Chương 1 TỔNG QUAN NGUỒN LỢI CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG 1.1 Giới thiệu vùng biển miền Trung Theo Tổng cục Thủy sản, biển Việt Nam được chia thành 5 ngư trường lớn: (I) - vịnh Bắc Bộ, (II) - miền Trung, (III) - Đông Nam Bộ, (IV) - Tây Nam Bộ và (V) - vùng biển xa bờ (hình 1. Trừ vùng V, hoạt động khai thác hải sản trên các vùng biển được chia thành nghề cá ven bờ và nghề cá ngoài khơi dựa vào độ sâu của vùng biển, ranh giới phân chia là đường đẳng sâu 30m, riêng VBMT (vùng II) là 50m. Mùa vụ khai thác gồm: vụ cá bắc (tháng 11 đến tháng 4 năm sau ở vùng I, tháng 10 đến tháng 3 năm sau ở các vùng khác) và vụ cá nam (các tháng còn lại) tương ứng với hai mùa gió: mùa gió Đông Bắc và mùa gió Tây Nam [1, 34].1: Phân chia ngư trường trên vùng biển Việt Nam [1] 1.1 Vị trí địa lý và địa hình vùng biển miền Trung Vùng biển nghiên cứu trọng tâm của luận văn có giới hạn từ 11oN đến 17oN và từ bờ biển các tỉnh miền Trung đến 111oE – hình 1. Đây chính là vùng II – VBMT trong phân chia ngư trường của Tổng cục Thuỷ sản trên đây.
VBMT có 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thềm lục địa rất hẹp, đường đẳng sâu 50 m hầu như áp sát bờ và phần biển nông không quá 200 m có diện tích không đáng kể (trừ phần phía bắc). Đây là vùng biển có ít sông đổ ra, lưu lượng nhỏ, bờ biển bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra tạo thành nhiều vũng vịnh, đầm phá. Điều này phản ánh tính chất đại dương toàn vùng biển.2: Vùng biển miền Trung (vùng II) và địa hình đáy Do những đặc điểm địa hình trên, trong tính toán và phân tích về trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi CNN, luận văn chia VBMT thành 2 khu vực (2 tiểu vùng) là: khu vực gần bờ và khu vực ngoài khơi, lấy ranh giới là 109,5oE gần trùng với đường đẳng sâu 200 m – giới hạn của thềm lục địa. Ngoài ra, do tính chất đại dương của vùng biển mà việc tính toán trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi CNN được mở rộng đến kinh tuyến 115oE (vùng V) với mục đích xem xét tài nguyên CNN ở cả vùng biển sâu giữa Biển Đông.2 Một số đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên 1.1 Đặc điểm khí tượng [36] VBMT nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu tác động trực tiếp của trường gió Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau ) và Tây Nam (mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 9).
Trong quá trình tiến vào khu vực gần bờ, gió hướng đông bắc (NE) chịu ảnh hưởng của lục địa bán đảo Đông Dương nên lệch dần về bắc đông bắc (NNE), vào sát bờ chuyển thành chính bắc (N). Nhiệt độ không khí trung bình 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm của vùng biển dao động trong khoảng 22oC – 28,5oC, có xu thế tăng dần về phía nam, cao nhất từ tháng 5 đến tháng 9 (trung bình 29,8oC – 31oC), thấp nhất trong tháng 2 (trung bình 22oC – 24oC). Tại đây có nhiệt độ không khí tối cao 38,7oC – 40,9oC và tối thấp 9,2oC – 15,4oC. Lượng mưa trung bình ngày trong năm dao động khoảng 1 – 13 mm/ngày, xu thế tăng từ bờ ra khơi.
Trong năm, tháng 1 có lượng mưa thấp nhất (1 – 2 mm/ngày), tháng 10 có lượng mưa cao nhất (8 – 14 mm/ngày), cực đại tại khu vực Đà Nẵng – Quảng Nam (13 – 14 mm/ngày). Tổng số ngày mưa trong năm tại một số trạm đo là: Đà Nẵng 139,9 ngày, Quảng Ngãi 154,7 ngày, Phan Rang 85,8 ngày. Mùa mưa trong khu vực xảy ra từ tháng 8 đến tháng 12, cao điểm vào tháng 10, 11.2 Đặc điểm hải văn và thủy động lực [36] Nhiệt độ nước biển tầng mặt VBMT dao động trong khoảng 24 – 30oC, độ muối 33,3 – 34,3 ‰. Xu thế chung của nhiệt độ nước biển các tháng là tăng từ bắc xuống nam, độ muối ngược lại.
Riêng ba tháng 7, 8, 9 có nước trồi ven bờ Ninh Thuận – Bình Thuận, tạo thành khu vực nước lạnh và độ muối cao hơn xung quanh. Theo tính chất thuỷ triều, VBMT được chia thành những khu vực triều khác nhau. Khu vực biển ven bờ Quảng Trị đến bắc Quảng Nam có chế độ bán nhật triều không đều, riêng lân cận cửa Thuận An – bán nhật triều đều; khu vực biển ven bờ từ giữa Quảng Nam tới Bình Thuận có chế độ nhật triều không đều. Trong mùa đông, khu vực phía bắc VBMT (16 – 18oN) là nơi hội tụ của 2 luồng hải lưu lớn của Biển Đông: dòng chảy đi từ vịnh Bắc Bộ xuống theo hướng đông nam và dòng chảy xoáy thuận bờ tây Biển Đông (hình 1.
Hai luồng dòng chảy này nhập làm một và tiếp tục tiến xuống phía nam dọc theo hướng đường bờ của đoạn bờ miền Trung nước ta. Trên đoạn đường tiếp tục này, dòng chảy ép sát vào gần bờ và dưới ảnh hưởng của trường gió mùa đông nên dòng chảy được cường hoá. Do tính chất nước sâu của dải ven bờ này mà sự cường hoá dòng chảy có thể phát triển ở cả những tầng nước dưới mặt vài chục mét và sâu hơn [36]. Trong mùa hè, dòng chảy cơ bản có hướng ngược lại và tốc độ yếu hơn nên thường xuất hiện các xoáy địa phương cục bộ.
Với đặc điểm của địa hình cùng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hướng đường bờ đặc thù và trong điều kiện dòng chảy mùa hè hướng bắc và đông bắc, nước trồi thường xuất hiện và phát triển tại khu vực phía nam VBMT (Khánh Hoà – Bình Thuận), đôi khi phát triển lên phía bắc đến cả Bình Định.3: Trường dòng chảy tầng mặt mùa đông (bên trái) và mùa hè [36] Tại khu vực phía bắc VBMT, dòng chảy mùa đông có tốc độ trung bình khoảng 10 – 30 cm/s, mùa hè trên dưới 10 cm/s; khu vực Đà Nẵng – Quảng Nam có các giá trị tương ứng là 30 - 40 cm/s và 10 cm/s. Riêng khu vực biển ven bờ Khánh Hòa – Bình Thuận, tốc độ dòng chảy khá lớn trong cả hai mùa (có thể 80 - 100 cm/s tại mũi Đá Vách). Như trên đã nêu, đây là dòng được cường hóa ven bờ miền Trung trong hệ thống hoàn lưu và là rìa hoàn lưu xoáy thuận mùa đông của Biển Đông. Chế độ sóng phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ gió.
Tại các khu vực biển xa bờ, vào mùa gió Đông Bắc sóng hướng NE thịnh hành nhưng độ cao giảm dần về phía nam, vào mùa gió Tây Nam sóng hướng SW thịnh hành có xu thế ngược lại. Tại các khu vực biển gần bờ, hướng sóng có sự biến đổi: mùa đông tại Nha Trang hướng E chiếm 60 % và NE chiếm 35 %, tại Phú Quý hướng NE chiếm 52 % và N – 45 %; 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào mùa hè tại Nha Trang sóng hướng SE – 56 % và S – 29 %, tại Phú Quý hướng S – 44 % và SW – 21 % [36].2 Nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung 1.1 Khái quát về nguồn lợi cá nổi nhỏ biển Việt Nam Trên các ngư trường, dựa theo điều kiện cư trú có thể chia cá biển Việt Nam thành 4 nhóm: cá tầng trên (cá nổi), cá tầng đáy, cá đáy và cá rạn san hô. Riêng nhóm cá tầng trên có khoảng 260 loài, chiếm 15 % tổng số loài cá biển [25], chúng thường sống tập trung thành đàn, những ngày nắng ấm và thời tiết thuận lợi có thể nổi lên sát mặt nước để thở hoặc bắt mồi. Theo kích thước, nhóm cá này được chia thành 2 nhóm phụ: nhóm cá nổi lớn như cá ngừ, cá cờ, cá kiếm… chủ yếu phân bố ở các vùng biển sâu, xa bờ và nhóm CNN nhỏ như cá trích, cá nục, cá cơm, cá chuồn, cá bạc má, cá chỉ vàng… phân bố ở mọi vùng biển.
CNN là các loài sống ở tầng nước mặt (chủ yếu 0 – 100 m sâu), không di cư xa như các loài cá nổi lớn và thường có vòng đời ngắn. Tuy nhiên, trong chu kỳ sống hoặc trong các mùa vụ khác nhau, nhiều loài CNN cũng có thể di cư đến các nơi sống thích hợp, thậm chí ngay trong trong ngày chúng cũng có thể di chuyển (chủ yếu theo phương thẳng đứng) liên quan đến cường độ ánh sáng tự nhiên. Cũng nhờ tập tính này của CNN mà nhiều nghề khai thác đã sử dụng nguồn sáng nhân tạo để dụ cá. Tính đến năm 2007, các chuyến điều tra nguồn lợi CNN ở vùng biển Việt Nam đã bắt gặp 13 họ, 41 giống và 94 loài, trong đó VBMT bắt gặp 11 họ, 26 giống và 44 loài.
Các giá trị tương ứng ở vịnh Bắc Bộ là: 11, 35, 63; vùng biển Đông Nam Bộ: 10, 35, 40; vùng biển Tây Nam Bộ: 10, 21, 59. Số lượng họ, giống loài bắt gặp trong các chuyến điều tra vào mùa gió Tây Nam nhiều hơn mùa gió Đông Bắc [23]. Kết quả nghiên cứu mới nhất của Tiểu dự án I.4) cho thấy, trong vùng biển Việt Nam CNN phân bố nhiều ở khu vực biển gần bờ với các nhóm chủ yếu là cá cơm (Ancvy), cá khế (Caran), cá trích (Herr), cá nục (Scad), cá ngân – tráo (Yscad), cá hố (Hairt), cá bạc má – ba thú (Mackr) và nhóm cá nổi nhỏ khác (Opel). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4: Phân bố nguồn lợi cá nổi nhỏ ở biển Việt Nam mùa gió Tây Nam (trái), mùa gió Đông Bắc (phải) (đơn vị tính là hệ số phản hồi âm của máy dò âm đa tần - m2/nm2) [18] LUAN VAN CHAT LUONG download 8 : add luanvanchat@agmail.2 Nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung 1.1 Trữ lượng và khả năng khai thác Ở VBMT, nguồn lợi CNN được cho là tương đối dồi dào so với các vùng biển khác (chỉ sau vùng biển Đông Nam Bộ) với trữ lượng khoảng 500 nghìn tấn/năm chiếm gần 30 % trữ lượng CNN toàn biển Việt Nam [13] (bảng 1.