Nghiên cứu sự phân bố và biến động của nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung Việt Nam

Nghiên cứu sự phân bố và biến động nguồn lợi cá nổi nhỏ tại vùng biển miền Trung Việt Nam, cung cấp thông tin quan trọng cho quản lý tài nguyên.

Chuyên ngành

Hải dương học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

76
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGUỒN LỢI CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG

1.1. Giới thiệu vùng biển miền Trung

1.1.1. Vị trí địa lý và địa hình vùng biển miền Trung

1.1.2. Một số đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên

1.2. Nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung

1.2.1. Khái quát về nguồn lợi cá nổi nhỏ biển Việt Nam

1.2.2. Trữ lượng và khả năng khai thác

1.3. Một số phương pháp đánh giá trữ lượng nguồn lợi cá

1.3.1. Nội dung của việc đánh giá trữ lượng

1.3.2. Một số phương pháp đánh giá trữ lượng

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG VÀ NGUỒN SỐ LIỆU SỬ DỤNG

2.1. Phương pháp chuyển hóa năng lượng

2.1.1. Phương pháp chuyển hóa năng lượng đánh giá nguồn lợi CNN

2.1.2. Mô hình chu trình chuyển hóa Nitơ trong hệ sinh thái biển

2.2. Nguồn số liệu sử dụng trong nghiên cứu

2.2.1. Trường độ sâu

2.2.2. Trường 3D nhiệt độ nước biển

2.2.3. Trường bức xạ tự nhiên trung bình tháng trên mặt biển

2.2.4. Các tham số sinh thái của mô hình chu trình chuyển hóa Nitơ

3. CHƯƠNG 3: CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG VÀ PHÂN BỐ, BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG

3.1. Quá trình sản xuất vật chất hữu cơ trong quần xã sinh vật nổi vùng biển miền Trung

3.1.1. Quá trình sản xuất sơ cấp của thực vật nổi

3.1.2. Quá trình sản xuất thứ cấp của động vật nổi

3.1.3. Đặc trưng chuyển hóa năng lượng vùng biển

3.2. Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung

3.2.1. Sinh khối cá nổi nhỏ

3.2.2. Năng suất cá nổi nhỏ

3.2.3. Ước tính tổng trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: Mô hình toán chu trình chuyển hóa Nitơ

PHỤ LỤC 2: Tính toán bức xạ tự nhiên trên mặt biển

PHỤ LỤC 3: Tính toán năng suất sinh học và các hiệu suất sinh thái

PHỤ LỤC 4: Tính toán các giá trị tích phân

PHỤ LỤC 5: Phân bố nhiệt độ nước biển trên các mặt cắt

Tóm tắt

I. Tổng quan về nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung Việt Nam

Vùng biển miền Trung Việt Nam là một trong những khu vực có nguồn lợi cá nổi nhỏ phong phú và đa dạng. Nguồn lợi này không chỉ đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái biển mà còn là nguồn thực phẩm chính cho người dân địa phương. Theo nghiên cứu, cá nổi nhỏ chiếm khoảng 60-80% tổng sản lượng khai thác cá biển tại đây. Các loài cá như cá nục, cá bạc má, và cá cơm là những đại diện tiêu biểu cho nguồn lợi này. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức và thiếu quản lý bền vững đang đe dọa đến sự tồn tại của chúng.

1.1. Đặc điểm sinh học và phân bố của cá nổi nhỏ

Cá nổi nhỏ thường sống ở tầng nước từ 0 đến 100 m và có vòng đời ngắn. Chúng thường di chuyển theo cường độ ánh sáng và có thể tập trung thành đàn. Nghiên cứu cho thấy, trong vùng biển miền Trung, có khoảng 44 loài cá nổi nhỏ được ghi nhận, với sự đa dạng về kích thước và hình thái.

1.2. Tình trạng khai thác và quản lý nguồn lợi cá

Tình trạng khai thác cá nổi nhỏ tại miền Trung đang gặp nhiều thách thức. Phương tiện khai thác lạc hậu và hoạt động tự phát dẫn đến việc khai thác quá mức. Cần có các biện pháp quản lý hiệu quả để bảo tồn nguồn lợi này, bao gồm việc áp dụng các quy định về khai thác và bảo vệ môi trường biển.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ

Mặc dù nguồn lợi cá nổi nhỏ có tiềm năng lớn, nhưng việc nghiên cứu và đánh giá trữ lượng vẫn còn nhiều hạn chế. Các phương pháp truyền thống chưa đủ để cung cấp bức tranh toàn diện về sự phân bố và biến động của nguồn lợi này. Việc thiếu dữ liệu và nghiên cứu khoa học cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khai thác không bền vững.

2.1. Thiếu dữ liệu và nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu về nguồn lợi cá nổi nhỏ tại miền Trung chưa được thực hiện thường xuyên. Các số liệu hiện có chủ yếu dựa vào các phương pháp truyền thống, không phản ánh đầy đủ tình trạng thực tế của nguồn lợi này.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến nguồn lợi cá

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến môi trường sống của cá nổi nhỏ. Nhiệt độ nước biển tăng cao và sự thay đổi trong dòng chảy có thể làm thay đổi sự phân bố và sinh sản của các loài cá này, từ đó ảnh hưởng đến nguồn lợi cá nổi nhỏ.

III. Phương pháp nghiên cứu và đánh giá nguồn lợi cá nổi nhỏ

Để đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ, các phương pháp hiện đại như mô hình chu trình chuyển hóa Nitơ đã được áp dụng. Phương pháp này giúp xác định nguồn thức ăn và dòng năng lượng trong hệ sinh thái biển, từ đó đưa ra các ước tính chính xác hơn về trữ lượng cá.

3.1. Mô hình chu trình chuyển hóa Nitơ

Mô hình chu trình chuyển hóa Nitơ là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá nguồn lợi cá nổi nhỏ. Nó giúp xác định mối quan hệ giữa các loài trong chuỗi thức ăn và lượng năng lượng được chuyển hóa trong hệ sinh thái biển.

3.2. Các phương pháp đánh giá trữ lượng

Các phương pháp đánh giá trữ lượng bao gồm phương pháp thuỷ âm và phương pháp diện tích. Những phương pháp này giúp xác định chính xác hơn về số lượng và phân bố của cá nổi nhỏ trong vùng biển miền Trung.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ

Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn lợi cá nổi nhỏ tại miền Trung có trữ lượng khoảng 500 nghìn tấn/năm, chiếm gần 30% tổng trữ lượng cá nổi nhỏ toàn quốc. Những thông tin này rất quan trọng cho việc lập kế hoạch khai thác và quản lý bền vững nguồn lợi cá tại đây.

4.1. Kết quả đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác

Kết quả đánh giá cho thấy khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ tại miền Trung là khoảng 200 nghìn tấn/năm. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của nguồn lợi này, nhưng cũng cần có các biện pháp quản lý hợp lý để bảo vệ.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào quản lý

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách quản lý nguồn lợi cá nổi nhỏ, từ đó đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành thủy sản tại miền Trung.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ

Nghiên cứu về nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung Việt Nam là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành thủy sản. Cần có sự đầu tư vào nghiên cứu khoa học và quản lý nguồn lợi để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên này trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu

Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên biển mà còn góp phần vào phát triển kinh tế địa phương. Việc hiểu rõ về nguồn lợi này sẽ giúp đưa ra các quyết định khai thác hợp lý.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về sự phân bố và biến động của nguồn lợi cá nổi nhỏ, đồng thời áp dụng các công nghệ mới để cải thiện độ chính xác trong đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu sự phân bố và biến động của nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền trung việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGUỒN LỢI CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG 1.1 Giới thiệu vùng biển miền Trung Theo Tổng cục Thủy sản, biển Việt Nam được chia thành 5 ngư trường lớn: (I) - vịnh Bắc Bộ, (II) - miền Trung, (III) - Đông Nam Bộ, (IV) - Tây Nam Bộ và (V) - vùng biển xa bờ (hình 1. Trừ vùng V, hoạt động khai thác hải sản trên các vùng biển được chia thành nghề cá ven bờ và nghề cá ngoài khơi dựa vào độ sâu của vùng biển, ranh giới phân chia là đường đẳng sâu 30m, riêng VBMT (vùng II) là 50m. Mùa vụ khai thác gồm: vụ cá bắc (tháng 11 đến tháng 4 năm sau ở vùng I, tháng 10 đến tháng 3 năm sau ở các vùng khác) và vụ cá nam (các tháng còn lại) tương ứng với hai mùa gió: mùa gió Đông Bắc và mùa gió Tây Nam [1, 34].1: Phân chia ngư trường trên vùng biển Việt Nam [1] 1.1 Vị trí địa lý và địa hình vùng biển miền Trung Vùng biển nghiên cứu trọng tâm của luận văn có giới hạn từ 11oN đến 17oN và từ bờ biển các tỉnh miền Trung đến 111oE – hình 1. Đây chính là vùng II – VBMT trong phân chia ngư trường của Tổng cục Thuỷ sản trên đây.

VBMT có 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thềm lục địa rất hẹp, đường đẳng sâu 50 m hầu như áp sát bờ và phần biển nông không quá 200 m có diện tích không đáng kể (trừ phần phía bắc). Đây là vùng biển có ít sông đổ ra, lưu lượng nhỏ, bờ biển bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra tạo thành nhiều vũng vịnh, đầm phá. Điều này phản ánh tính chất đại dương toàn vùng biển.2: Vùng biển miền Trung (vùng II) và địa hình đáy Do những đặc điểm địa hình trên, trong tính toán và phân tích về trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi CNN, luận văn chia VBMT thành 2 khu vực (2 tiểu vùng) là: khu vực gần bờ và khu vực ngoài khơi, lấy ranh giới là 109,5oE gần trùng với đường đẳng sâu 200 m – giới hạn của thềm lục địa. Ngoài ra, do tính chất đại dương của vùng biển mà việc tính toán trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi CNN được mở rộng đến kinh tuyến 115oE (vùng V) với mục đích xem xét tài nguyên CNN ở cả vùng biển sâu giữa Biển Đông.2 Một số đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên 1.1 Đặc điểm khí tượng [36] VBMT nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu tác động trực tiếp của trường gió Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau ) và Tây Nam (mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 9).

Trong quá trình tiến vào khu vực gần bờ, gió hướng đông bắc (NE) chịu ảnh hưởng của lục địa bán đảo Đông Dương nên lệch dần về bắc đông bắc (NNE), vào sát bờ chuyển thành chính bắc (N). Nhiệt độ không khí trung bình 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm của vùng biển dao động trong khoảng 22oC – 28,5oC, có xu thế tăng dần về phía nam, cao nhất từ tháng 5 đến tháng 9 (trung bình 29,8oC – 31oC), thấp nhất trong tháng 2 (trung bình 22oC – 24oC). Tại đây có nhiệt độ không khí tối cao 38,7oC – 40,9oC và tối thấp 9,2oC – 15,4oC. Lượng mưa trung bình ngày trong năm dao động khoảng 1 – 13 mm/ngày, xu thế tăng từ bờ ra khơi.

Trong năm, tháng 1 có lượng mưa thấp nhất (1 – 2 mm/ngày), tháng 10 có lượng mưa cao nhất (8 – 14 mm/ngày), cực đại tại khu vực Đà Nẵng – Quảng Nam (13 – 14 mm/ngày). Tổng số ngày mưa trong năm tại một số trạm đo là: Đà Nẵng 139,9 ngày, Quảng Ngãi 154,7 ngày, Phan Rang 85,8 ngày. Mùa mưa trong khu vực xảy ra từ tháng 8 đến tháng 12, cao điểm vào tháng 10, 11.2 Đặc điểm hải văn và thủy động lực [36] Nhiệt độ nước biển tầng mặt VBMT dao động trong khoảng 24 – 30oC, độ muối 33,3 – 34,3 ‰. Xu thế chung của nhiệt độ nước biển các tháng là tăng từ bắc xuống nam, độ muối ngược lại.

Riêng ba tháng 7, 8, 9 có nước trồi ven bờ Ninh Thuận – Bình Thuận, tạo thành khu vực nước lạnh và độ muối cao hơn xung quanh. Theo tính chất thuỷ triều, VBMT được chia thành những khu vực triều khác nhau. Khu vực biển ven bờ Quảng Trị đến bắc Quảng Nam có chế độ bán nhật triều không đều, riêng lân cận cửa Thuận An – bán nhật triều đều; khu vực biển ven bờ từ giữa Quảng Nam tới Bình Thuận có chế độ nhật triều không đều. Trong mùa đông, khu vực phía bắc VBMT (16 – 18oN) là nơi hội tụ của 2 luồng hải lưu lớn của Biển Đông: dòng chảy đi từ vịnh Bắc Bộ xuống theo hướng đông nam và dòng chảy xoáy thuận bờ tây Biển Đông (hình 1.

Hai luồng dòng chảy này nhập làm một và tiếp tục tiến xuống phía nam dọc theo hướng đường bờ của đoạn bờ miền Trung nước ta. Trên đoạn đường tiếp tục này, dòng chảy ép sát vào gần bờ và dưới ảnh hưởng của trường gió mùa đông nên dòng chảy được cường hoá. Do tính chất nước sâu của dải ven bờ này mà sự cường hoá dòng chảy có thể phát triển ở cả những tầng nước dưới mặt vài chục mét và sâu hơn [36]. Trong mùa hè, dòng chảy cơ bản có hướng ngược lại và tốc độ yếu hơn nên thường xuất hiện các xoáy địa phương cục bộ.

Với đặc điểm của địa hình cùng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hướng đường bờ đặc thù và trong điều kiện dòng chảy mùa hè hướng bắc và đông bắc, nước trồi thường xuất hiện và phát triển tại khu vực phía nam VBMT (Khánh Hoà – Bình Thuận), đôi khi phát triển lên phía bắc đến cả Bình Định.3: Trường dòng chảy tầng mặt mùa đông (bên trái) và mùa hè [36] Tại khu vực phía bắc VBMT, dòng chảy mùa đông có tốc độ trung bình khoảng 10 – 30 cm/s, mùa hè trên dưới 10 cm/s; khu vực Đà Nẵng – Quảng Nam có các giá trị tương ứng là 30 - 40 cm/s và 10 cm/s. Riêng khu vực biển ven bờ Khánh Hòa – Bình Thuận, tốc độ dòng chảy khá lớn trong cả hai mùa (có thể 80 - 100 cm/s tại mũi Đá Vách). Như trên đã nêu, đây là dòng được cường hóa ven bờ miền Trung trong hệ thống hoàn lưu và là rìa hoàn lưu xoáy thuận mùa đông của Biển Đông. Chế độ sóng phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ gió.

Tại các khu vực biển xa bờ, vào mùa gió Đông Bắc sóng hướng NE thịnh hành nhưng độ cao giảm dần về phía nam, vào mùa gió Tây Nam sóng hướng SW thịnh hành có xu thế ngược lại. Tại các khu vực biển gần bờ, hướng sóng có sự biến đổi: mùa đông tại Nha Trang hướng E chiếm 60 % và NE chiếm 35 %, tại Phú Quý hướng NE chiếm 52 % và N – 45 %; 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào mùa hè tại Nha Trang sóng hướng SE – 56 % và S – 29 %, tại Phú Quý hướng S – 44 % và SW – 21 % [36].2 Nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung 1.1 Khái quát về nguồn lợi cá nổi nhỏ biển Việt Nam Trên các ngư trường, dựa theo điều kiện cư trú có thể chia cá biển Việt Nam thành 4 nhóm: cá tầng trên (cá nổi), cá tầng đáy, cá đáy và cá rạn san hô. Riêng nhóm cá tầng trên có khoảng 260 loài, chiếm 15 % tổng số loài cá biển [25], chúng thường sống tập trung thành đàn, những ngày nắng ấm và thời tiết thuận lợi có thể nổi lên sát mặt nước để thở hoặc bắt mồi. Theo kích thước, nhóm cá này được chia thành 2 nhóm phụ: nhóm cá nổi lớn như cá ngừ, cá cờ, cá kiếm… chủ yếu phân bố ở các vùng biển sâu, xa bờ và nhóm CNN nhỏ như cá trích, cá nục, cá cơm, cá chuồn, cá bạc má, cá chỉ vàng… phân bố ở mọi vùng biển.

CNN là các loài sống ở tầng nước mặt (chủ yếu 0 – 100 m sâu), không di cư xa như các loài cá nổi lớn và thường có vòng đời ngắn. Tuy nhiên, trong chu kỳ sống hoặc trong các mùa vụ khác nhau, nhiều loài CNN cũng có thể di cư đến các nơi sống thích hợp, thậm chí ngay trong trong ngày chúng cũng có thể di chuyển (chủ yếu theo phương thẳng đứng) liên quan đến cường độ ánh sáng tự nhiên. Cũng nhờ tập tính này của CNN mà nhiều nghề khai thác đã sử dụng nguồn sáng nhân tạo để dụ cá. Tính đến năm 2007, các chuyến điều tra nguồn lợi CNN ở vùng biển Việt Nam đã bắt gặp 13 họ, 41 giống và 94 loài, trong đó VBMT bắt gặp 11 họ, 26 giống và 44 loài.

Các giá trị tương ứng ở vịnh Bắc Bộ là: 11, 35, 63; vùng biển Đông Nam Bộ: 10, 35, 40; vùng biển Tây Nam Bộ: 10, 21, 59. Số lượng họ, giống loài bắt gặp trong các chuyến điều tra vào mùa gió Tây Nam nhiều hơn mùa gió Đông Bắc [23]. Kết quả nghiên cứu mới nhất của Tiểu dự án I.4) cho thấy, trong vùng biển Việt Nam CNN phân bố nhiều ở khu vực biển gần bờ với các nhóm chủ yếu là cá cơm (Ancvy), cá khế (Caran), cá trích (Herr), cá nục (Scad), cá ngân – tráo (Yscad), cá hố (Hairt), cá bạc má – ba thú (Mackr) và nhóm cá nổi nhỏ khác (Opel). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4: Phân bố nguồn lợi cá nổi nhỏ ở biển Việt Nam mùa gió Tây Nam (trái), mùa gió Đông Bắc (phải) (đơn vị tính là hệ số phản hồi âm của máy dò âm đa tần - m2/nm2) [18] LUAN VAN CHAT LUONG download 8 : add luanvanchat@agmail.2 Nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung 1.1 Trữ lượng và khả năng khai thác Ở VBMT, nguồn lợi CNN được cho là tương đối dồi dào so với các vùng biển khác (chỉ sau vùng biển Đông Nam Bộ) với trữ lượng khoảng 500 nghìn tấn/năm chiếm gần 30 % trữ lượng CNN toàn biển Việt Nam [13] (bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển miền Trung Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng và nguồn lợi của các loài cá nổi nhỏ trong khu vực này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển của cá mà còn đề xuất các biện pháp bảo tồn và quản lý bền vững nguồn lợi thủy sản. Điều này mang lại lợi ích cho các nhà nghiên cứu, quản lý tài nguyên và cộng đồng ngư dân, giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường biển.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái loài cá heo ông sư orcaella brevirostris vùng biển quần đảo bà lụa kiên giang, nơi khám phá các đặc điểm sinh thái của loài cá heo quý hiếm. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ hus xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển sơn chà hải vân tỉnh thừa thiên huế sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các bãi đẻ của cá rạn san hô, một phần quan trọng trong hệ sinh thái biển. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu biến động địa hình đáy cửa đà diễn phú yên, tài liệu này cung cấp thông tin về biến động địa hình, ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài cá. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ sinh thái biển miền Trung Việt Nam.