Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số 9340105) với đề tài "Nghiên cứu nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Oudomphone SIVONGSA, dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn gồm PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân và TS. Trương Duy Hòa, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2022).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bản chất của nghèo mang tính đa chiều; người nghèo tại cùng một thời điểm phải đối mặt với nhiều thiếu hụt, bao gồm cả những khía cạnh quy đổi được bằng tiền và những khía cạnh phi tiền tệ như tiếp cận giáo dục, dịch vụ y tế, điều kiện nhà ở, nguồn nước hợp vệ sinh và thông tin. Trước đây, các nghiên cứu và chính sách tại Lào chủ yếu tiếp cận theo thước đo đơn chiều dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không phản ánh toàn diện tình trạng thiếu thốn thực tế và dễ bỏ sót các hộ cận nghèo hoặc hộ có nguy cơ tái nghèo cao.
Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào), Nam Lào là khu vực có tỷ lệ nghèo cao nhất cả nước. Tỉnh Salavan thuộc Nam Lào là địa bàn có nhiều đặc trưng đại diện với địa hình đồi núi phức tạp, chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, cơ sở hạ tầng nông thôn còn hạn chế. Trong giai đoạn 2011–2020, tỉnh Salavan đã đạt được kết quả giảm nghèo đáng kể: tỷ lệ hộ nghèo giảm hơn 18%, bình quân mỗi năm giảm 6,3% (tương đương trên 6.000 hộ thoát nghèo). Dù vậy, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ cận nghèo và hộ phát sinh còn lớn, thu nhập của nhiều hộ vừa thoát nghèo nằm sát ngưỡng nghèo, nguy cơ tái nghèo cao. Mặt khác, các công trình khoa học trước đây tại Lào chủ yếu tập trung vào khía cạnh quản lý nhà nước về xóa đói giảm nghèo hoặc nghiên cứu mô tả theo số liệu thứ cấp đơn chiều, thiếu vắng các nghiên cứu ứng dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều kết hợp khảo sát sơ cấp tại cấp tỉnh. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều tại Salavan là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn và lý luận.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định mục tiêu chung và 4 mục tiêu cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu về nghèo đa chiều và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan cũng như áp dụng trong cả nước Lào.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa được cơ sở và lý luận về nghèo đa chiều.
- Phân tích thực trạng nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan.
- Xác định và phân tích được các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan.
- Đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng nghèo đa chiều ở Salavan nói riêng và Lào nói chung.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận nào cho nghèo đa chiều?
- Các tiêu chí và chỉ tiêu nào có thể sử dụng để đánh giá nghèo đa chiều giai đoạn 2011–2020?
- Thực trạng nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan? Đâu là những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan?
- Định hướng và những giải pháp nào nhằm xóa nghèo bền vững cho tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan.
- Phạm vi không gian: Tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào (bao gồm 8 huyện trên địa bàn tỉnh).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2011–2020; số liệu sơ cấp được điều tra trong năm 2020; các giải pháp đề xuất định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào đo lường nghèo đa chiều và phân tích các nhóm yếu tố tác động đến nghèo đa chiều cấp hộ gia đình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm chủ đề:
-
Các nghiên cứu về nghèo đơn chiều:
Các nghiên cứu tập trung vào khía cạnh kinh tế, thu nhập và chi tiêu, tiêu biểu như: Ngân hàng Thế giới (World Bank - 2012) với báo cáo "Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành. Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới"; Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2011) với công trình "Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức"; Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB - 2004) với "Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004: Nghèo". Các tác giả này chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế giúp giảm tỷ lệ nghèo nhanh nhưng dễ dẫn đến nguy cơ tái nghèo do các cú sốc kinh tế và sức khỏe, đồng thời chuẩn nghèo tiền tệ chưa phản ánh hết mức độ nghèo thực tế tại các địa phương cụ thể.
-
Các nghiên cứu về nghèo đa chiều:
- Nghiên cứu quốc tế: Udaya R. Wagle (2008) xem xét nghèo tại Mỹ dựa trên phúc lợi kinh tế, năng lực và hòa nhập xã hội; Ki, Faye và Faye (2009, trích trong Asselin, 2009) xác định các chỉ báo giáo dục, sức khỏe, nước sạch, dinh dưỡng, nhà ở, vệ sinh, năng lượng, thông tin và tài sản tại Senegal; Crooks (1995) phân tích tác động của nghèo đến sức khỏe và tăng trưởng của trẻ em; Alkire và Santos (2010) đề xuất khung 3 chiều và 10 chỉ số cho Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP); Ramya M. Vijaya (2014) khảo sát 4 tiêu chí (giáo dục, mức sống, tài sản, trao quyền) với 11 chỉ số tại Ấn Độ; Caroline Dewilde phân tích các khía cạnh nghèo đa chiều tại Châu Âu.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: UNDP và VASS (2006, 2011) ứng dụng chỉ số HDI và MPI; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UNICEF (2008) đo lường nghèo đa chiều ở trẻ em; Asselin và Vũ (2009) nghiên cứu 5 chiều nghèo tại Việt Nam; Trần Minh Sang (2012) đánh giá nghèo đa chiều tại Đông Nam Bộ; Ngô Quốc Dũng (2021) phân tích tác động của thể chế đến nghèo đa chiều; Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012) sử dụng phân tích đa biến khảo sát sinh kế nông thôn.
-
Các nghiên cứu về mô hình phát triển liên quan đến giảm nghèo:
- Tăng trưởng vì người nghèo (pro-poor growth): WB (2000), UN (2000), OECD (2001), DFID (2004), Dollar và Kraay (2002), Kakwani và Pernia (2000), Ravallion và Chen (2003), UNDP (2004).
- Tăng trưởng bao trùm (inclusive growth): WB (2009, 2011), IPC (2013), OECD (2014), Bell và Blanchflower (2015), Morsy (2012), IMF (2017), Dabla-Norris và cộng sự (2015), Ghosh và cộng sự (2016), Fabrizio và cộng sự (2017), Ostry và cộng sự (2014), UNDP (2015).
- Khung sinh kế bền vững: Cách tiếp cận dựa trên tài sản của UNDP (1997); khung chiến lược sinh kế của CARE (Chambers và Conway, 1992); khung 5 nguồn vốn sinh kế của DFID (2001); khung bổ sung vốn văn hóa của IFAD (2003).
-
Các nghiên cứu về giảm nghèo tại CHDCND Lào:
Tác giả điểm lại 4 luận án tiến sĩ tiêu biểu: Khăm Bay Malasinh (2007) nghiên cứu thực trạng nghèo nông thôn tại huyện Munlapamok, tỉnh Champasak; Sổm Phết Khămmani (2002) nghiên cứu thực trạng và giải pháp tại tỉnh Bolykhamsay; Kẹo Đa la Kon Soulivông (2005) khảo sát công tác xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Sekong; Bun lý Thong Phết (2011) nghiên cứu quản lý nhà nước về giảm nghèo vùng cao dân tộc Bắc Lào.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Từ việc tổng quan tài liệu, tác giả xác định 3 khoảng trống nghiên cứu chính:
- Thứ nhất: Các công trình hiện có chưa kết hợp phân tích mức độ hiệu quả của chính sách giảm nghèo với các đặc thù của địa bàn nghiên cứu trong mối tương quan với các chiều thiếu hụt đa chiều, khiến các giải pháp trước đây mang tính chung chung, chưa cá biệt hóa.
- Thứ hai: Tỉnh Salavan mang các đặc trưng riêng biệt về điều kiện tự nhiên, rủi ro thiên tai, cơ cấu hộ gia đình và trình độ văn hóa - xã hội so với các địa bàn khác nhưng chưa từng được đánh giá toàn diện dưới lăng kính nghèo đa chiều.
- Thứ ba: Hoạt động nghiên cứu nghèo đa chiều tại Lào còn rất hạn chế, chủ yếu dừng ở báo cáo mô tả sử dụng số liệu thứ cấp cấp vĩ mô, thiếu vắng các nghiên cứu thực địa thu thập số liệu sơ cấp cấp hộ gia đình để nhận diện cụ thể từng chỉ báo thiếu hụt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án tiếp thu quan niệm về nghèo của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Xã hội (Copenhagen, 1995), ESCAP (1993), Ngân hàng Thế giới, UNDP (2011) và Ngô Thắng Lợi (2013). Về phương pháp luận đo lường nghèo đa chiều, luận án ứng dụng khung lý thuyết và phương pháp Alkire - Foster (AF, 2007, 2010) của Sáng kiến Nghèo đói và Phát triển Con người Oxford (OPHI) kết hợp với chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều của Chính phủ Lào giai đoạn 2010–2020 (theo Quyết định số 285/QĐ-TTg và Quyết định số 406/QĐ-TTg).
Khung đo lường của luận án bao gồm 5 chiều nghèo và 10 chỉ báo cụ thể. Trọng số của các chiều được phân bổ ngang bằng nhau (mỗi chiều chiếm 20 điểm hoặc trọng số 0,2); hai chỉ báo trong cùng một chiều có trọng số ngang bằng nhau (mỗi chỉ báo chiếm 10 điểm hoặc trọng số 0,1), tổng điểm tối đa là 100 điểm (tương ứng giá trị 1,0). Hộ gia đình được xác định là nghèo đa chiều khi có mức độ thiếu hụt từ 1/3 tổng số chỉ báo đã gia trọng trở lên (tức đạt từ 33,3 điểm hoặc 0,333 điểm trở lên). Hộ thiếu hụt từ 20% đến dưới 33,3% được coi là dễ bị tổn thương, và hộ thiếu hụt từ 50% trở lên là hộ nghèo cùng cực.
| STT |
Chiều nghèo (Trọng số: 20 điểm / chiều) |
Chỉ báo đo lường (Trọng số: 10 điểm / chỉ báo) |
Ngưỡng xác định hộ gia đình bị thiếu hụt |
| 1 |
Giáo dục |
1. Trình độ giáo dục của người lớn |
Hộ có bất kỳ thành viên nào đủ 15 tuổi chưa bao giờ đi học hoặc hiện không còn đi học và không có bằng tốt nghiệp THCS hoặc không có bằng nghề. |
|
|
2. Tình trạng đi học của trẻ em |
Hộ có bất kỳ thành viên nào trong độ tuổi 5–14 chưa bao giờ đi học hoặc hiện không còn đi học. |
| 2 |
Y tế |
3. Tiếp cận dịch vụ y tế |
Hộ có bất kỳ thành viên nào trong 12 tháng qua đi khám chữa bệnh ít nhất 1 lần nhưng không đủ hoặc thiếu tiền chi trả. |
|
|
4. Tiếp cận bảo hiểm y tế (BHYT) |
Hộ có bất kỳ thành viên nào từ 6 tuổi trở lên không có BHYT. |
| 3 |
Nhà ở |
5. Chất lượng nhà ở |
Nhà ở của hộ thuộc loại nhà tạm, nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ. |
|
|
6. Diện tích nhà bình quân đầu người |
Diện tích nhà ở bình quân dưới 20 m²/người. |
| 4 |
Điều kiện sống |
7. Nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh |
Hộ không sử dụng các nguồn nước: nước máy vào nhà, nước máy công cộng, giếng khoan/giếng đào được bảo vệ, nước khe mó được bảo vệ, nước mưa, nước mua. |
|
|
8. Hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh |
Hộ không có hố xí/nhà tiêu thuộc các loại: tự hoại, bán tự hoại, cải tiến có ống thông hơi, hai ngăn. |
| 5 |
Tiếp cận thông tin |
9. Sử dụng dịch vụ viễn thông |
Hộ không có thành viên nào sử dụng điện thoại (cố định hoặc di động) và mạng Internet. |
|
|
10. Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin |
Hộ không sở hữu bất kỳ tài sản nào gồm: tivi (màu hoặc đen trắng), radio, máy tính (máy tính bàn, laptop, máy tính bảng). |
Về các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều, luận án kế thừa mô hình của Deutsch và Silber (2005), Vijaya và Swaminathan (2014), và Tsui (2002), kết hợp kết quả tham vấn chuyên gia để xác định 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm: (1) Các chính sách của Nhà nước; (2) Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; (3) Rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh; (4) Đặc điểm hộ gia đình; (5) Cơ sở hạ tầng.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án xác định phương pháp tiếp cận chủ đạo là tiếp cận định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả:
- Nghiên cứu tại bàn (desk research): Thu thập, tổng hợp các báo cáo văn bản quy phạm pháp luật, số liệu thống kê kinh tế - xã hội của Chính phủ Lào, Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào và Ủy ban nhân dân tỉnh Salavan giai đoạn 2011–2020.
- Phỏng vấn sâu và kỹ thuật Delphi: Thực hiện phỏng vấn sâu bán cấu trúc với thời lượng trung bình 60 phút/người. Quy trình áp dụng kỹ thuật Delphi để kiểm chứng chéo thông tin và hiệu chỉnh thang đo. Các nhóm đối tượng phỏng vấn gồm:
- Nhóm 1: Cán bộ, chuyên viên tại Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào.
- Nhóm 2: Cán bộ, chuyên viên tại UBND tỉnh Salavan và 9 phòng ban chức năng (Tài chính - Kế hoạch, Nội vụ, Tài nguyên - Môi trường, Tư pháp, Giáo dục - Đào tạo, Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội, Kinh tế - Hạ tầng, Văn hóa - Thông tin).
- Nhóm 3: Cán bộ chuyên viên quản lý tại 8 huyện thuộc tỉnh Salavan (mỗi huyện chọn 2 cán bộ đại diện, tổng số 16 cán bộ).
- Khảo sát thử nghiệm: Điều tra phỏng vấn thử 30 hộ gia đình tại Salavan để kiểm tra độ tin cậy và mức độ tương thích của bảng hỏi trước khi hoàn thiện công cụ thu thập dữ liệu chính thức.
- Phương pháp so sánh và thống kê mô tả: Sử dụng bảng biểu số liệu và biểu đồ để phân tích mức độ thiếu hụt của các hộ gia đình theo từng chiều nghèo, so sánh giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các huyện và đối chiếu với mức bình quân cả nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về nghèo đa chiều
Chương 1 làm rõ các nội dung lý luận nền tảng và bối cảnh thực tiễn:
- Khái niệm và chuẩn nghèo thu nhập: Phân tích các định nghĩa nghèo của các tổ chức quốc tế và chuẩn nghèo theo thu nhập của Lào theo Nghị định số 285/TTg. Chuẩn thu nhập bình quân cả nước của Lào được xác định là 261.000 kip/người/tháng (khu vực nông thôn miền núi là 253.000 kip/người/tháng; thành thị là 284.000 kip/người/tháng). Mức này quy đổi tương đương 24 USD/tháng (với tỷ giá 1 USD = 8.000 kip), xấp xỉ 0,8 USD/người/ngày (khoảng 6.400 kip/người/ngày), chỉ đủ mua khoảng 0,6 kg gạo/tháng mà không cân đối được cho các nhu cầu thiết yếu khác. Theo Sắc lệnh xây dựng bản và cụm bản phát triển, ngưỡng thu nhập hộ nghèo ở nông thôn dân tộc thiểu số là dưới 250.000 kip/tháng, thành thị là dưới 450.000 kip/tháng.
- Chuẩn bản nghèo và huyện nghèo tại Lào: Bản nghèo là bản có từ 50% tổng số hộ trở lên thuộc diện nghèo; hoặc bản không có trường học (hoặc có trường gần bản nhưng phải đi bộ trên 1 giờ); hoặc bản không có trạm y tế/hiệu thuốc (phải đi bộ đến bệnh viện huyện từ 2 giờ trở lên); hoặc bản thiếu nước sạch; hoặc bản không có đường ô tô đến nơi (hoặc đường chỉ đi được vào mùa khô). Huyện nghèo là huyện có từ 51% số bản trở lên là bản nghèo.
- Lý luận về nghèo đa chiều và chỉ số MPI: Giới thiệu phương pháp Alkire - Foster và sự chuyển dịch chính sách của Lào giai đoạn 2010–2020 theo Quyết định số 285/QĐ-TTg, tích hợp 5 dịch vụ xã hội cơ bản vào nhận diện hộ nghèo. Tỷ lệ nghèo đa chiều toàn quốc của Lào giảm từ 26,5% (năm 2011) xuống 18,3% (năm 2020).
- Phân tích 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng: Làm rõ cơ chế tác động của chính sách nhà nước (quy hoạch khu công nghiệp gây mất đất sản xuất, trợ cấp nông nghiệp, năng lực bộ máy thực thi, chính sách bình đẳng giới); điều kiện tự nhiên - kinh tế (địa hình hiểm trở, biến đổi khí hậu làm gia súc chết, dịch bệnh); rủi ro đời sống; đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình; và cơ sở hạ tầng nông thôn.
- Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Salavan: Đánh giá kinh nghiệm giảm nghèo đa chiều tại một số quốc gia và các tỉnh tại Lào (như Champasak, Bolykhamsay, Sekong), rút ra bài học về phân cấp quản lý, huy động nguồn lực và xây dựng cơ chế hỗ trợ có trọng tâm theo chỉ báo thiếu hụt.
Chương 2: Thực trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Chương 2 phản ánh bức tranh thực địa tại tỉnh Salavan:
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn: Salavan có 8 huyện, địa hình phân hóa giữa vùng đồng bằng và miền núi cao. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp tự cung tự cấp, tỷ lệ người dân biết chữ và có bằng cấp còn thấp, tỷ lệ phụ thuộc cao tại các nhóm hộ nghèo.
- Diễn biến nghèo giai đoạn 2011–2020: Giai đoạn 2011–2020 ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm trên 18%, bình quân mỗi năm giảm 6,3%, đưa hơn 6.000 hộ thoát nghèo. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của Salavan vẫn ở mức cao so với mặt bằng chung cả nước. Khoảng cách tỷ lệ nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn, cũng như giữa các dân tộc thiểu số tại vùng sâu vùng xa còn rất lớn.
- Đo lường mức độ thiếu hụt theo 5 chiều và 10 chỉ báo:
- Chiều Giáo dục: Tỷ lệ thiếu hụt về trình độ học vấn người lớn và tình trạng trẻ em bỏ học tập trung cao tại các huyện vùng sâu do thiếu trường lớp và rào cản ngôn ngữ.
- Chiều Y tế: Tỷ lệ tiếp cận BHYT và dịch vụ khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế; chi phí y tế tự chi trả vượt quá khả năng tài chính của các hộ nghèo khi gặp biến cố sức khỏe.
- Chiều Nhà ở: Phần lớn hộ nghèo nông thôn sống trong nhà tạm bợ, đơn sơ làm bằng tranh tre nứa lá; diện tích bình quân đầu người tại các hộ đông con dưới mức 20 m²/người.
- Chiều Điều kiện sống: Tỷ lệ thiếu hụt hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh và nguồn nước sinh hoạt an toàn còn phổ biến ở khu vực nông thôn; phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên chưa qua xử lý.
- Chiều Tiếp cận thông tin: Hộ nghèo vùng sâu thiếu các thiết bị nghe nhìn cơ bản (tivi, radio, máy tính) và khả năng tiếp cận dịch vụ viễn thông, mạng internet còn thấp.
- Đánh giá các yếu tố tác động và nguyên nhân hạn chế: Cơ sở hạ tầng giao thông kết nối các bản nghèo khó đi lại trong mùa mưa; nguồn vốn ngân sách phân bổ cho giảm nghèo còn dàn trải; tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước còn tồn tại ở một bộ phận người dân; năng lực của đội ngũ cán bộ thực thi chính sách tại cấp huyện, xã chưa đồng đều.
Chương 3: Định hướng và giải pháp giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp đến năm 2025, tầm nhìn 2030:
- Quan điểm và định hướng: Chuyển đổi căn bản nhận thức từ giảm nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang giảm nghèo đa chiều bền vững; ưu tiên lồng ghép các chỉ tiêu giảm nghèo đa chiều vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của tỉnh.
- Hệ thống 5 nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách giảm nghèo của Nhà nước: Rà soát, chuẩn hóa quy trình phân loại hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều; tăng cường phân cấp nguồn lực và nâng cao trách nhiệm giải trình của cán bộ cấp cơ sở.
- Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ hộ gia đình: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng từng vùng sinh thái; mở rộng tín dụng chính sách ưu đãi gắn với đào tạo kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm.
- Giải pháp ngăn chặn và phòng chống rủi ro thiên tai, dịch bệnh: Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai, hỗ trợ khôi phục sản xuất sau lũ lụt, hạn hán; triển khai các gói bảo hiểm nông nghiệp và tiêm phòng dịch bệnh cho gia súc.
- Nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng: Tập trung nguồn vốn kiên cố hóa hệ thống đường giao thông liên bản, liên xã để đảm bảo đi lại trong cả mùa mưa; đầu tư mạng lưới điện nông thôn, trường học, trạm y tế xã và công trình cấp nước sinh hoạt tập trung.
- Giải pháp hỗ trợ sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống hộ nghèo: Tổ chức dạy nghề ngắn hạn gắn với giải quyết việc làm tại chỗ; thực hiện chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở kiên cố; phổ cập BHYT và truyền thông nâng cao nhận thức vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục lạc hậu.
- Đề xuất điều chỉnh chuẩn nghèo quốc gia: Kiến nghị cơ quan chức năng của Lào rà soát, điều chỉnh bộ tiêu chí chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn tiếp theo, cập nhật các ngưỡng thiếu hụt cho phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận và học thuật
- Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo đa chiều, làm rõ sự khác biệt bản chất giữa nghèo đơn chiều (dựa trên thu nhập/chi tiêu) và nghèo đa chiều (dựa trên quyền con người và khả năng tiếp cận dịch vụ công).
- Ứng dụng thành công phương pháp đo lường Alkire - Foster vào nghiên cứu một địa bàn cấp tỉnh cụ thể tại Lào, cụ thể hóa khung đánh giá gồm 5 chiều và 10 chỉ báo phù hợp với quy định hiện hành của Chính phủ Lào (Quyết định 285/QĐ-TTg và Quyết định 406/QĐ-TTg).
- Nhận diện và luận giải rõ 5 nhóm yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến nghèo đa chiều tại địa bàn nghiên cứu dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết kinh tế phát triển và điều kiện thực địa.
Đóng góp về thực tiễn và chính sách
- Cung cấp nguồn cứ liệu thực chứng từ kết quả điều tra sơ cấp năm 2020 và chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2011–2020, phản ánh trung thực mức độ thiếu hụt của người dân tỉnh Salavan theo từng chỉ báo xã hội cơ bản.
- Chỉ rõ các nút thắt trong công tác giảm nghèo tại Salavan: kết quả giảm nghèo nhanh nhưng chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao khi gặp thiên tai, tỷ lệ hộ thiếu hụt vệ sinh và bảo hiểm y tế còn ở mức cao.
- Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, có tính cá biệt hóa cao cho tỉnh Salavan nhằm giải quyết đồng thời các chiều thiếu hụt, đồng thời cung cấp bảng so sánh bộ tiêu chí chuẩn nghèo hiện hành của Lào với đề xuất cải tiến của tác giả phục vụ hoạch định chính sách quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về nguồn dữ liệu: Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nghiên cứu, dữ liệu thứ cấp chỉ thu thập trong giai đoạn 2011–2020; dữ liệu sơ cấp điều tra hộ gia đình chỉ được tiến hành cắt ngang trong năm 2020 nên chưa phản ánh được biến động theo chuỗi thời gian dài hạn sau năm 2020.
- Về phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại tỉnh Salavan nên một số phát hiện mang tính đặc thù của vùng Nam Lào, việc khái quát hóa áp dụng cho các tỉnh miền núi phía Bắc Lào cần có thêm các điều chỉnh tương thích.
- Về phương pháp phân tích: Tiếp cận chủ yếu dựa trên nghiên cứu định tính và thống kê mô tả, chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng định lượng phức tạp (như hồi quy Logit/Probit đa biến) để đo lường mức độ tác động biên của từng yếu tố đến xác suất nghèo đa chiều của hộ.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra sơ cấp sang các tỉnh lân cận thuộc vùng Nam Lào và Trung Lào nhằm thiết lập cơ sở dữ liệu so sánh liên tỉnh.
- Ứng dụng các mô hình định lượng vi mô để lượng hóa mức độ tác động của từng biến số nhân khẩu học, sinh kế và thể chế đến mức độ thiếu hụt đa chiều khi có chuỗi dữ liệu bảng (panel data).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các đối tượng cụ thể:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cán bộ quản lý tại Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào, UBND tỉnh Salavan và các sở, ngành liên quan có thể sử dụng các phát hiện thực chứng và khung giải pháp của luận án để xây dựng kế hoạch giảm nghèo giai đoạn 2021–2025 và tầm nhìn 2030.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp Alkire - Foster với bối cảnh địa phương, quy trình phỏng vấn chuyên gia kỹ thuật Delphi và khung đo lường 5 chiều 10 chỉ báo.
- Các tổ chức phát triển quốc tế và phi chính phủ (NGOs): Cung cấp dữ liệu chi tiết về thực trạng thiếu hụt dịch vụ y tế, nước sạch, giáo dục tại cấp huyện của Salavan phục vụ thiết kế các dự án tài trợ phát triển cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Chuẩn nghèo theo thu nhập của Lào theo Nghị định số 285/TTg được quy định cụ thể như thế nào?
Theo Nghị định số 285/TTg của Chính phủ Lào, chuẩn nghèo thu nhập được tính theo mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng:
- Mức chuẩn bình quân cả nước: 261.000 kip/người/tháng.
- Mức chuẩn tại khu vực nông thôn miền núi: 253.000 kip/người/tháng.
- Mức chuẩn tại khu vực thành thị: 284.000 kip/người/tháng.
Mức thu nhập này tính theo thời giá tương đương khoảng 24 USD/tháng (với tỷ giá 1 USD = 8.000 kip), hay xấp xỉ 0,8 USD/người/ngày (khoảng 6.400 kip/người/ngày), chỉ đủ mua khoảng 0,6 kg gạo/tháng theo giá gạo rẻ nhất (15.000 kip/kg).
2. Tiêu chí xác định "bản nghèo" và "huyện nghèo" tại CHDCND Lào được quy định ra sao?
Theo văn bản hướng dẫn của Lào:
- Bản nghèo là bản thỏa mãn ít nhất một trong các tiêu chí: (1) Có từ 50% tổng số hộ trong bản trở lên thuộc diện hộ nghèo; (2) Bản không có trường học tại chỗ (hoặc có trường ở gần nhưng phải đi bộ trên 1 giờ); (3) Bản không có trạm y tế, hiệu thuốc (phải đi bộ đến bệnh viện huyện gần nhất từ 2 giờ trở lên); (4) Bản thiếu nước sạch sử dụng; (5) Bản không có đường ô tô vào (hoặc có đường nhưng chỉ lưu thông được vào mùa khô).
- Huyện nghèo là huyện có từ 51% tổng số bản trở lên thuộc diện bản nghèo.
3. Khung đo lường nghèo đa chiều của luận án xác định ngưỡng nghèo như thế nào?
Khung đo lường gồm 5 chiều (Giáo dục, Y tế, Nhà ở, Điều kiện sống, Tiếp cận thông tin) với 10 chỉ báo. Trọng số của mỗi chiều là 20 điểm (0,2) và mỗi chỉ báo là 10 điểm (0,1), tổng điểm tối đa là 100 điểm (1,0). Một hộ gia đình được xác định là hộ nghèo đa chiều khi bị thiếu hụt từ 1/3 tổng số chỉ báo đã gia trọng trở lên, tương ứng với tổng điểm thiếu hụt từ 33,3 điểm trở lên (hoặc chỉ số thiếu hụt từ 0,333 trở lên).
4. Kết quả giảm nghèo tại tỉnh Salavan giai đoạn 2011–2020 đạt được những số liệu then chốt nào?
Trong 10 năm giai đoạn 2011–2020, tỉnh Salavan đã giảm được hơn 18% tỷ lệ hộ nghèo, đạt tốc độ giảm bình quân hàng năm là 6,3%, tương ứng với trên 6.000 hộ gia đình thoát nghèo. Mặc dù đạt mục tiêu đề ra, công tác giảm nghèo chưa thực sự bền vững do tỷ lệ hộ cận nghèo lớn, thu nhập của nhiều hộ sau thoát nghèo vẫn nằm sát chuẩn nghèo và nguy cơ tái nghèo cao khi chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh.
5. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp của luận án được triển khai bằng kỹ thuật gì và trên những đối tượng nào?
Luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc (thời lượng trung bình khoảng 60 phút/người) kết hợp kỹ thuật Delphi để kiểm chứng chéo thông tin. Các nhóm đối tượng phỏng vấn gồm: (1) Cán bộ, chuyên viên Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào; (2) Cán bộ UBND tỉnh Salavan và 9 phòng ban chức năng; (3) 16 cán bộ tại 8 huyện của tỉnh Salavan (mỗi huyện 2 cán bộ). Ngoài ra, tác giả đã tiến hành điều tra thử nghiệm trên mẫu 30 hộ gia đình tại Salavan để hiệu chỉnh bảng hỏi chính thức.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Oudomphone SIVONGSA là công trình nghiên cứu học thuật có hệ thống về vấn đề nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào trong giai đoạn 2011–2020. Bằng việc ứng dụng phương pháp đo lường Alkire - Foster kết hợp phân tích thực chứng trên chuỗi số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp năm 2020, luận án đã phác họa bức tranh toàn diện về các chiều thiếu hụt của người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù tỷ lệ nghèo thu nhập giảm đáng kể, tình trạng thiếu hụt về y tế, giáo dục, điều kiện sống và tiếp cận thông tin vẫn là những rào cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án mang lại cơ sở thực tiễn và luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách giảm nghèo đa chiều của tỉnh Salavan cũng như trên phạm vi cả nước Lào trong giai đoạn tiếp theo.