Tổng quan nghiên cứu

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các vùng nông thôn châu thổ Bắc Bộ trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra những bước ngoặt sâu sắc về diện mạo kinh tế - xã hội. Làng Hữu Bằng (tên Nôm là Kẻ Nủa hay làng Nủa Chợ), thuộc huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, là một điển hình tiêu biểu cho mô hình phát triển kinh tế làng xã năng động, chuyển mình từ thuần nông sang đa ngành nghề. Bước vào giai đoạn 2005, tổng giá trị sản xuất toàn xã đạt 85,0 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 47,4 tỷ đồng (chiếm 55,76%) và thương mại - dịch vụ đạt 36,63 tỷ đồng (chiếm 43,10%), trong khi tỷ trọng nông nghiệp lùi sâu chỉ còn 970,0 triệu đồng (tương đương 1,14%).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn đặt vào việc giải mã quá trình biến đổi của một thực thể làng xã truyền thống "nhất xã nhất thôn" trước làn sóng công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn. Mục tiêu cụ thể là phục dựng bức tranh toàn diện từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cảnh quan sinh thái, cấu trúc kinh tế đa ngành, thiết chế quản lý xã hội (hương khoán, dòng họ, phường nghề) cho đến đời sống tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian làng Hữu Bằng với diện tích đất tự nhiên khoảng 178,4 ha, đối chiếu tư liệu lịch sử kéo dài từ thế kỷ XIX qua các mốc khảo sát địa chính năm 1965, năm 1986 và khảo sát điền dã thực tế đến năm 2010. Công trình mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn cao khi phản ánh mức thu nhập bình quân đầu người đạt 6,1 triệu đồng/năm (năm 2005), tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh xuống 1,47%, cung cấp bài học kinh nghiệm về mô hình "ly nông bất ly hương" cho khu vực châu thổ sông Hồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tiếp cận hệ thống từ dưới lên (Bottom-up approach) kết hợp quan điểm nghiên cứu liên làng (Inter-villages) để xem xét làng xã như một cấu trúc động luôn tương tác với không gian tự nhiên và mạng lưới liên kết vùng. Tác giả kế thừa hệ thống lý thuyết về kinh tế hộ nông dân và tổ chức hợp tác xã nông thôn của Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn, đồng thời soi chiếu lý thuyết địa lý nhân văn về cư dân đồng bằng châu thổ của học giả Pierre Gourou từ công trình kinh điển năm 1936.

Các khái niệm then chốt được xây dựng và chuẩn hóa gồm:

  • Làng "nhất xã nhất thôn": Thực thể hành chính - xã hội khép kín nơi ranh giới của làng trùng khít hoàn toàn với địa giới hành chính cấp xã.
  • Vốn xã hội nông thôn: Mạng lưới liên kết dòng họ, hội đồng niên, phường nghề và tính cố kết cộng đồng tạo nguồn lực phát triển kinh tế.
  • Đô thị hóa tại chỗ (In-situ urbanization): Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nghề từ nông nghiệp sang công thương nghiệp ngay trong lòng làng xã mà không dẫn đến sự di cư ồ ạt ra các đô thị lớn.
  • Hương ước và khoán ước: Hệ thống quy ước thành văn điều chỉnh các quan hệ pháp lý, đạo đức và trật tự trị an nội bộ làng quê.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và chiều sâu khoa học, tác giả lựa chọn phương pháp tiếp cận liên ngành (Interdisciplinary studies) phối hợp giữa Lịch sử học, Xã hội học, Dân tộc học, Văn hóa học và Địa lý học. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng bao quát toàn bộ 3.065 hộ gia đình đang sinh sống tại 9 xóm của xã Hữu Bằng, kết hợp khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đối với 120 cơ sở sản xuất đồ gỗ, dệt may và kinh doanh dịch vụ. Nghiên cứu định tính tiến hành phỏng vấn sâu 45 đối tượng gồm các cụ cao niên, nghệ nhân làng nghề, cán bộ Ủy ban nhân dân xã và chủ doanh nghiệp tư nhân. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm kết hợp đo lường chính xác các chỉ số chuyển dịch kinh tế mặt đất với việc thấu cảm những chuyển biến tâm lý, tập quán của người dân.

Nguồn dữ liệu của luận văn được cấu thành từ 4 trụ cột: văn bản Hán Nôm cổ (văn bia, thần tích, sắc phong, bản Hương khoán năm 1891 gồm 91 điều khoản); tư liệu Quốc ngữ địa phương (Hữu Bằng xã chí, Khoán ước thời Cải lương hương chính); bản đồ địa chính qua các thời kỳ (năm 1965 tỷ lệ 1/2000 và năm 1986 tỷ lệ 1/1000) cùng hệ thống báo cáo kinh tế - xã hội của chính quyền địa phương. Tiến trình nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong 24 tháng từ năm 2008 đến đầu năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn ghi nhận sự bứt phá ngoạn mục về chuyển dịch cơ cấu kinh tế khi tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống mức rất thấp chỉ còn 1,14% năm 2005. Toàn xã đã phát triển 45 công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, 9 tổ hợp sản xuất và 840 hộ kinh doanh cá thể, sở hữu đội ngũ 140 đầu xe ô tô vận tải các loại phục vụ lưu thông hàng hóa liên tỉnh.

Thứ hai, quá trình tích tụ tư bản và mở rộng mặt bằng xưởng sản xuất đã tạo ra áp lực dữ dội lên cảnh quan sinh thái mặt nước. Số lượng ao hồ nội làng đã giảm sụt nghiêm trọng từ 57 chiếc năm 1965 xuống còn 30 chiếc năm 1986 (tương ứng diện tích 47.000 m2) và đến năm 2009 chỉ còn khoảng hơn 10 ao do tình trạng san lấp, lấn chiếm xây dựng nhà xưởng và nhà ở kiên cố.

Thứ ba, cơ cấu xã hội ghi nhận sự phân hóa mức sống rõ rệt theo hướng nâng cao chất lượng cuộc sống: tỷ lệ hộ giàu đạt 20% (613 hộ), hộ khá chiếm 30% (919 hộ), hộ trung bình chiếm 48,53% (1.488 hộ) và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống mức thấp kỷ lục 1,47% (chỉ còn 45 hộ).

Thứ tư, bất chấp quá trình công nghiệp hóa diễn ra dồn dập, các giá trị văn hóa và thiết chế truyền thống vẫn được bảo tồn vững chắc. Quần thể di tích lịch sử - tôn giáo gồm Đình làng, Chùa Vĩnh Phúc và Văn chỉ cùng 8 giếng nước cổ (trong đó có 2 giếng vục độc đáo) tiếp tục đóng vai trò trục tâm linh liên kết cộng đồng dân cư.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên sự phát triển vượt trội của Hữu Bằng bắt nguồn từ vị trí địa lý "cận thị, cận giang, cận lộ" nằm liền kề Quốc lộ 21A và tuyến Đại lộ Thăng Long (Láng - Hòa Lạc), kết hợp với truyền thống thương nghiệp chợ Nủa lâu đời (họp định kỳ 6 phiên một tháng vào các ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27 âm lịch). Cư dân Kẻ Nủa sở hữu tư duy kinh tế nhạy bén, sớm chuyển hướng từ nghề dệt vải nhuộm nâu truyền thống sang sản xuất đồ gỗ nội thất gia dụng cao cấp và mở rộng dịch vụ thương mại.

Sự biến đổi cơ cấu kinh tế và không gian đất đai có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất (nông nghiệp 1,14%, tiểu thủ công nghiệp 55,76%, dịch vụ 43,10%) và bảng đối chiếu diện tích mặt nước qua 3 mốc thời gian 1965, 1986, 2009. So sánh với các nghiên cứu làng nghề lân cận như làng rèn Vĩnh Lộc hay làng cơ khí Phùng Xá, Hữu Bằng thể hiện mô hình làng đa nghề có khả năng tự điều tiết chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất, cung ứng vật tư đến phân phối thị trường. Sự va đập giữa tính chất khép kín của làng cổ và tính chất mở của thị trường tự do đã làm biến đổi cấu trúc cư trú truyền thống (nhà - sân - vườn - ao) thành các cụm nhà ống cao tầng kiêm nhà xưởng sản xuất có mật độ xây dựng lên tới 80-90%.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Quy hoạch và di dời tập trung: Tiến hành quy hoạch và di chuyển 100% các cơ sở chế biến đồ gỗ nội thất và phun sơn gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư vào Cụm công nghiệp làng nghề xã Hữu Bằng với quy mô dự kiến 20-30 ha trong giai đoạn 2011-2015, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện Thạch Thất và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
  • Đầu tư hạ tầng cấp thoát nước: Xây dựng đồng bộ mạng lưới cấp nước sạch tập trung khai thác tầng nước ngầm ở độ sâu 70-80m, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch đạt chuẩn vệ sinh từ mức khoảng 60% lên 100% trước năm 2014, do Sở Xây dựng thành phố Hà Nội phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Hữu Bằng thực hiện.
  • Bảo tồn không gian di sản mặt nước: Thực hiện khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt đối với hơn 10 ao hồ còn lại và hệ thống 8 giếng nước công cộng (tiêu biểu như Giếng Bìm, Giếng Mát), xử lý triệt để 100% các hành vi lấn chiếm đất công cộng trước năm 2013, do Ban Địa chính xã và cộng đồng dân cư trực tiếp giám sát.
  • Thành lập quỹ hỗ trợ vốn vay: Thiết lập cơ chế tín dụng ưu đãi với quy mô vốn lưu động tăng trưởng 15-20% mỗi năm nhằm hỗ trợ 840 hộ kinh doanh và 45 doanh nghiệp đổi mới máy móc gia công tự động hóa, do Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Thạch Thất chủ trì triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh các ngành Việt Nam học, Lịch sử Việt Nam, Xã hội học nông thôn: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng phong phú, khung lý thuyết phân tích làng xã liên ngành và phương pháp đối chiếu địa bạ - bản đồ học lịch sử.
  • Cán bộ quy hoạch đô thị và cơ quan quản lý nông nghiệp - phát triển nông thôn: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc lập đề án bảo vệ môi trường làng nghề, giải quyết mâu thuẫn giữa gia tăng mật độ dân cư và bảo tồn không gian sinh thái nông thôn mới.
  • Chính quyền địa phương cấp huyện, xã tại các vùng kinh tế trọng điểm ven đô: Tiếp cận các giải pháp thực tế về quản lý hộ tịch, chuyển đổi đất nông nghiệp và mô hình phát huy vốn xã hội dòng họ trong quản trị địa phương.
  • Các hiệp hội làng nghề và doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ - thủ công mỹ nghệ: Khảo sát thực tế chuỗi cung ứng hàng hóa, phương thức tổ chức mạng lưới đại lý vận tải và bài học xây dựng thương hiệu sản phẩm truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

Cơ cấu kinh tế của xã Hữu Bằng chuyển dịch như thế nào trong thời kỳ Đổi mới? Nền kinh tế địa phương đã chuyển dịch triệt để từ sản xuất lúa thuần túy sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại. Đến năm 2005, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm tới 98,86% tổng giá trị sản xuất (đạt trên 84,0 tỷ đồng), trong khi tỷ trọng nông nghiệp giảm mạnh xuống còn 1,14% (970,0 triệu đồng).

Nguyên nhân nào dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng diện tích ao hồ tại làng Hữu Bằng? Do áp lực gia tăng dân số nhanh chóng và nhu cầu mở rộng diện tích làm nhà xưởng sản xuất tiểu thủ công nghiệp, số lượng ao hồ từ 57 chiếc năm 1965 đã giảm còn 30 chiếc năm 1986 với diện tích 47.000 m2, và chỉ còn hơn 10 chiếc vào năm 2009 do các đợt san lấp đất đai.

Thiết chế xã hội truyền thống đóng vai trò gì trong sự phát triển kinh tế của làng? Các thiết chế dòng họ, hội đồng niên và phường nghề truyền thống đóng vai trò kết nối nguồn vốn xã hội, hỗ trợ vay mượn vốn sản xuất nội bộ và chia sẻ kinh nghiệm thương trường, tạo thành mạng lưới hợp tác kinh tế chặt chẽ giữa 840 hộ kinh doanh cá thể.

Luận văn đã sử dụng những nguồn tư liệu lịch sử nào để phục dựng quá trình phát triển của làng? Tác giả đã kết hợp tư liệu văn khắc Hán Nôm (văn bia, sắc phong, chuông đồng), bản Hương khoán năm 1891 gồm 91 điều, tư liệu Hữu Bằng xã chí, 2 bản đồ địa chính năm 1965 và 1986 cùng các đợt điều tra thống kê hộ gia đình tại 9 xóm năm 2005-2009.

Cụm di tích lịch sử Đình - Chùa - Văn chỉ Hữu Bằng có giá trị văn hóa như thế nào? Quần thể di tích là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của toàn bộ cư dân Kẻ Nủa, biểu trưng cho truyền thống hiếu học Nho giáo và lòng tri ân thành hoàng làng, từng là nơi đặt trụ sở hợp tác xã dệt may giai đoạn 1960-1988 trước khi được trả lại không gian văn hóa nguyên bản.

Kết luận

  • Công trình khẳng định bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoạn mục của làng Hữu Bằng với 98,86% giá trị sản xuất đến từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại.
  • Luận văn chỉ rõ mặt trái của quá trình đô thị hóa tự phát thể hiện qua sự suy giảm 75% diện tích mặt nước ao hồ và làm biến dạng không gian cư trú sân vườn truyền thống.
  • Đề tài chứng minh sức sống bền bỉ của các giá trị di sản văn hóa, tổ chức dòng họ và phường hội trong vai trò trợ lực cho kinh tế thị trường.
  • Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính khả thi cao, gắn liền với việc xử lý nước thải làng nghề, di dời xưởng sản xuất và bảo tồn quần thể di tích kiến trúc.
  • Nghiên cứu đóng góp một khung phân tích toàn diện, làm mẫu hình thực tiễn cho chiến lược phát triển nông thôn bền vững tại vùng châu thổ Bắc Bộ.

Về định hướng nghiên cứu tiếp theo trong giai đoạn 2011-2020, các nhà khoa học và nhà quản lý cần tiếp tục đánh giá tác động của quy hoạch đô thị vệ tinh Hòa Lạc đối với sự biến đổi việc làm và phân tầng xã hội tại làng Hữu Bằng. Luận văn là tài liệu học thuật giá trị, mở ra hướng tiếp cận thực chứng sâu sắc cho bạn đọc quan tâm đến tiến trình hiện đại hóa nông thôn Việt Nam.