chương 1, trong chương 2 tác giả sẽ tiến hành khái quát một số lý thuyết nền làm cơ sở cho việc nghiên cứu và những yếu tố có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu được lựa chọn để phân tích. Bên cạnh đó, qua việc tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có cùng đề tài, tác giả đã nhận diện được các khoảng trống nghiên cứu, từ đó hoàn thiện hơn đối với đề tài này.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CỔ PHIẾU VÀ GIÁ CỔ PHIẾU 2.1 Cổ phiếu Khoản 1, Điều 121 của bộ Luật doanh nghiệp 2020 đã định nghĩa: “Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó”. Mặt khác Bodie, Kane và Marcus (2014) cũng đã định nghĩa, cổ phiếu đại diện cho một phần quyền sở hữu của công ty, cho phép người nắm giữ cổ phiếu có quyền yêu cầu một phần của tài sản cũng như lợi nhuận của công ty đó. Tóm lại, cổ phiếu là một loại chứng khoán mà công ty cổ phần sử dụng để huy động vốn từ công chúng.
Khi mua cổ phiếu của một công ty, NĐT trở thành cổ đông của công ty đó và sở hữu một phần trong công ty. Tuy nhiên, việc đầu tư vào cổ phiếu cũng có rủi ro vì giá trị của cổ phiếu có thể biến động do ảnh hưởng từ nhiều yếu tố của kinh tế vĩ mô hay kinh tế vi mô (Dahal và Puri 2021). Điều 114 của Luật doanh nghiệp 2020 đã quy định đối với công ty cổ phần về việc phát hành hai loại cổ phiếu bao gồm cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Trong đó, cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu mà mọi cổ đông đều có quyền bỏ phiếu và tham gia vào quản trị công ty, trong khi cổ phiếu ưu đãi thường mang lại các ưu tiên nhất định cho cổ đông, như quyền ưu tiên nhận cổ tức hoặc quyền ưu tiên trong việc nhận lại vốn khi có sự cố xảy ra.
Khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của một NHTM, việc sử dụng loại cổ phiếu nào trong phân 9 tích có thể phụ thuộc vào mục tiêu cụ thể của nghiên cứu. Theo Pandey và ctg (2024), với mục tiêu tập trung vào đánh giá sự ổn định và tiềm năng tăng trưởng, việc nghiên cứu các cổ phiếu phổ thông là phù hợp. Vì vậy, để đáp ứng các mục tiêu mà khóa luận đã đặt ra ban đầu, bài viết sẽ tập trung phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu phổ thông của các NHTMCP trên TTCK Việt Nam.2 Giá cổ phiếu Trong thực tế, giá cổ phiếu bao gồm rất nhiều loại như mệnh giá cổ phiếu (par-value), giá trị sổ sách của cổ phiếu (book value) và giá trị thị trường của cổ phiếu (market value). Mỗi loại sẽ có cách định nghĩa khác nhau, dưới đây là sự phân tích chi tiết về mỗi loại này: Mệnh giá cổ phiếu (Par-value) Brealey, Myers và Allen (2014) đã phát biểu rằng mệnh giá là giá trị của chứng khoán do tổ chức phát hành quy định, đó là số tiền mà người nắm giữ sẽ nhận lại khi trái phiếu đáo hạn hoặc đối với cổ phiếu, mệnh giá là giá trị trên mỗi cổ phiếu được ghi trong điều lệ công ty.
Thêm vào đó, Keith và Reilly (2004) đã cho rằng mệnh giá là mức giá tối thiểu mà cổ phiếu có thể được phát hành. Qua đó có thể hiểu rằng mặc dù mệnh giá được ghi trên tờ cổ phiếu, nhưng nó không phản ánh giá trị thực sự của cổ phiếu đó trên TTCK. Thông thường, mệnh giá cổ phiếu được sử dụng để ghi nhận trong sổ sách kế toán của công ty. Mặc dù mệnh giá thường là 10.000 đồng, tuy nhiên giá thị trường có thể cao hơn hoặc thấp hơn nhiều.
Mệnh giá thường chỉ được quan tâm trong quá trình phát hành ban đầu để xác định vốn điều lệ của công ty (Brealey, Myers và Allen 2014). Giá trị sổ sách (Book value) Needles, Powers và Crosson (2011) đã phát biểu, giá trị sổ sách thể hiện giá gốc của một tài sản trừ đi mọi khoản khấu hao lũy kế. Điều này có nghĩa là nó phản ánh giá trị còn lại của tài sản dựa trên các khoản khấu hao đã được ghi nhận theo quy định kế toán. Qua đó, có thể nói giá trị sổ sách cho thấy tài sản hiện có của doanh nghiệp và nó có thể không phản ánh đúng giá trị trên thị trường của cổ phiếu 10 mà chỉ phản ánh đúng định giá tại thời điểm xác định (Bodie, Kane và Marcus 2014).
Điều này bởi vì thị trường thường xuyên điều chỉnh giá cổ phiếu dựa trên sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố nội tại bên trong ngân hàng hay các yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô. Giá thị trị trường (Market value) Saunders, Cornett, và Erhemjamts (2012) đã cho rằng giá thị trường bao gồm giá mở cửa và giá đóng cửa. Trong đó, giá mở cửa là giá mà chứng khoán được giao dịch lần đầu tiên khi mở sàn giao dịch trong một ngày giao dịch. Giá đóng cửa là giá mà giao dịch cuối cùng xảy ra trước khi thị trường đóng cửa.
Theo Brealey, Myers và Allen (2014) đã định nghĩa giá trị thị trường của một cổ phiếu được xác định bởi giá tại thời điểm mà nó giao dịch trên TTCK. Tùy thuộc vào mối quan hệ cung cầu, giá thị trường có thể biến động cao hơn, thấp hơn hoặc bằng với giá trị thực của cổ phiếu đó tại thời điểm giao dịch (Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên 2020). Do đó, có thể nói mối quan hệ cung cầu là yếu tố quyết định giá thị trường của cổ phiếu. Điều này được lý giải rằng nếu có nhiều người muốn mua cổ phiếu hơn là bán, giá cổ phiếu sẽ tăng, trường hợp nếu có nhiều người muốn bán hơn là mua, giá cổ phiếu sẽ giảm.
Có thể thấy rằng giá cổ phiếu thường biến động theo thời gian khi các NĐT mua và bán, dẫn đến sự khác biệt giữa giá thị trường và giá trị thực của cổ phiếu. Do đó, giá cổ phiếu thường không tương ứng hoàn toàn với giá trị thực của công ty. Sự khác biệt giữa giá cổ phiếu trên thị trường và giá trị thực là điều quan trọng để xem xét khi đưa ra quyết định đầu tư. Giá cổ phiếu thấp hơn giá trị thực thường là tín hiệu để mua, trong khi giá cao hơn có thể là dấu hiệu để bán.
Do đó, đối với các NĐT, để có thể đưa ra quyết định đầu tư thông minh và hiệu quả nhất thì việc phân tích giá thị trường là vô cùng quan trọng. Tóm lại, trong khi, mệnh giá (Par value) chỉ được quan tâm vào thời điểm cổ phiếu được phát hành lần đầu ra công chúng nhằm xác định cơ cấu vốn ban đầu của công ty và giá trị sổ sách (Book value) cho thấy hiện giá của doanh nghiệp tại 11 thời điểm được tính toán thì các NĐT quan tâm nhiều hơn đến thị giá cổ phiếu (Đặng Thị Minh Nguyệt và Đỗ Thùy Linh 2023). Giá thị trường hay thị giá cổ phiếu là mức giá mà cổ phiếu được mua bán trên TTCK tại thời điểm nhất định, giá này có thể thay đổi liên tục tùy theo cung và cầu của cổ phiếu trên thị trường. Trong khi đó, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cung và cầu chẳng hạn như tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, các yếu tố kinh tế vĩ mô, thông tin về chính trị và xã hội, hay sự kỳ vọng của NĐT về tương lai của doanh nghiệp.
Giá thị trường của cổ phiếu phản ánh giá trị mà NĐT sẵn sàng trả tại thời điểm đó và được xác định thông qua kết quả khớp lệnh giao dịch trên TTCK. Trong nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu của các NHTMCP, việc sử dụng thị giá hay giá thị trường là hợp lý vì nó phản ánh chính xác giá trị thực tế của cổ phiếu tại mỗi thời điểm, biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường. Thị giá là dữ liệu công khai, dễ thu thập và minh bạch, phản ánh sự kỳ vọng của NĐT về hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lợi của ngân hàng trong tương lai. Đồng thời, thị giá cũng chịu ảnh hưởng từ các yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô và các yếu tố nội tại bên trong ngân hàng, việc nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố này và thị giá cổ phiếu sẽ giúp khóa luận có thể đưa ra các kết luận chính xác nhất.2 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG 2.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) Fama (1970) đã đưa ra lý thuyết thị trường hiệu quả, một khái niệm trong lĩnh vực tài chính và kinh tế.
Theo lý thuyết này, TTCK hoạt động theo cách làm cho mọi thông tin có sẵn được phản ánh chính xác và nhanh chóng vào giá cổ phiếu. Nói cách khác, giá cổ phiếu hiện tại đã phản ánh hoàn toàn và chính xác tất cả các thông tin công khai có sẵn, bao gồm thông tin về hiệu quả tài chính, tin tức kinh tế, thông tin ngành và các yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu (Pandey và ctg 2024). Do đó, EMH cho rằng việc phân tích và dự đoán dựa trên dữ liệu quá khứ không mang lại lợi ích vì mọi thông tin đã được thị trường thể hiện vào giá cổ phiếu 12 rồi. Vì vậy, không có cách nào để các NĐT có thể kiếm lợi nhuận từ việc sử dụng thông tin đã biết trước.
Fama (1970) cũng đã chia thị trường thành ba dạng bao gồm thị trường dạng yếu, trung bình và mạnh. Trong đó, thị trường dạng yếu cho rằng tất cả thông tin đã được phản ánh hoàn toàn trong giá cổ phiếu, không có cơ hội thu lợi nhuận dựa trên thông tin đã có. Thị trường dạng trung bình cho rằng nhà NĐT không thể kiếm lợi nhuận từ cả thông tin quá khứ lẫn thông tin mới vì chúng được phản ánh ngay lập tức trong giá cổ phiếu. Đối với thị trường dạng mạnh, giá cổ phiếu phản ánh toàn bộ thông tin có sẵn, bao gồm cả thông tin mật trong nội bộ công ty.
Tóm lại, lý thuyết thị trường hiệu quả nhấn mạnh rằng giá cổ phiếu được giao dịch trên TTCK là giá hợp lý, mọi thông tin ảnh hưởng đến giá đã được phản ánh hết vào giá cổ phiếu. Điều này có nghĩa là không có cách nào để các NĐT có thể kiếm lợi nhuận bằng cách đơn giản là dự đoán xu hướng giá cổ phiếu từ thông tin công khai.