Đặt vấn đề Cây Ba kích tím ( Morinda officinalis How ) là một cây thuốc quý trong y học cổ truyền. Củ của cây ba kích được sử dụng như một loại dược liệu có tác dụng bổ thận âm, bổ thận dương tăng cường gân cốt, tăng sức đề kháng sức dẻo dai và trừ phong thấp. Dịch chiết của củ cây ba kích có tác dụng giảm huyết áp tác dụng nhanh với các tuyến cơ năng, bổ trí não, giúp ăn và ngủ ngon. Do nhu cầu sử dụng dược liệu tăng mạnh trong thời gian gần đây nên cây Ba Kích Tím bị khai thác ồ ạt, dẫn đến nguồn nguyên liệu đang trở nên cạn kiệt.
Mặt khác, vùng phân bố của ba kích bị tàn phá nghiêm trọng khiến loài cây này rơi vào tình trạng gần như tuyệt chủng và được đưa vào sách đỏ Việt Nam cần phải được bảo vệ (nghị định số 48/2002/NĐ-CP). Việc đáp ứng nhanh và bền vững nguồn giống ba kích có chất lượng tốt đang là yêu cầu cấp bách. Nguồn cung cấp cây giống ba kích hiện nay chủ yếu bằng phương pháp giâm cành, nhưng hệ số nhân rất thấp (chỉ đạt 0,61/năm); chất lượng giống lại không cao. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì việc ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật (in vitro) trong nhân giống đã trở nên phổ biến.
Nuôi cấy in vitro tạo ra những giống cây trồng sạch bệnh, chất lượng tốt, đồng đều cao và hệ số nhân lớn trong thời gian ngắn. Giải quyết được phần nào khó khăn trong nhân giống hữu tính cho đối tượng cây trồng này, góp phần bảo tồn và phát triển giống cung cấp nguyên liệu cho thị trường tiêu thụ và ngành y dược. Mục đích và yên cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Đề tài nhằm nghiên cứu xây dựng cải tiến quy trình nhân giống cây ba kích tím bằng phương pháp in vtiro có hệ số nhân giống cao và dễ ứng dụng sản xuất.
Yêu cầu của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của nồng độ, thời gian chất khử trùng HgCl2 0.1mg/l đến khả năng tạo vật liệu vô trùng cho nuôi cấy in vtiro. - Xác định được ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng auxin và cytokinin đến khả năng tái sinh chồi cây Ba kích tím (Morinda officinalis How ) - Xác định được ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng auxin và cytokinin đến khả năng nhân nhanh chồi cây Ba kích tím (Morinda officinalis How ) - Xác định được ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng auxin và cytokinin đến khả năng ra rễ cây Ba kích tím (Morinda officinalis How ) 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của giống cây ba kích tím bằng phương pháp in vitro.
- Là tài liệu tham khảo thêm cho việc nghiên cứu và sản xuất tại các cơ sở. Ý nghĩa thực tiễn Góp phần nhân nhanh tạo số lượng lớn cây giống phục vụ mục tiêu bảo tồn loài dược liệu quý theo Nghị định số 48/2002/NĐ-CP, đảm bảo chất lượng cung cấp nguyên liệu cho việc phục hồi và phái triển lại cây ba kích tím 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm sinh thái và phân bố Cây Ba kích tím (Morinda officinalis How) thuộc họ cà phê Rubioceae. Ba kích tím hình thái cây Ba kich tím Cây thường xanh sống lâu năm, leo cuốn vào cây khác hoặc tự cuốn tạo thành bụi lớn.
Cây ba kích có lá mọc đối, khi non màu xanh hoặc màu tím, khi già màu xanh, cuống lá dài từ 4 - 8mm. Lá kèm màu nâu dạng mo, ôm thân. Phiến lá thường hình mác thuôn nhọn, hình ellip thuôn dài nhọn hoặc hình mác ngược hay hình trứng. Hiếm khi thấy hình mác hẹp dài phiến lá dài 3 - 16cm, rộng 1,9 - 6,5 cm đầu lá thuôn nhọn hay nhọn sắc, gốc lá nhọn hình nêm, tròn hay gần bằng, có khi hơi lõm dạng tim.
Rễ dạng trụ tròn phân nhánh nhiều cấp thành bộ phận rễ, phân bố tỏa tròn xung quanh gốc, nhìn ngoài có vết thắt từng đoạn, thịt củ dày, nạc, màu tím hoặc trắng ngà. Rễ cây Ba kích - Cành non dạng bốn cạnh, màu tím hoặc xanh, có lông, khi già tròn không lông. - Cụm hoa chủ yếu là xim tán kép, ít khi là cụm hoa tán đơn. Ở cụm sim tán kép, hoa hầu như không cuống, cụm tán đơn hoa có cuống rõ ràng.
Hoa của cây nhỏ ống đài dạng chén, có 3 - 4 răng nhỏ không đều. - Tràng màu trắng, ống tràng dài 2 - 3mm, họng có lông, ở đầu có 3 - 4 cánh tràng dạng tam giác nhỏ. - Nhị 3 - 4 bao phấn nhọn đầu, hai ô, đính lưng, chỉ nhị cực ngắn. Vòi nhụy ngắn, đầu nhụy hai thùy.
Hoa Ba Kích - Cụm quả kép do nhiều quả dính liền với nhau đính trên các cuống xim nhỏ tạo thành. - Ở cụm quả đơn, quả có cuống rõ ràng. Mỗi quả có 4 hạt. - Hạt có lông màu hồng, khi khô màu trắng.
4 Mùa hoa tháng 4 - 5, quả chín tháng 10 - 11, cá biệt có thể quả chín từ tháng 9 hoặc kéo dài tới đầu tháng 12-1 hay 3. Cây ưa ẩm, ưa sáng và có khả năng chịu bóng, nhất là khi còn nhỏ. Ba Kích thường mọc tự nhiên trong các kiểu rừng thường xanh nhưng đã trở nên thứ sinh, bao gồm cả rừng xen tre nứa và rừng non phục hồi sau nương rẫy. Độ cao dưới 400m, cá biệt có thể tới 1000m.
Đất ở nơi có Ba kích thường còn tương đối mầu mỡ, tơi xốp, trung tính hoặc hơi chua. Cây sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, ra hoa quả hàng năm. Tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt hoặc mọc cụm chồi từ các phần còn lại sau khi chặt, phần rễ còn sót lại khi khai thác cũng có thể nảy mầm thành cây mới. Yêu cầu về nhiệt độ trung bình năm 22,5oC - 23,1oC.
Độ ẩm không khí trung bình năm từ 82 - 89%. Ba kích mọc tự nhiên trên các loại đất feralit đỏ - vàng hay vàng - đỏ, tầng đất thịt ở trên tương đối dày, có kết cấu tượng hạt và kết vón nhưng không có đá ong chặt. Đất luôn ẩm hơi chua, pH từ 3,6 đến 4,1, hàm lượng mùn 3,78 - 5,91%. Hàm lượng tổng số các chất trong 100g đất lần lượt là: nitơ 0,24 - 0,34mg, lân 0,7 - 1,5mg và kali 7mg.
Ngoài ra, Ba Kích có thể sống trên đất feralit đỏ sẫm. Tầng đất mặt ở đây tương đối dày (tới 1m), thành phần cơ giới nặng, cấu tạo hạt chắc và tơi xốp, pH hơi chua đến trung tính 4,5 - 6, hàm lượng mùn ở mức trung bình 3 - 4%. Tại Hoành Bồ - Quảng Ninh và Sơn Động - Bắc Giang còn thấy Ba kích mọc trên đất bồi tụ, pha cát ở chân núi. Loại đất này thường nghèo dinh dưỡng hơn so với loại đất trên.
Chú ý: Ba Kích không thích hợp với đất phù sa và các loại đất khác ở đồng bằng. 5 Ánh sáng: ánh sáng là nhân tố quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng và phát triển của Ba Kích. Trong tự nhiên cây mọc xen lẫn với các loài cây khác dưới tán rừng, độ che tán 20 - 60%. Tuy nhiên để sinh trưởng phát triển được, cây thường leo lên các cây bụi hay cây gỗ nhỏ để tiếp cận với ánh sáng.
Cây được chiếu sáng đầy đủ ra hoa quả nhiều hơn và nhiều hạt chắc hơn cây bị che bóng. Ba Kích mọc hoang ở vùng rừng thứ sinh, trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, dưới tán một số kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, nay trở nên thứ sinh gồm cây bụi và dây leo chằng chịt hoặc ở bờ nương rẫy. Độ cao phân bố khoảng 100m so với mặt biển. Càng lên cao cây càng thưa dần, đến độ cao khoảng 100m thì hầu như hiếm gặp.
Có nhiều nhất ở các tỉnh Quảng Ninh, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Giang, Lạng Sơn. Khái niệm và cơ sở khoa học lịch sử của nuôi cấy mô tế bào thực vật 2. Khái niệm Nuôi cấy mô tế bào thực vật là khái niệm chung cho tất cả các quá trình nuôi cấy từ nguyên liệu thực vật trên môi trường nhân tạo trong điều kiện vô trùng Nhân giống in vitro hay còn gọi là vi nhân giống thường sử dụng cho việc ứng dụng các kỹ thuật nuôi cấy mô để nhân giống thực vật, sử dụng các bộ phận khác nhau của thực vật với kích thước nhỏ. Trong thực tế, các nhà vi nhân giống thường dùng thuật ngữ nuôi cấy mô và nhân giống in vitro hay nuôi cấy in vitro thay thế cho nhau để chỉ các phương thức nhân giống thực vật trong điều kiện vô trùng với các mục đích khác nhau.
Lịch sử phát triển của nuôi cấy mô tế bào thực vật Haberland (1902)là người đầu tiên đề xuất ra phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật để chứng minh tính toàn năng của tế bào thực vật. Theo ông mỗi tế bào bất kỳ cơ thế sống đều mang toàn bộ thông tin di truyền của loài 6 đó. Vì vậy ghặp điều kiện thích hợp mỗi tế bào sẽ phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh. Ông đã thí nghiệm với tế bào khỉ khổng và thành công.
Điều này đã làm cho những nhà hoa học thời bấy giờ mất hy vọng về việc sây dựng phương pháp nuôi cấy mô tế bào trong 1 thời gian dài. Tuy nhiên sau đó Garrison(1904-1907) đã nuôi được tế bào thần kinh của ếch trong huyết tương chưng minh khả năng nuôi cấy mô tế bào động vật nhân tạo. Trên cơ sở thành công của các nhà khoa học nuôi cấy mô tế bào động vật các nhà khoa học nuôi cấy mô tế bào thực vật trên môi trường dinh dưỡng tự nhiên nhưng khong thành công. Năm 1922 Robins và Kotte đã thành công nuôi cấy đầu rễ trong vòng 12 ngày.
Từ nhưng năm 30 của thế kỉ 20 phương phái nuôi cấy tế bào đã mang nhưng nét của nuôi cấy mô tế bào hiện đại với kỹ thuật ko khác với hiện nay nhiều lắm. Trong thời gian này White nhà bác học người Mỹ và Ghautheret (Pháp) đã có nhiều đóng ghóp trong việc nghiên cứu môi trường nuôi cấy, nhiều môi trường đến nay vẫn được sử dụng.