CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH CÓ TRÁCH NHIỆM 1. Cơ sở lý luận về du lịch có trách nhiệm 1.1 Khái niệm về nhận thức Nhận thức là một thuật ngữ đề cập đến các quá trình tinh thần liên quan đến việc đạt được kiến thức và hiểu biết, mang tính trừu tượng nên mỗi ngành khoa học có sự tiếp cận, ứng dụng khác nhau. Có rất khái niệm khác nhau về nhận thức.
Theo Ulric Neisser: “Nhận thức là những quá trình mà đầu vào của giác quan được biến đổi, giảm bớt, xây dựng, lưu trữ, phục hồi và sử dụng”. Theo từ điển Tiếng Việt (Phê, 1992): “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện vào trong tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thế giới quan hoặc kết quả nghiên cứu của quá trình đó”. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể”. Theo quan điểm của C.
Mac và Ănghen: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc của con người. Sự phản ánh đó không phải là một hành động nhất thời, máy móc, giản đơn và thụ động mà là một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo”. Lênin lại cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người nhưng không phải là sự phản ánh đơn thuần, trực tiếp hoàn toàn. Quá trình này là cả một chuỗi những sự trừu tượng, sự cấu thành và sự hình thành nên các khái niệm, quy luật và chính các khái niệm, quy luật này lại bao quát một cách có điều kiện gần đúng tính quy luật phổ biến của thế giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển”.
Như vậy, nhận thức là quá trình phát triển tư duy, trí tuệ của con người về sự vật, hiện tượng khách quan, nó trải qua quá trình từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp lên cao. Vì vậy, con người sống trong thế giới quan cần có cái nhìn về hiện thực khách quan, phát triển khả năng về nhận thức, hiểu và hành động phù hợp để có các hành vi tích cực hoặc tiêu cực đối với đối tượng đó. 19 | P a g e Trong phạm vi của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu về vấn đề nhận thức của sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một về hoạt động phát triển du lịch có trách nhiệm, xem họ hiểu và nhận biết thế nào về du lịch và các hoạt động du lịch có trách nhiệm. Nhận thức là khởi nguồn của các hành vi du lịch có trách nhiệm.
Nếu có nhận thức đúng về hoạt động du lịch thì sẽ có các hành động thiết thực và cụ thể làm hạn chế mức thấp nhất tổn hại đến cảnh quan, môi trường của các điểm đến (của các chủ thể tham gia) và mang lợi ích tối đa về kinh tế xã hội và môi trường cho chính mình, cho cộng đồng cư dân của các điểm đến. Nhận thức của cá nhân cơ bản phụ thuộc giáo dục, trình độ nghề nghiệp, đồng thời với sự quan tâm và tần suất tiếp xúc với hoạt động du lịch, hoạt động chuyên môn. Nhận thức càng cao, sâu, rộng thì thể hiện trách nhiệm càng cao. Nhận thức của tập thể, tổ chức hay cộng đồng phụ thuộc vào nhận thức của từng cá nhân đồng thời tùy thuộc vào sự gắn kết của tổ chức và định hướng dẫn dắt thông qua quá trình lâu dài thực hiện các chương trình nhận thức về trách nhiệm của từng thành viên trong tổ chức.
Nâng cao nhận thức là cơ sở quyết định nâng cao trách nhiệm trong hoạt động du lịch, bao gồm nhận thức của chủ doanh nghiệp, người lao động, dân cư và du khách. Nhận thức và phát triển du lịch có trách nhiệm là một phạm trù khác nhau nhưng có mối tác động qua lại với nhau. Khi nhận thức là đúng và đủ sẽ dẫn đến hành động du lịch có trách nhiệm cao; ngược lại, hoạt động du lịch có trách nhiệm cũng sẽ giúp nâng cao nhận thức, ý thức cộng đồng. Hai yếu tố này luôn cần được phát triển, tồn tại song song với nhau, nhằm hướng đến sự phát triển bền vững dựa trên cân bằng lợi ích kinh tế và bảo tồn.
Các giai đoạn của quá trình nhận thức Nhận thức thể hiện phản ánh thế giới khách quan, vì vậy có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành các giai đoạn: Giai đoạn 1: Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy. Trực quan sinh động bao gồm các hình thức sau: Cảm giác là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hóa những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức.
Lênin viết: “Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. 20 | P a g e Tri giác là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật khi sự vật đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan con người. Tri giác là sự tổng hợp các cảm giác. So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn.
Trong tri giác chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng có tính trực quan của sự vật. Biểu tượng là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giác quan. Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp. Bởi vì, nó được hình thành nhờ có sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sự tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp.
Cho nên biểu tượng phản ánh được những thuộc tính đặc trưng nổi trội của các sự vật. Như vậy, nhận thức cảm tính có đặc điểm: là giai đoạn nhận thức trực tiếp sự vật, phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện cơ quan cảm giác, kết quả thu nhận được tương đối phong phú, phản ánh được cả cái không bản chất, ngẫu nhiên và cả cái bản chất, tất nhiên. Hạn chế của nó là, chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong của sự vật. Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính.
Giai đoạn 2: Nhận thức lý tính (Tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận. Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật. Vì vậy, các khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển.
Phán đoán là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với nhau để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng. Ví dụ: “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng” là một phán đoán. Bởi vì có sự liên kết khái niệm “dân tộc” “Việt Nam” với khái niệm “anh hùng”. Suy luận là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới.
Thí dụ, nếu liên kết phán đoán “đồng dẫn điện” với phán đoán “đồng là kim loại” ta rút ra được tri thức mới “mọi kim loại đều dẫn điện”. Tùy theo sự kết hợp phán đoán theo trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với phổ biến mà người ta có được hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch. 21 | P a g e Từ ba hình thức trên ta có thể rút ra giai đoạn nhận thức lý tính có đặc điểm sau: Là giai đoạn nhận thức gián tiếp, trừu tượng, khái quát sự vật. Nhận thức lý tính phụ thuộc vào năng lực tư duy của con người.
Giai đoạn 3: Nhận thức trở về thực tiễn Nhận thức trở về thực tiễn được hiểu là tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai. Nói một cách dễ hiểu thì thực tiễn là một trong các giai đoạn của quá trình nhận thức có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được. Vì vậy, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, cơ sở động lực, muc đích của nhận thức. Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích và cải tạo thế giới mà còn có chức năng định hướng thực tiễn.
Có thể thấy, quá trình nhận thức của con người đi từ cảm nhận về thế giới, sự vật hay hiện tượng, sau đó đúc kết rút ra các khái niệm mang tính suy luận hay phán đoán và cuối cùng nó được đúc kết và ứng nghiệm vào trong thực tiễn của thế giới quan.3 Các mức độ nhận thức Theo Benjamin S. Ghi nhớ Hình 1. Thang các mức độ nhận thức của Benjamin S. Bloom Ghi nhớ (Remembering): ghi nhớ là khả năng khôi phục, ghi nhận và nhớ lại kiến thức có liên quan.
Hay nói cách khác, ghi nhớ là khi sinh viên có thể nhắc lại các thông tin, kiến thức đã học. - Hiểu (Understanding): Hiểu là khả năng diễn đạt ý nghĩa của thông điệp bằng miệng, văn bản hay hình ảnh. Hiểu không chỉ đơn thuần là nhắc lại một thông điệp 22 | P a g e nào đó. Chúng ta cần thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua diễn giải, nêu gương, phân loại, tóm tắt, suy luận, so sánh và giải thích.
- Ứng dụng (Application): Ứng dụng là năng lực vận dụng các thông tin hiểu biết được vào những hoàn cảnh mới, tình huống mới, điều kiện mới, giải quyết các vấn đề đặt ra. - Áp dụng (Applying): Áp dụng là khả năng vận dụng các thông tin, kiến thức đã học vào một tình huống, thí nghiệm nào đó.