Chương 1: Cơ sở khoa học về NLĐ và SDLĐ - Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến NLĐ và SDLĐ ở TP. Hải Phòng - Chương 3: Thực trạng NLĐ và SDLĐ ở TP. Hải Phòng - Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển NLĐ và SDLĐ ở TP. Hải Phòng 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NGUỒN LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu NLĐ và SDLĐ, với vai trò quan trọng nhiều mặt, là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học như Kinh tế phát triển, Kinh tế lao động, Kinh tế nguồn nhân lực, Kinh tế chính trị, Địa lý kinh tế. Những vấn đề về NLĐ và SDLĐ đã trở thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu trên thế giới Thực tế, những vấn đề về lao động đã được đề cập đến trong các học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh từ thế kỷ XVII, XVIII. William Petty là người đầu tiên đưa ra nguyên lý về giá trị lao động và khẳng định “lao động là cha của của cải và đất đai là mẹ của của cải”.
Học thuyết kinh tế của Adam Smith cũng đưa ra những lý luận về giá trị - lao động. Theo ông, lao động là thước đo giá trị, là thực thể giá trị của hàng hoá, là nguồn gốc của sự giàu có của các quốc gia (dẫn theo [119]). Đặc biệt, những lý luận về phân công lao động của ông cũng có thể xem như đã đề cập đến vấn đề sử dụng hiệu quả lao động khi cho rằng phân công lao động sẽ làm tăng thêm hiệu suất lao động, tăng năng suất lao động. Tiếp theo đó, David Ricardo, người có đóng góp to lớn cho học thuyết giá trị lao động, đã cho rằng, lao động là một trong ba yếu tố cơ bản và quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.
Đến học thuyết kinh tế chính trị của Marx - Engels, lao động đã trở thành một nội dung quan trọng được nghiên cứu với hàng loạt các phạm trù liên quan như: lực lượng sản xuất, hàng hoá sức lao động, sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động, năng suất lao động…, trong đó, sức lao động (tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động) là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Có thể nói, dựa trên quan điểm lịch sử, Marx đã thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị - lao động. Học thuyết kinh tế của John Maynard Keynes lại dành riêng một mảng luận giải những lý thuyết chung về một vấn đề rất quan trọng trong SDLĐ, đó là việc làm. Lý thuyết của Keynes chỉ ra rằng, để tạo thêm việc làm, toàn dụng lao động, cần phải tăng tổng cầu nền kinh tế thông qua đầu tư với sự điều tiết bởi “bàn tay hữu hình” của Nhà nước.
Trong kinh tế học hiện đại, việc SDLĐ còn được đề cập thông qua lý thuyết tạo việc làm của nhiều nhà kinh tế khác. Arthur Lewis – nhà kinh tế học gốc 12 Jamaica, được giải Nobel năm 1979, đưa ra lý thuyết tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế: từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại, góp phần nâng cao năng suất, tạo việc làm lao động dôi dư trong nông nghiệp; đồng thời làm tăng lợi nhuận trong công nghiệp, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế (dẫn theo [117]). Trong khi đó, Harry T.Oshima, một nhà kinh tế Nhật Bản, lại hướng đến việc tạo việc làm đầy đủ cho lao động nông nghiệp mùa nông nhàn, sử dụng lao động nông nghiệp nhàn rỗi vào các ngành sản xuất công nghiệp cần nhiều lao động khi nghiên cứu trường hợp các nước đang phát triển ở khu vực Châu Á gió mùa (dẫn theo [117]). Trong chuyên ngành kinh tế lao động, NLĐ và SDLĐ được đề cập gắn với những vấn đề về thị trường, cung cầu lao động, vấn đề việc làm, thất nghiệp và các chính sách liên quan.
Nghiên cứu của Lois Recascino Wise [115] đã tập trung vào các chính sách về thị trường lao động trong nền kinh tế Mĩ, phân tích các xu hướng thay đổi mang tính chất động lực trong cung và cầu của thị trường lao động, nguyên nhân và cơ cấu thất nghiệp. Trong khi đó, các tác giả trong [105] lại chỉ ra những hạn chế về chính sách lao động ở một số nước Mĩ La tinh thông qua một khung phân tích định lượng để các nước đang phát triển khác có thể tham khảo, rút kinh nghiệm trong quá trình cải cách chính sách lao động. Liên quan đến vấn đề việc làm gắn với việc gia tăng tỷ lệ tham gia LLLĐ, báo cáo “Working for Australia’s future: Increasing participation in the workforce” [107] đã chỉ ra những thách thức đối với Australia trong bối cảnh dân số già hoá và xác định chiến lược cũng như các chính sách có tính chất chìa khoá nhằm thúc đẩy sự gia tăng tỷ lệ tham gia LLLĐ của quốc gia này. NLĐ là một trong những nguồn lực quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Vì vậy, từ những năm 50 của thế kỷ trước, xuất hiện một khái niệm mới là nguồn nhân lực (human resource), với hàm ý nhấn mạnh vai trò của NLĐ như một nguồn lực, một nguồn vốn – vốn con người – vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các công trình nghiên cứu về lao động dưới góc độ nguồn nhân lực (NNL) trên thế giới rất phong phú. Trong đó, vấn đề quản lý NNL là khía cạnh đặc biệt thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như các tác giả Lloyd L.Byars và Leslie W.Leap và Michael D.Crino [111]… Điển hình như cuốn “Human resources in the 21st century” [104] là công trình khảo sát, nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu về 13 quản lý nhân lực, đưa ra các ý tưởng về tổ chức, lãnh đạo, tận dụng nguồn chất xám, phân bố lao động cũng như phương thức quản lý, phát triển nguồn nhân lực. Nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực cũng là hướng thu hút nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, trong đó có cuốn “Human Resource Development: Theory and Practice” [112] đã tổng quan tương đối toàn diện các vấn đề lý thuyết và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực.Jones và Terence H.
Hull trong “Indonesia assessement: Population and human resources” trên cơ sở phân tích thực trạng và khuynh hướng phát triển dân số, nguồn nhân lực Indonesia đã chỉ ra vai trò của phát triển nhân lực đối với kinh tế, chính trị của quốc gia này [114]. Dưới góc độ địa lý học, NLĐ và SDLĐ là một trong những đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành Địa lý kinh tế, với ý nghĩa một nguồn lực quan trọng cho sản xuất, cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt, trong thập niên 1990, thuật ngữ “địa lý lao động” xuất hiện với khuynh hướng nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của người lao động và những nhân tố liên quan đến lao động đang ngày càng trở nên đa dạng dưới góc độ địa lý, đã nhận được sự ủng hộ của khá nhiều nhà khoa học. Ý tưởng này có thể bắt nguồn từ những tác phẩm của các nhà địa lý kinh tế vào những năm 1970 (dẫn theo [103]) và đến năm 1997, Andrew Herod, nhà địa lý học người Mỹ được xem như người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này trong những nghiên cứu của mình [106].
Tiếp theo, Noel Castree [103] đề cập thêm nhiều khía cạnh của địa lý lao động, bao hàm cả những vấn đề liên quan đến các tổ chức lao động, đến di cư lao động… Các tác giả Peter Brogan và Steven Tufts (Trường Đại học York, Canada) cũng cho rằng địa lý lao động chính là những nghiên cứu mang tính địa lý về việc làm, lao động có việc làm và nơi làm việc [101]. Như vậy, NLĐ và SDLĐ là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học, nhiều nhà khoa học và nhiều tổ chức nghiên cứu. Trong số đó, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hiện đang là một trong những cơ quan phối hợp với Chính phủ các quốc gia, với các tổ chức khác và với các nhà khoa học nghiên cứu khá nhiều vấn đề liên quan đến NLĐ, sử dụng lao động – việc làm cả về lí thuyết và thực tiễn [102], [108], [109]. Tất cả những nghiên cứu trên đều là nguồn tài liệu tham khảo rất quan trọng và có ý nghĩa đối với luận án.
Các nghiên cứu ở Việt Nam + Nghiên cứu về nguồn lao động 14 Ở Việt Nam, những nghiên cứu về NLĐ rất phong phú, đa dạng. Những nghiên cứu này thường không chỉ đơn giản là phân tích, đánh giá NLĐ theo những tiêu chí về số lượng, chất lượng mà luôn đề cập gắn với những khía cạnh cụ thể. * Nguồn lao động và vấn đề việc làm NLĐ luôn gắn với vấn đề việc làm. Đây là hướng nghiên cứu thu hút khá nhiều nhà khoa học.
Năm 2001, mười lăm năm sau thời điểm Đổi mới, các tác giả Nolwen Henaff và Jean-Yves Martin [29] đã biên soạn cuốn sách tập hợp bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước về tình hình lao động, việc làm và nguồn nhân lực của nước ta từ sau năm 1986 đến năm 2000. Cùng với đó, một loạt các công trình, bài báo của các tác giả như Lê Xuân Bá, Trần Hữu Hân và Nguyễn Thị Kim Dung [3], Đinh Đăng Định [22], Nguyễn Hữu Dũng [23], Trần Thị Bích Hằng [27], Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa [32], Nguyễn Vi Khải [40], Đặng Tú Lan [44], Phan Thị Ngọc Trâm [83]… đã đề cập một cách tổng quát hoặc phân tích, lý giải một vài khía cạnh có liên quan đến vấn đề lao động - việc làm nói chung của Việt Nam cũng như một số vùng lãnh thổ. Đặc biệt có ý nghĩa là các cuộc “Điều tra lao động và việc làm Việt Nam” do Bộ LĐTB&XH thực hiện từ năm 1996 cho đến 2007, được tiến hành hàng năm nhằm đo lường các xu hướng có liên quan đến dân số trong và ngoài LLLĐ, cung cấp những thông tin cơ bản về thị trường lao động (số lượng, mức độ tham gia vào thị trường lao động, nhóm tuổi, trình độ CMKT, việc làm, thất nghiệp…), cũng như giám sát sự phát triển của thị trường lao động nước ta. Từ 2008, điều tra lao động việc làm do Tổng cục Thống kê tiến hành.
Đây có thể xem là nguồn dữ liệu đầu vào chính thống và quan trọng cho những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề lao động và việc làm của Việt Nam.