu kì kinh tế và khủng hoảng kinh tế trong các giai đoạn đến giá CP có đại diện là Bartram và Bodnar (2009) nhan đề “No place to hide: The global crisis in equity markets in 2008/2009” [64] đã đánh giá tác động của khủng hoảng toàn cầu lên các thị trường vốn với bằng chứng cho thấy giai đoạn biến động mạnh nhất diễn ra vào đầu năm cho đến giữa năm 2008, các chỉ số CP bị suy giảm từ 30 đến 40% so với thời điểm cuối năm 2006, trong đó khu vực tài chính với sự có mặt của các ngân hàng quốc tế lớn bị thiệt hại nhiều hơn các thị trường có quy mô trung bình và nhỏ.