Tổng quan nghiên cứu

Khu vực ven biển Bắc Bộ sở hữu dải bờ biển dài khoảng 763 km với hệ thống sông ngòi và đầm bãi màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê giai đoạn 1961 – 2017, toàn vùng đã ghi nhận 110 cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp, tương ứng với tần suất trung bình từ 2,0 đến 2,5 cơn mỗi năm. Tình trạng biến đổi khí hậu khiến hiện tượng nước dâng do bão diễn biến ngày càng phức tạp, kết hợp với chế độ nhật triều có độ lớn triều lên tới 2,0 – 2,5 m, đẩy mực nước dâng tổng cộng tại một số vị trí lên mức 3,0 – 3,5 m. Hiện tượng này gây ngập lụt nghiêm trọng, phá hủy hệ thống đê kè và trực tiếp đe dọa sinh kế của 148.497 lao động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại 23 quận, huyện, thị xã ven biển.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ các hạn chế trong việc triển khai Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phân cấp cấp độ rủi ro thiên tai. Văn bản này chưa đưa ra các tiêu chí phân vùng rủi ro chi tiết cho từng khu vực địa lý đặc thù và từng ngành kinh tế riêng biệt. Luận văn hướng tới mục tiêu xây dựng cơ sở khoa học vững chắc, thiết lập quy trình tính toán thủy động lực và lượng hóa bộ chỉ số rủi ro nhằm phân cấp cấp độ rủi ro thiên tai do nước dâng bão cho lĩnh vực thủy sản tại 5 tỉnh, thành phố ven biển Bắc Bộ gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp công cụ định lượng hỗ trợ các nhà quản lý chuyển đổi từ phương thức ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa. Kết quả phân cấp rủi ro chi tiết giúp tối ưu hóa nguồn lực đầu tư công trình bảo vệ bờ biển, giảm thiểu thiệt hại kinh tế hàng trăm tỷ đồng mỗi năm cho ngành thủy sản và bảo vệ an toàn sinh kế cho hàng vạn hộ dân ven bờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết đánh giá rủi ro thiên tai hiện đại của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC 2012) và Báo cáo đặc biệt về quản lý rủi ro thiên tai SREX (2015). Khung lý thuyết này mở rộng từ mô hình tam giác rủi ro của Crichton (2002), kim tự tháp rủi ro ba chiều của Dwyer (2004) và quan điểm của Trung tâm Giảm nhẹ Thiên tai Châu Á (ADRC 2005). Theo đó, rủi ro thiên tai (Risk - R) được hình thành từ mối quan hệ tương hỗ của ba thành phần cốt lõi:

$$R = f(H, E, V)$$

Hệ thống khái niệm chính được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  • Hiểm họa (Hazard - H): Khả năng xuất hiện, cường độ và phạm vi ngập lụt của hiện tượng nước dâng do bão kết hợp triều cường tại dải ven bờ.
  • Mức độ phơi bày (Exposure - E): Sự hiện diện về không gian của các đối tượng chịu tác động, bao gồm 148.497 lao động thủy sản, diện tích hơn 31.525 ha đầm nuôi mặn lợ và hệ thống cơ sở hạ tầng ven biển.
  • Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability - V): Khuynh hướng và mức độ nhạy cảm của hệ thống sinh kế nghề cá trước tác động bất lợi, đồng thời tích hợp năng lực chống chịu và khả năng phục hồi của cộng đồng địa phương.
  • Cấp độ rủi ro thiên tai (R): Mức độ tổn thất tiềm tàng tổng hợp về người, tài sản và các hoạt động kinh tế - xã hội khi hiểm họa xảy ra trên một vùng có độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương xác định.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được xây dựng đồng bộ từ cơ sở dữ liệu quốc gia và quốc tế. Số liệu khí tượng bão gồm quỹ đạo và cường độ của 110 cơn bão từ năm 1961 đến 2017 do Trung tâm Dự báo Bão Quốc tế Digital Typhoon cung cấp. Bản đồ nền địa hình, địa mạo và bình đồ mặt cắt đáy biển tỷ lệ 1:10.000 do Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định. Dữ liệu mực nước thực đo tại trạm hải văn Hòn Dáu trong giai đoạn 1975 – 2017 được sử dụng để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình. Dữ liệu kinh tế - xã hội, dân số và hiện trạng nuôi trồng thủy sản được trích xuất từ Niên giám thống kê giai đoạn 2016 – 2017 của 5 tỉnh, thành phố ven biển.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa mô phỏng số trị thủy động lực và phân tích không gian đa tiêu chí:

  • Mô phỏng trường khí áp và trường gió bão dựa trên mô hình xoáy thuận nhiệt đới Boose (1994), cho phép tái hiện chi tiết phân bố gió tại các bán kính gió cực đại.
  • Mô hình thủy động lực hai chiều MIKE 21 FM của Viện Thủy lực Đan Mạch được ứng dụng để mô phỏng dòng chảy và nước dâng. Phương pháp này giải hệ phương trình nước nông Navier-Stokes hai chiều trên lưới phi cấu trúc với 3.526 nút tính. Miền tính bao phủ toàn bộ Biển Đông với độ phân giải mịn đạt 50 m tại cửa sông và thô dần ra ngoài khơi với kích thước mắt lưới 25 km. Kỹ thuật biên di động và thuật toán khô – ướt được áp dụng để mô phỏng chính xác hiện tượng nước tràn bờ tại bãi triều. Bộ thông số vận hành mô hình được cố định với bước thời gian 30 giây, số Courant-Friedrich-Levy (CFL) kiểm soát nghiêm ngặt dưới 0,8, hệ số nhớt rối Smagorinsky đạt 0,28 và hệ số nhám đáy Manning đạt 43 $m^{1/3}/s$.
  • Đánh giá phân cấp rủi ro sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên chỉ thị (Indicator-based approach), chuẩn hóa dữ liệu về thang điểm từ 0 đến 1 và tích hợp bằng công nghệ Hệ thông tin địa lý (ArcGIS, MapInfo).

Cỡ mẫu dữ liệu bao gồm 110 cơn bão lịch sử, tiến hành mô phỏng chuyên sâu trên các cơn bão điển hình có cường độ lớn và gây thiệt hại nặng nề như Niki (1996), Wukong (2000) và Damrey (2005). Toàn bộ 23 quận, huyện ven biển được chọn mẫu toàn phần nhằm đảm bảo tính bao quát tuyệt đối. Lý do lựa chọn mô hình MIKE 21 FM và cách tiếp cận chỉ thị IPCC là do khả năng xử lý bài toán thủy động lực vùng bãi triều phức tạp với độ ổn định cao, đồng thời cho phép liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố vật lý hải văn với dữ liệu kinh tế - xã hội vi mô.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng và tính toán phân cấp rủi ro đã mang lại bốn phát hiện khoa học mang tính đột phá:

Thứ nhất, quy luật phân bố độ cao nước dâng do bão có sự phân hóa không gian rõ rệt theo chiều Bắc – Nam. Dọc theo đường bờ biển, giá trị nước dâng cao nhất ghi nhận tại khu vực ven biển Quảng Ninh đạt từ 3,0 đến 3,5 m. Trong khi đó, tại các tỉnh phía nam đồng bằng Bắc Bộ gồm Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình, biên độ nước dâng cực đại dao động trong khoảng từ 2,0 đến 2,5 m. Khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng là tâm điểm đón bão với tỷ lệ bão đổ bộ chiếm khoảng 14% tổng số cơn bão ảnh hưởng đến toàn dải bờ biển Việt Nam, vận tốc gió bão lớn nhất ghi nhận đạt từ 40 đến 45 m/s.

Thứ hai, mô hình tính toán đạt độ tin cậy và chuẩn xác vượt trội qua các chỉ số kiểm nghiệm thực nghiệm. Khi kiểm nghiệm trường gió bão Boose, độ lệch sai số (BIAS) của bão Niki (1996) đạt 2,71 m/s với sai số trung bình quân phương (RMSE) là 4,38 m/s; bão Damrey (2005) đạt BIAS là -1,50 m/s và RMSE là 4,07 m/s. Đối với kiểm nghiệm mực nước dâng tại trạm Hòn Dáu, hệ số tương quan giữa chuỗi số liệu tính toán và thực đo đạt mức $R^2 = 0,95$ trong bão Damrey (2005) với sai số đỉnh chỉ 2,9 cm, và đạt $R^2 = 0,97$ trong bão Wukong (2000) với sai số tuyệt đối tại đỉnh chỉ 2,1 cm.

Thứ ba, sự phân bổ nguồn lực lao động và mức độ phơi bày kinh tế thủy sản tập trung rất cao tại một số địa bàn trọng điểm. Toàn vùng có 148.497 lao động tham gia hoạt động thủy sản, bao gồm 33.464 lao động chuyên nghiệp, 42.796 lao động kiêm nghề và 72.237 lao động phụ trợ. Các địa phương có quy mô phơi bày cao nhất gồm huyện Thái Thụy với 14.803 người, thị xã Quảng Yên với 12.908 người, huyện Thủy Nguyên với 11.546 người, huyện Hải Hậu với 10.431 người và huyện Tiền Hải với 10.122 người. Giá trị sản xuất ngành nuôi trồng thủy sản tại Hải Phòng đạt 602 tỷ đồng năm 2016 (tăng trưởng bình quân 6,83%/năm giai đoạn 2010 – 2016), Nam Định đạt giá trị canh tác 160 – 715 triệu đồng/ha/năm sau chuyển đổi, và Ninh Bình phát triển 31.525 ha diện tích mặn lợ với sản lượng 17.020 tấn năm 2017.

Thứ tư, cấp độ rủi ro thiên tai tổng hợp do nước dâng bão đối với lĩnh vực thủy sản biểu hiện mức độ phân hóa cao độ giữa 23 đơn vị hành chính ven biển. Các địa bàn có cấp độ rủi ro cao nhất tập trung tại các huyện có diện tích đầm bãi nước lợ rộng lớn, cửa sông nông và mật độ cơ sở nuôi trồng dày đặc như Quảng Yên, Tiền Hải, Thái Thụy, Giao Thủy, Hải Hậu và Kim Sơn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng cực đoan của độ cao nước dâng tại ven biển Bắc Bộ là do đặc điểm địa hình đáy biển nông với độ sâu trung bình toàn vịnh chỉ khoảng 38,5 m kết hợp đường bờ biển dạng phễu thu hẹp về phía bắc. Cấu trúc địa hình chia cắt mạnh với hơn 2.300 hòn đảo lớn nhỏ tại Quảng Ninh cùng hệ sinh thái cửa sông lớn tạo hiệu ứng dồn ứ nước khi bão di chuyển theo hướng Tây Bắc hoặc Tây Tây Bắc. Khi bão đổ bộ trùng thời điểm triều cường trong chu kỳ nhật triều, hiện tượng cộng hưởng sóng lừng và nước dâng đẩy mực nước tổng cộng vượt qua cao trình đê bao nuôi trồng thủy sản.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, các đề tài của Nguyễn Mai Đăng (2010) tại sông Đáy hay Đặng Đình Khá (2011) tại sông Thạch Hãn chỉ tiếp cận rủi ro đơn giản qua hai thành phần là hiểm họa và tính dễ bị tổn thương ($R = H \times V$), bỏ qua yếu tố không gian của mức độ phơi bày. So với cách tiếp cận thuần túy vật lý của Viện Hải dương học Quốc gia Ấn Độ (INCOIS, 2016) vốn chỉ phân cấp theo độ sâu nước dâng, nghiên cứu này đã tích hợp đầy đủ ba khía cạnh tự nhiên, kỹ thuật và kinh tế - xã hội. Kết quả này phản ánh chính xác thực tế thiệt hại: một khu vực có nước dâng 2,0 m nhưng tập trung hàng chục nghìn hecta tôm cá thâm canh sẽ chịu rủi ro cao hơn nhiều so với khu vực có nước dâng 3,0 m nhưng là vùng vách đá không có hoạt động kinh tế.

Dữ liệu tính toán của luận văn được cấu trúc hóa tối ưu để trình bày trực quan qua các hệ thống biểu đồ và bản đồ chuyên đề. Biểu đồ đường biến trình và tương quan phân tán giúp kiểm chứng độ khớp của các đỉnh sóng triều; trong khi bản đồ GIS phân vùng rủi ro đa lớp sử dụng thang màu chuẩn hóa từ xanh lục (rủi ro thấp) đến đỏ thẫm (rủi ro rất cao). Bảng ma trận tổng hợp chỉ số $H, E, V, R$ cho từng huyện giúp cơ quan quản lý tra cứu nhanh chóng mức độ rủi ro phục vụ quy hoạch tác chiến.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân cấp rủi ro, bốn nhóm giải pháp hành động chiến lược được đề xuất nhằm giảm thiểu thiệt hại do nước dâng bão cho dải ven biển Bắc Bộ:

Thứ nhất, nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm và dự báo nước dâng theo thời gian thực. Tổng cục Khí tượng Thủy văn cần tích hợp mô hình số trị MIKE 21 FM và mô hình trường gió Boose vào quy trình tác nghiệp dự báo bão quốc gia. Mục tiêu đặt ra là nâng cao độ chính xác dự báo đỉnh nước dâng với sai số dưới 15 cm trước khi bão đổ bộ từ 24 đến 48 giờ. Thời gian hoàn thành việc tích hợp công nghệ và chuyển giao cho các trạm quan trắc ven bờ dự kiến trong giai đoạn 2024 – 2026.

Thứ hai, tái cấu trúc và điều chỉnh quy hoạch không gian nuôi trồng thủy sản thích ứng biến đổi khí hậu. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 5 tỉnh ven biển cần chủ trì rà soát, chuyển đổi khoảng 20% đến 30% diện tích đầm nuôi tại các vùng có nguy cơ rủi ro rất cao (như Quảng Yên, Tiền Hải, Hải Hậu, Kim Sơn) sang mô hình nuôi thâm canh công nghệ cao có mái che kiên cố hoặc điều chỉnh lịch thời vụ nhằm thu hoạch trước mùa bão cao điểm từ tháng 7 đến tháng 9. Lộ trình thực hiện quy hoạch hoàn thành trước quý IV năm 2027.

Thứ ba, củng cố hạ tầng công trình phòng hộ kết hợp giải pháp sinh thái dựa vào tự nhiên. Ban Quản lý Dự án Nông nghiệp và Chi cục Thủy lợi các địa phương cần ưu tiên nguồn vốn nâng cấp hệ thống đê biển đạt chuẩn chống chịu bão cấp 11 – 12 và mực nước dâng 3,5 m. Song song đó, triển khai trồng mới và phục hồi tối thiểu 1.500 ha rừng ngập mặn chắn sóng ven đê nhằm giảm từ 20% đến 25% năng lượng sóng tác động trực tiếp vào vùng nuôi trồng thủy sản. Kế hoạch đầu tư thực hiện liên tục trong giai đoạn 2025 – 2030.

Thứ tư, xây dựng chính sách bảo hiểm rủi ro thiên tai và nâng cao năng lực chống chịu cộng đồng. Ủy ban nhân dân các huyện ven biển phối hợp với Hiệp hội Thủy sản tổ chức tập huấn kỹ năng ứng phó cho 100% của 148.497 lao động nghề cá. Đồng thời, ban hành cơ chế trợ giá phí bảo hiểm nông nghiệp cho các hộ nuôi trồng thủy sản, phấn đấu đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm rủi ro thiên tai trên 50% diện tích nuôi mặn lợ vào năm 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu và hệ thống dữ liệu số trị trong luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Một là, Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng, chống Thiên tai và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai cấp tỉnh. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng trực tiếp bản đồ phân cấp rủi ro để xây dựng kịch bản di dân, thiết lập phương án bảo vệ các tuyến đê xung yếu và phân bổ nguồn lực ứng cứu khẩn cấp theo mức độ nguy hiểm thực tế của từng địa bàn.

Hai là, Cơ quan quản lý ngành nông nghiệp và quy hoạch thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy sản các tỉnh). Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng phơi bày sinh kế của 148.497 lao động và hơn 31.525 ha diện tích mặt nước, làm cơ sở khoa học để cấp phép vùng nuôi an toàn, hạn chế đầu tư tự phát vào các ô rủi ro cao.

Ba là, Các viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia trong lĩnh vực Khí tượng - Thủy văn - Hải dương học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp thiết lập lưới phi cấu trúc trong mô hình MIKE 21 FM, cách thức xử lý thuật toán khô – ướt và quy trình hiệu chỉnh bộ thông số Manning 43 $m^{1/3}/s$ phục vụ các bài toán mô phỏng hải văn ven bờ.

Bốn là, Các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nuôi trồng thủy sản quy mô lớn ven biển. Doanh nghiệp có thể tra cứu chỉ số rủi ro khu vực để lựa chọn vị trí đầu tư trang trại, tính toán độ cao bờ bao ao đầm hợp lý và chủ động mua bảo hiểm nông nghiệp bảo toàn vốn kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

Nước dâng do bão tại ven biển Bắc Bộ có những đặc thù thủy văn nào so với các khu vực khác? Hiện tượng nước dâng tại đây chịu tác động cộng hưởng mạnh mẽ của địa hình đáy vịnh nông với độ sâu trung bình 38,5 m và chế độ nhật triều có biên độ lớn 2,0 – 2,5 m. Khi bão đổ bộ, độ cao nước dâng có thể đạt mức kỷ lục 3,0 – 3,5 m tại Quảng Ninh, tạo nên nguy cơ ngập lụt ven bờ lớn nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Khung lý thuyết IPCC định lượng rủi ro thiên tai thông qua những thành phần nào? Rủi ro thiên tai được xác định qua hàm toán học tích hợp ba hợp phần $R = f(H, E, V)$. Trong đó, $H$ là mức độ hiểm họa tự nhiên từ độ sâu nước dâng, $E$ là mật độ phơi bày của 148.497 lao động cùng hệ thống cơ sở hạ tầng, và $V$ là tính dễ bị tổn thương gắn liền với năng lực chống chịu kinh tế của cộng đồng địa phương.

Mô hình số trị MIKE 21 FM đạt độ tin cậy ra sao khi tính toán nước dâng do bão? Kết quả kiểm định với số liệu thực tế tại trạm hải văn Hòn Dáu trong các cơn bão lịch sử như Damrey (2005) và Wukong (2000) cho thấy hệ số tương quan đạt từ $R^2 = 0,95$ đến $0,97$. Sai số đỉnh nước dâng chỉ dao động từ 2,1 đến 2,9 cm, khẳng định mô hình hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt.

Tại sao cần phân cấp cấp độ rủi ro riêng biệt cho lĩnh vực nuôi trồng thủy sản? Nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế ven bờ có mức độ phơi bày tài sản ngoài trời cao và nhạy cảm trực tiếp với biến động mực nước. Việc phân cấp riêng giúp cơ quan quản lý định lượng chính xác thiệt hại kinh tế tiềm tàng, khắc phục sự chung chung của Quyết định 44/2014/QĐ-TTg và đưa ra phương án bảo vệ cụ thể cho từng đối tượng nuôi.

Những địa phương ven biển nào tại Bắc Bộ có cấp độ rủi ro cao nhất? Các huyện có cấp độ rủi ro rất cao bao gồm Quảng Yên, Vân Đồn (Quảng Ninh), Thủy Nguyên (Hải Phòng), Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình), Hải Hậu, Giao Thủy (Nam Định) và Kim Sơn (Ninh Bình). Đây là những địa bàn vừa nằm trong vùng nước dâng trên 2,5 m vừa tập trung trên 10.000 lao động thủy sản mỗi huyện.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công cơ sở khoa học hoàn chỉnh để phân cấp cấp độ rủi ro thiên tai do nước dâng bão cho khu vực ven biển Bắc Bộ thông qua việc kết hợp mô hình thủy động lực MIKE 21 FM và khung chỉ số IPCC.
  • Đã phân tích toàn diện chuỗi số liệu 110 cơn bão lịch sử giai đoạn 1961 – 2017, làm rõ đặc trưng phân bố nước dâng cực đại từ 2,0 đến 3,5 m tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Ninh Bình.
  • Lượng hóa chi tiết bức tranh phơi bày sinh kế của 148.497 lao động thủy sản và hàng chục nghìn hecta ao đầm ven biển tại 23 quận, huyện, thị xã.
  • Thành lập hệ thống bản đồ số và bảng chỉ số phân cấp rủi ro chi tiết cấp huyện, tạo ra công cụ đột phá giúp hoàn thiện các khoảng trống trong việc thực thi Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ từ nâng cao năng lực dự báo thời gian thực đến điều chỉnh quy hoạch không gian sinh thái bền vững.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2025 đến 2030, hướng nghiên cứu cần được tiếp tục mở rộng để tích hợp các kịch bản nước biển dâng do biến đổi khí hậu cực đoan và nhân rộng phương pháp luận cho toàn bộ dải ven biển miền Trung và Nam Bộ. Các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cần nhanh chóng ứng dụng bộ chỉ số phân cấp rủi ro này vào kế hoạch phòng chống thiên tai và quy hoạch phát triển kinh tế biển bền vững ngay từ hôm nay.