Tổng quan nghiên cứu

Nguồn lợi cá nổi nhỏ đóng vai trò trụ cột trong cơ cấu ngành khai thác thủy sản biển Việt Nam, chiếm tỷ trọng từ 60% đến 80% tổng sản lượng khai thác cá biển hàng năm. Tại vùng biển miền Trung, áp lực khai thác gia tăng liên tục khi số lượng tàu thuyền có công suất trên 90 CV tăng vọt từ 2.068 chiếc năm 2010 lên 7.466 chiếc năm 2017, nâng tổng công suất toàn vùng lên 3.974 nghìn CV và đẩy sản lượng khai thác đạt 356 nghìn tấn/năm. Nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ dưới 50 mét nước đang đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng do các phương tiện khai thác quy mô nhỏ, tự phát và thiếu sự đồng bộ trong công tác kiểm soát.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hải dương học tập trung giải quyết bài toán xác định quy luật phân bố không gian và biến động theo 12 tháng của nguồn lợi cá nổi nhỏ tại vùng biển miền Trung (phạm vi từ 11°N đến 17°N, từ dải bờ biển đến 111°E và mở rộng tới 115°E thuộc Biển Đông). Nghiên cứu phân chia khu vực thành hai tiểu vùng: vùng biển gần bờ và vùng biển ngoài khơi, lấy ranh giới phân định là kinh tuyến 109,5°E (tương đương đường đẳng sâu 200 mét). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn cốt lõi của công trình là khắc phục triệt để các hạn chế tĩnh của phương pháp truyền thống, xây dựng bức tranh biến động chi tiết 12 tháng trong năm 2017, cung cấp cơ sở định lượng về sinh khối và năng suất sinh học nhằm quản lý khai thác bền vững trữ lượng cá nổi nhỏ vốn chiếm tới 82,5% tổng nguồn lợi cá biển toàn vùng miền Trung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chuyển hóa năng lượng trong hệ sinh thái biển qua chuỗi thức ăn thẳng: Năng lượng bức xạ mặt trời qua quang hợp đi vào Thực vật nổi, tiếp tục chuyển sang Động vật nổi qua quá trình dinh dưỡng và tích lũy vào Cá nổi nhỏ ở bậc dinh dưỡng cao hơn. Mô hình toán học lõi là mô hình chu trình chuyển hóa Nitơ 7 hợp phần sinh thái (gồm Thực vật nổi, Động vật nổi, Chất hữu cơ lơ lửng, Chất hữu cơ hòa tan, Amoni, Nitrit, Nitrat) được phát triển và hiệu chỉnh phù hợp với điều kiện nhiệt đới gió mùa của biển Việt Nam.

Hệ thống lý thuyết tích hợp các khái niệm học thuật cơ bản: Sinh khối tức thời (khối lượng sinh vật tại một thời điểm xác định), Năng suất sinh học riêng (hệ số P/B phản ánh tốc độ sinh trưởng và đổi mới sinh khối), Hiệu suất sinh thái (tỷ lệ chuyển hóa năng lượng giữa các bậc dinh dưỡng kế tiếp), Cường độ bức xạ quang hợp (PAR, chiếm 41% tổng bức xạ tự nhiên trên mặt biển) và Quần xã sinh vật nổi (nguồn thức ăn nguyên thủy quyết định sức tải sinh học của ngư trường).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp của nghiên cứu bao gồm:

  • Bộ dữ liệu nhiệt độ biển 3 chiều (3D) trung bình tháng năm 2017 từ Dự án Movimar do Viện Nghiên cứu Hải sản cung cấp, bao quát 21 tầng độ sâu thẳng đứng từ 0 đến 500 mét.
  • Trường độ sâu địa hình Biển Đông trích xuất từ cơ sở dữ liệu toàn cầu ETOPO2 độ phân giải 2 phút góc.
  • Trường bức xạ tự nhiên trên mặt biển được tính toán chi tiết theo vĩ độ địa lý và các tham số thiên văn học.

Mạng lưới tính toán được thiết lập với cỡ mẫu gồm hàng trăm điểm nút không gian có độ phân giải 0,25 độ kinh vĩ (khoảng 15 hải lý) trên 21 tầng thẳng đứng theo tiến trình 12 tháng năm 2017. Thuật toán mô phỏng sử dụng phần mềm chuyên dụng NiCyMod (Nitrogen Cycle Model), giải hệ 7 phương trình vi phân thường phi tuyến bằng phương pháp lặp Runge-Kutta ở trạng thái dừng với tiêu chí hội tụ nghiệm dừng epsilon đạt 10^-6. Lý do lựa chọn phương pháp năng lượng kết hợp mô hình chu trình Nitơ là khả năng lượng hóa chi tiết dòng vật chất hữu cơ theo từng ô lưới và từng tháng, khắc phục việc áp đặt hệ số khai thác cố định 40% hoặc 50% vốn mang tính chủ quan của các phương pháp thủy âm và diện tích truyền thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích mô hình và chuỗi số liệu năm 2017 đã xác lập các phát hiện quan trọng:

  1. Sinh khối thực vật nổi và động vật nổi có sự phân hóa rõ rệt theo tầng nước và mùa vụ. Trong vụ cá nam, sinh khối thực vật nổi tầng mặt đạt trung bình 898 mg-tươi/m3 (dao động từ 821 đến 959 mg-tươi/m3), cao hơn 4,78% so với mức trung bình 857 mg-tươi/m3 của vụ cá bắc. Sinh khối động vật nổi tầng mặt đạt 129 mg-tươi/m3 trong vụ cá nam và 128 mg-tươi/m3 trong vụ cá bắc, tập trung mật độ cao nhất ở lớp nước trên 25 mét.

  2. Năng suất sơ cấp tinh của thực vật nổi ven bờ (phía tây kinh tuyến 109,5°E) đạt cực đại vào tháng 7 với mức 60 đến 150 mgC/m3/ngày, vượt 25% so với mức 60 đến 120 mgC/m3/ngày trong tháng 1. Năng suất thứ cấp của động vật nổi duy trì từ 0,1 đến 1,3 mgC/m3/ngày trong tháng 7 và từ 0,25 đến 1,15 mgC/m3/ngày trong tháng 1, giảm dần từ vùng ven bờ ra khơi xa.

  3. Các hệ số sinh thái được xác định chuẩn xác: Hiệu suất chuyển hóa bức xạ tự nhiên sang thực vật nổi (H2) đạt trung bình năm 0,0158 (1,58%); hiệu suất chuyển hóa thực vật nổi sang động vật nổi (H4) đạt 0,0088; hiệu suất chuyển hóa từ động vật nổi sang cá nổi nhỏ (H6) đạt 0,0062. Hệ số P/B ngày của cá nổi nhỏ (H5) đạt trung bình 0,0047 ngày-1.

  4. Bức tranh phân bố chỉ ra các ngư trường trọng điểm tập trung mật độ cá nổi nhỏ rất cao: dải ven bờ Quảng Ngãi - Bình Định, Phú Yên - Khánh Hòa và các bãi cá khơi sâu gồm bãi cá đông bắc Đà Nẵng (độ sâu 100-300 mét, trữ lượng trên 38 nghìn tấn/năm), bãi cá đông nam Quy Nhơn (trữ lượng 27 nghìn tấn/năm) và bãi cá Hòn Gió - Thuận An (trữ lượng khoảng 52 nghìn tấn/năm).

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về sinh khối và năng suất sinh học trong vụ cá nam (mùa gió Tây Nam) bắt nguồn trực tiếp từ điều kiện hải văn và động lực biển đặc thù. Hiện tượng nước trồi xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 9 tại vùng biển ven bờ Khánh Hòa - Bình Thuận đã vận chuyển khối nước tầng dưới giàu dưỡng chất lên tầng mặt, kích thích thực vật nổi phát triển bùng nổ kết hợp nền nhiệt độ 27°C đến 30,2°C và cường độ bức xạ quang hợp PAR đạt 151,6 đến 155,8 W/m2. Trong mùa đông, hai luồng hải lưu xoáy thuận hợp nhất tại khu vực 16°N - 18°N tạo dòng chảy ven bờ cường hóa với vận tốc 30 đến 40 cm/s, vận chuyển thức ăn duy trì các bãi cá phía bắc.

So sánh với các nghiên cứu thủy âm truyền thống trước năm 2007 vốn chỉ ước tính trữ lượng tĩnh toàn vùng biển miền Trung đạt khoảng 595,6 nghìn tấn/năm với khả năng khai thác cố định 297,8 nghìn tấn/năm, phương pháp mô hình hóa sinh thái năng lượng đã làm rõ sự biến thiên trữ lượng theo từng tháng. Toàn bộ dữ liệu được trực quan hóa sinh động qua các bản đồ phân bố 2 chiều dạng lưới 0,25 độ và các mặt cắt nhiệt - sinh khối thẳng đứng trên 21 tầng nước, giúp định vị chính xác vùng tập trung nguồn lợi theo thời gian thực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và khai thác bền vững nguồn lợi cá nổi nhỏ miền Trung, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Thiết lập hạn ngạch khai thác cá nổi nhỏ theo từng tháng và từng tiểu vùng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành, mục tiêu khống chế tổng sản lượng đánh bắt không vượt quá năng suất sinh học tự nhiên (khoảng 200 nghìn đến 290 nghìn tấn/năm), triển khai đồng bộ từ năm 2019 đến năm 2025.

  2. Chuyển dịch cơ cấu đội tàu đánh bắt do Chi cục Thủy sản các tỉnh miền Trung quản lý, thực hiện ngừng cấp phép đóng mới tàu ven bờ dưới 90 CV, phấn đấu nâng tỷ lệ tàu có công suất trên 90 CV đạt trên 65% để đẩy mạnh khai thác tại các bãi cá ngoài khơi xa kinh tuyến 109,5°E và vùng nước sâu Biển Đông trong lộ trình 3 năm.

  3. Xây dựng phần mềm dự báo ngư trường điện tử định kỳ theo tháng dựa trên mô hình NiCyMod kết hợp dữ liệu viễn thám Movimar do Viện Nghiên cứu Hải sản chủ trì, cung cấp thông tin dự báo ngư trường chính xác tới 85% cho các nghiệp đoàn khai thác lưới vây, lưới rê trước mỗi mùa vụ.

  4. Ban hành quy chế cấm đánh bắt có thời hạn tại các vùng sinh sản ven bờ từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm (thời điểm cá nục, cá trích, cá chuồn áp lộng đẻ trứng) tại các đầm phá, vịnh ven bờ từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận, do lực lượng Kiểm ngư phối hợp chính quyền địa phương tuần tra xử phạt nghiêm ngặt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản (Tổng cục Thủy sản, Chi cục Thủy sản các tỉnh duyên hải miền Trung): Sử dụng bộ số liệu sinh khối và năng suất theo 12 tháng để xây dựng kế hoạch phân bổ hạn ngạch đánh bắt, cấp phép phương tiện và quản lý quy hoạch ngư trường bền vững.

  2. Các viện nghiên cứu và chuyên gia hải dương học: Tiếp cận phương pháp luận ứng dụng mô hình chu trình Nitơ 7 biến và lý thuyết chuyển hóa năng lượng để mở rộng nghiên cứu sang các đối tượng hải sản khác hoặc các vùng biển khác như vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Hải dương học, Môi trường biển, Thủy sản: Sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật tham khảo chuẩn mực về quy trình xử lý số liệu nhiệt 3D Movimar, mô hình toán sinh thái và thuật toán Runge-Kutta.

  4. Doanh nghiệp và chủ tàu khai thác thủy sản xa bờ: Tham khảo bản đồ phân bố các bãi cá trọng điểm (Hòn Gió - Thuận An, đông bắc Đà Nẵng, đông nam Quy Nhơn) để tối ưu hóa hải trình, tiết kiệm 15% đến 20% chi phí nhiên liệu dò tìm và nâng cao sản lượng khai thác.

Câu hỏi thường gặp

  1. Phương pháp chuyển hóa năng lượng có ưu điểm gì vượt trội so với phương pháp thủy âm? Phương pháp chuyển hóa năng lượng mô phỏng nguồn thức ăn nguyên thủy qua chuỗi dinh dưỡng, cho phép xác định biến động sinh khối và năng suất chi tiết theo từng tháng và từng ô lưới tọa độ 0,25 độ kinh vĩ, khắc phục việc chỉ đưa ra một con số trữ lượng tĩnh trung bình năm với hệ số khai thác ước lệ 40% đến 50% của phương pháp thủy âm.

  2. Hiện tượng nước trồi tác động như thế nào đến nguồn lợi cá nổi nhỏ tại vùng biển miền Trung? Nước trồi xuất hiện mạnh từ tháng 7 đến tháng 9 tại khu vực ven bờ Ninh Thuận - Bình Thuận đưa khối nước lạnh giàu muối dinh dưỡng lên tầng mặt, thúc đẩy năng suất thực vật nổi đạt đỉnh 150 mgC/m3/ngày, tạo nguồn thức ăn dồi dào thu hút các đàn cá nục, cá trích, cá cơm tập trung với mật độ cao.

  3. Tại sao sinh khối sinh vật nổi có xu hướng suy giảm mạnh theo độ sâu cột nước? Cường độ bức xạ quang hợp suy giảm theo hàm mũ khi đi qua cột nước, khiến ánh sáng chỉ đạt tối ưu ở độ sâu trên 25 đến 50 mét. Dưới tầng 100 mét, ánh sáng suy giảm dưới ngưỡng 0,03 cal/cm2 làm ngừng trệ quang hợp, khiến sinh khối thực vật nổi giảm từ 898 mg-tươi/m3 ở tầng mặt xuống còn 762 mg-tươi/m3.

  4. Phần mềm NiCyMod xử lý những loại dữ liệu đầu vào nào để tính toán trữ lượng cá? NiCyMod tiếp nhận 4 nhóm dữ liệu: Trường 3D nhiệt độ nước biển 21 tầng từ Dự án Movimar, trường 2D độ sâu ETOPO2 độ phân giải 0,25 độ, trường bức xạ tự nhiên PAR và hệ thống 45 tham số sinh thái - điều khiển mô hình chu trình Nitơ được chuẩn hóa cho vùng biển miền Trung.

  5. Ngư dân có thể khai thác thông tin từ luận văn để tăng hiệu quả đánh bắt như thế nào? Ngư dân có thể định vị các bãi cá khơi có trữ lượng lớn đã được xác định tọa độ chính xác như bãi cá đông bắc Đà Nẵng (trữ lượng trên 38 nghìn tấn/năm) hoặc bãi cá Hòn Gió - Thuận An (52 nghìn tấn/năm), kết hợp lịch di cư mùa vụ để lựa chọn ngư cụ lưới vây, lưới kéo phù hợp.

Kết luận

  • Luận văn đã ứng dụng thành công phương pháp chuyển hóa năng lượng với lõi là mô hình chu trình Nitơ 7 hợp phần NiCyMod để đánh giá định lượng phân bố không gian và biến động 12 tháng của nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung.
  • Xác định chi tiết sinh khối thực vật nổi tầng mặt đạt từ 857 đến 898 mg-tươi/m3 và sinh khối động vật nổi đạt từ 128 đến 129 mg-tươi/m3, chứng minh tiềm năng dinh dưỡng vượt trội của vụ cá nam so với vụ cá bắc.
  • Thiết lập hệ thống chỉ số sinh thái đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới với hiệu suất chuyển hóa bức xạ H2 đạt 0,0158, hiệu suất chuyển hóa sang cá nổi nhỏ H6 đạt 0,0062 và hệ số P/B ngày của cá đạt 0,0047 ngày-1.
  • Định vị chính xác các bãi cá trọng điểm ven bờ và khơi sâu có trữ lượng lớn từ 27 nghìn đến 52 nghìn tấn/năm, cung cấp luận cứ khoa học để quy hoạch lại không gian khai thác biển.
  • Đóng góp bước đột phá về phương pháp luận đánh giá trữ lượng hải sản tại Việt Nam, kết nối dữ liệu hải văn vật lý với động thái sinh thái học phục vụ trực tiếp cho chiến lược kinh tế biển xanh.

Trong giai đoạn tiếp theo, mô hình cần được tích hợp liên hoàn với các mô hình thủy động lực học 3D để tự động hóa dự báo ngư trường hàng tuần. Các nhà khoa học và cơ quan quản lý hãy cùng thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản lý nghề cá bền vững.