Tổng quan nghiên cứu

Khu vực ven biển Quảng Ninh và Hải Phòng sở hữu chiều dài bờ biển hơn 375 km với hệ thống hơn 2.078 hòn đảo lớn nhỏ, đóng vai trò là cửa ngõ giao thương đường thủy trọng điểm phía Bắc. Tuy nhiên, vùng biển vịnh Bắc Bộ hàng năm phải gánh chịu tác động trung bình từ 8 đến 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, tạo ra những biến động hải văn vô cùng phức tạp. Trong thực tế, các phương pháp dự báo sóng biển truyền thống thường chỉ được thực hiện trên nền mực nước tĩnh trung bình, hoàn toàn bỏ qua tương tác phi tuyến của thủy triều và nước dâng do bão. Tại khu vực có biên độ triều lớn từ 3,0 m đến 4,5 m như ven biển Đông Bắc, sự kết hợp giữa triều cường cực đại lên tới 4,59 m và nước dâng bão vượt ngưỡng 1,3 m làm thay đổi sâu sắc trường độ sâu cục bộ và cấu trúc sóng ven bờ.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là ứng dụng mô hình số trị hải dương tích hợp ba thành phần sóng, thủy triều và nước dâng do bão để đánh giá định lượng tác động của dao động mực nước đến trường sóng trong bão tại ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ vùng biển Bắc Bộ trong giới hạn tọa độ từ 16,5 độ Bắc đến 22 độ Bắc, phân tích chuỗi dữ liệu bão lịch sử kéo dài 65 năm từ năm 1952 đến năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, giúp tối ưu hóa công tác cảnh báo thiên tai với sai số đỉnh sóng dưới 0,5 m và sai số nước dâng dưới 0,2 m, tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ hệ thống công trình cảng biển và giảm thiểu thiệt hại kinh tế hàng tỷ đồng mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết thủy động lực học biển hiện đại, kết hợp giữa hệ phương trình nước nông phi tuyến hai chiều và phương trình cân bằng tác động sóng phổ hai chiều. Mô hình nghiên cứu trung tâm là mô hình số trị tích hợp SuWAT do Đại học Kyoto phát triển, thực hiện ghép nối tương tác hai chiều đồng thời giữa mô-đun thủy động lực học tính dòng chảy, thủy triều, nước dâng và mô-đun sóng phổ thế hệ thứ ba SWAN.

Khung lý thuyết vận dụng các khái niệm then chốt gồm: ứng suất bức xạ sóng theo lý thuyết của Longuet-Higgins và Stewart nhằm mô phỏng hiện tượng nước dâng do sóng vỡ; hệ số kéo bề mặt động phụ thuộc sóng biển theo lý thuyết Janssen với vận tốc gió tham chiếu ở độ cao 10 m; chỉ số phân triều Vandestock đạt giá trị 8,1 tại Cô Tô khẳng định tính chất nhật triều đều thuần nhất với hơn 25 ngày trong tháng chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng; cùng mô hình bão giải tích Fujita năm 1952 dùng để tái lập trường áp suất khí quyển và vận tốc gió gradient trong bão.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập đồng bộ từ các cơ quan khí tượng hải văn uy tín: chuỗi số liệu quan trắc gió, sóng, mực nước liên tục 56 năm từ năm 1961 đến 2017 tại các trạm hải văn Cô Tô, Hòn Dáu, Phù Liễn; dữ liệu bão từ Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp Hoa Kỳ (JTWC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) và Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia; cùng số liệu phao đo sóng ngoài khơi theo giờ tại tọa độ 17,1 độ Bắc và 107,1 độ Đông từ dự án hợp tác Việt Nam - Na Uy.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 86 cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng đến dải ven biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh trong giai đoạn 65 năm từ năm 1952 đến 2017. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp thống kê lịch sử, trích xuất các cơn bão điển hình có cấp gió từ cấp 11 đến cấp 14 như bão Frankie năm 1996, bão Wukong năm 2000, bão Washi năm 2005 và bão Doksuri năm 2017 để kiểm định mô hình.

Phương pháp phân tích số trị sử dụng kỹ thuật lưới lồng hai cấp qua giao diện truyền thông song song MPI: lưới D1 bao phủ Biển Đông với độ phân giải 4 phút (khoảng 7.400 m, kích thước 226 x 211 điểm) và lưới chi tiết D2 ven biển Bắc Bộ với độ phân giải 1 phút (khoảng 1.850 m, kích thước 271 x 211 điểm). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đảm bảo mô phỏng liên tục quá trình truyền sóng từ vùng nước sâu ngoài khơi vào vùng nước nông ven bờ, với bước thời gian tính toán 4 giây cho mô hình thủy triều - nước dâng và 900 giây cho mô hình sóng SWAN, đáp ứng hoàn hảo tiêu chuẩn ổn định Courant. Timeline nghiên cứu và mô phỏng được thực hiện tập trung trong chuỗi quan trắc 1952 - 2017 và hoàn thiện năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc xét đến ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng do bão làm gia tăng rõ rệt độ cao sóng có nghĩa tại vùng nước nông ven bờ. Trong cơn bão Frankie năm 1996 đổ bộ vào Hải Phòng - Thái Bình, nước dâng do bão thực đo đạt 1,3 m kết hợp thủy triều đẩy mực nước tổng cộng tại trạm Hòn Dáu lên tới 3,28 m, làm độ cao sóng tính toán tăng thêm từ 15% đến 25% so với phương án tính trên nền mực nước trung bình cố định.

Thứ hai, mô hình tích hợp SuWAT thể hiện độ tin cậy và độ chính xác xuất sắc khi kiểm định với số liệu thực đo. Sai số đỉnh nước dâng bão tại trạm Hòn Dáu trong bão Frankie chỉ là 0,2 m và tại trạm Hòn Ngư trong bão Doksuri năm 2017 chỉ đạt 0,15 m. Khi kiểm định sóng ngoài khơi trong bão Wukong năm 2000, sai số căn bậc hai trung bình (RMSE) chỉ là 0,85 m và sai số tuyệt đối độ cao sóng lớn nhất là 1,1 m trên nền sóng thực đo vượt 5,5 m.

Thứ ba, sự tương tác hai chiều thông qua ứng suất bức xạ sóng và hệ số kéo bề mặt động làm tăng trị số nước dâng bão tổng cộng thêm 8% đến 12% so với mô hình chỉ tính riêng gió và áp suất khí quyển. Tại Cô Tô, mực nước biển cực đại ghi nhận đạt 4,59 m và tại Hòn Dáu đạt 4,21 m trong các kỳ bão trùng pha triều cường.

Thứ tư, phân tích thống kê 86 cơn bão trong 65 năm chỉ ra rằng 44% số cơn bão di chuyển theo hướng Tây - Tây Bắc đổ bộ trực tiếp vào khu vực, sinh ra trường sóng bão cực đại lên tới 6,0 m tại Cô Tô và 5,6 m tại Hòn Dáu với chu kỳ sóng kéo dài từ 8 đến 12 giây.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi mạnh mẽ của trường sóng ven bờ là do hiện tượng triều cường và nước dâng bão làm gia tăng tức thời độ sâu mực nước cục bộ từ 1,0 m đến hơn 4,0 m. Khi độ sâu tăng lên, ma sát đáy biển suy giảm mạnh, làm chậm quá trình tiêu tán năng lượng và hạn chế hiện tượng sóng vỡ sớm ở ngoài xa bờ, cho phép các thành phần sóng lừng mang năng lượng lớn truyền thẳng vào sát bờ kè.

So sánh với các nghiên cứu đơn lẻ trước đây vốn chỉ chạy mô hình sóng SWAN độc lập với mực nước tĩnh, phương pháp tích hợp trong SuWAT đã loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ước tính thấp độ cao sóng ven bờ trong bão. Dữ liệu nghiên cứu này có thể được biểu diễn trực quan và sinh động thông qua biểu đồ biến thiên mực nước ba đường gồm triều dự tính, nước dâng và mực nước tổng cộng theo trục thời gian, kết hợp cùng bản đồ phân bố trường sóng cực đại hai chiều dạng lưới đẳng trị và bảng đối chiếu sai số kiểm định giữa số liệu tính toán mô hình và số liệu quan trắc trạm phao hải văn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp hệ thống dự báo sóng tác nghiệp thời gian thực bằng việc ứng dụng mô hình số trị tích hợp SuWAT tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, hướng tới mục tiêu giảm sai số dự báo sóng ven bờ xuống dưới 0,3 m và sai số nước dâng dưới 0,15 m trước năm 2028.

Thứ hai, cập nhật và điều chỉnh tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế đê biển do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành, quy định bắt buộc tính toán độ cao sóng thiết kế trên nền mực nước dâng bão kết hợp triều cường cực đại 4,5 m, nâng cao trình an toàn đỉnh đê thêm 0,5 m đến 1,2 m cho toàn bộ 125 km đê biển Hải Phòng và Quảng Ninh trước năm 2030.

Thứ ba, đầu tư mở rộng mạng lưới quan trắc hải văn tự động ngoài khơi vịnh Bắc Bộ do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, triển khai lắp đặt bổ sung 3 đến 5 trạm phao đo sóng chuyên dụng truyền dữ liệu vệ tinh với tần suất 1 giờ một lần nhằm phục vụ hiệu chỉnh mô hình số trị trước năm 2027.

Thứ tư, xây dựng bản đồ số hóa cảnh báo nguy cơ ngập lụt và sóng tràn do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng phối hợp thực hiện, hoàn thành phủ kín bản đồ phân vùng rủi ro chi tiết tỷ lệ 1:10.000 cho 100% các xã phường ven biển trọng điểm trước năm 2029.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các chuyên viên và nhà nghiên cứu tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia và Viện Hải dương học, những người cần khai thác thuật toán ghép nối mô hình SWAN và phương trình nước nông 2D để xây dựng các bản tin cảnh báo bão, triều cường và sóng lớn đạt độ chính xác cao.

Nhóm thứ hai là các kỹ sư công trình biển và chuyên gia quy hoạch tại Tổng công ty Tư vấn Thiết kế Giao thông Vận tải và Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, có thể ứng dụng trực tiếp các số liệu sóng cực đại từ 4,6 m đến 6,0 m để tính toán ổn định kết cấu đê kè, cầu cảng nước sâu và luồng hàng hải Lạch Huyện, Cái Lân.

Nhóm thứ ba là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự và Phòng chống thiên tai các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định, sử dụng kịch bản mô phỏng bão Frankie và bão Doksuri để chủ động xây dựng phương án sơ tán dân cư và bảo vệ tài sản ven bờ khi bão đổ bộ trong kỳ triều cường.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các trường đại học chuyên ngành Khí tượng, Thủy văn, Hải dương học và Kỹ thuật Bờ biển, dùng toàn bộ cấu trúc nghiên cứu và bộ tham số lưới tính lồng 7.400 m và 1.850 m làm tài liệu học thuật và phát triển đề tài nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Việc tính toán sóng trong bão có bắt buộc phải kết hợp với thủy triều và nước dâng không? Bắt buộc phải tích hợp vì tại vùng biển có biên độ triều cao từ 3,0 m đến 4,5 m như ven biển Bắc Bộ, sự thay đổi độ sâu do triều và nước dâng sẽ làm biến đổi sâu sắc quá trình sóng vỡ, khiến độ cao sóng ven bờ có thể tăng thêm từ 15% đến 25% so với tính toán tĩnh.

Mô hình SuWAT có điểm gì vượt trội hơn các mô hình tính sóng truyền thống? Mô hình SuWAT tích hợp đồng thời tương tác hai chiều giữa mô hình sóng phổ SWAN và hệ phương trình nước nông phi tuyến 2D, cho phép truyền dữ liệu dòng chảy, ứng suất bức xạ sóng và hệ số kéo bề mặt liên tục sau mỗi bước thời gian 900 giây, loại bỏ sai số tách rời giữa các thành phần động lực học.

Độ chính xác của mô hình tích hợp khi kiểm định qua các cơn bão thực tế đạt mức nào? Kết quả kiểm định qua các cơn bão mạnh như Frankie năm 1996, Wukong năm 2000 và Doksuri năm 2017 cho thấy mô hình đạt độ chính xác cao với sai số đỉnh nước dâng chỉ từ 0,15 m đến 0,2 m và sai số căn bậc hai trung bình của độ cao sóng ngoài khơi chỉ đạt 0,85 m.

Biên độ thủy triều tại trạm Cô Tô và Hòn Dáu được ghi nhận ở mức bao nhiêu? Theo chuỗi số liệu quan trắc 56 năm từ năm 1961 đến 2017, mực nước biển lớn nhất ghi nhận tại Cô Tô đạt 4,59 m với biên độ triều từ 4,2 m đến 4,5 m mang tính chất nhật triều đều; trong khi tại trạm Hòn Dáu mực nước cao nhất từng quan sát được là 4,21 m.

Luận văn đã sử dụng bao nhiêu trường hợp bão để phân tích và kiểm định mô hình? Nghiên cứu đã thu thập và phân tích dữ liệu tổng thể của 86 cơn bão ảnh hưởng đến khu vực từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh trong 65 năm từ năm 1952 đến năm 2017, trong đó 44% số cơn bão có quỹ đạo di chuyển theo hướng Tây - Tây Bắc gây ra sóng biển và nước dâng nguy hiểm nhất.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công mô hình số trị tích hợp ba thành phần SuWAT trên hệ thống lưới lồng hai cấp độ phân giải 7.400 m và 1.850 m cho dải ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng.
  • Chứng minh định lượng rằng tương tác giữa thủy triều và nước dâng do bão làm gia tăng từ 15% đến 25% độ cao sóng có nghĩa ở khu vực ven bờ trong điều kiện triều cường.
  • Hoàn thành kiểm định mô hình qua tập hợp 86 cơn bão lịch sử giai đoạn 1952 - 2017, khẳng định sai số đỉnh nước dâng cực kỳ tối ưu chỉ từ 0,15 m đến 0,2 m.
  • Cung cấp luận cứ khoa học chính xác để điều chỉnh cao trình thiết kế an toàn cho 125 km đê biển và các công trình cảng biển trọng điểm vùng Đông Bắc.
  • Đóng góp giải pháp công nghệ hiện đại giúp nâng cao năng lực dự báo nghiệp vụ khí tượng hải văn và phòng chống thiên tai đa thiên tai ven bờ.

Lộ trình triển khai các bước tiếp theo hướng tới mục tiêu tích hợp mô hình SuWAT vào hệ thống dự báo tác nghiệp quốc gia trong giai đoạn 2026 - 2028. Các cơ quan quản lý ven biển, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hạ tầng hàng hải hãy chủ động liên hệ để tiếp nhận chuyển giao công nghệ và khai thác bộ cơ sở dữ liệu động lực học biển chuyên sâu này ngay hôm nay!