chương 1 Ở chƣơng đầu tiên, chúng tôi tập trung tìm hiểu và phân tích những đặc trƣng cơ bản của thể loại tiểu thuyết hiện đại. Đối với hệ thống thể loại văn học hiện đại, tiểu thuyết đƣợc xem là một thể loại lớn và quan trọng. Tiểu thuyết là một tác phẩm tự sự có dung lƣợng lớn, đề cập đến nhiều vấn đề xã hội, các mối quan hệ của con ngƣời và phản ánh một bức tranh hiện thực xã hội rộng lớn dƣới góc độ đời tƣ – cá nhân của con ngƣời. Ngoài ra, trong mối tƣơng quan với các thể loại văn học khác nhƣ sử thi, truyện ngắn… tiểu thuyết mang những những đặc trƣng riêng biệt về nhân vật, đối tƣợng phản ánh, nội dung phản ánh lẫn những nét riêng về hình thức nghệ thuật.
Có thể thấy, đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi vận dụng vào phân tích tiểu thuyết Đất mồ côi của Tạ Duy Anh. Ngoài ra, chƣơng 1 còn tìm hiểu đôi nét về tiểu sử và quan niệm nghệ thuật của nhà văn Tạ Duy Anh – một nhà văn luôn nỗ lực trên 17 con đƣờng tìm tòi và đổi mới văn học, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết. Bên cạnh đó, tiểu thuyết Đất mồ côi kể về hành trình đi tìm lại nòi giống của nhân vật “tôi” đã đem lại những trăn trở và suy tƣ cho bạn đọc. Đất mồ côi trở thành cuốn sách mới nhất và đầy tâm huyết nhất của nhà văn, nhƣ một món nợ mà Tạ Duy Anh trả cho tổ tiên và cuộc đời này.
TIỂU THUYẾT ĐẤT MỒ CÔI NHÌN TỪ DUNG LƢỢNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC Đất mồ côi của Tạ Duy Anh đƣợc xem là một trong những cuốn tiểu thuyết có khả năng chứa đựng và phản ánh hiện thực một cách rộng lớn. Hiện thực phản ánh của tác phẩm đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ: vấn đề dân tộc, thời đại đến vấn đề gia đình, vấn đề tập thể đến vấn đề cá nhân và cả những vấn đề rất ít đƣợc văn học trƣớc kia nhắc đến. Tác phẩm đề cập nhiều vấn đề lớn của dân tộc, thời đại 2. Vấn đề chiến tranh Tiểu thuyết Đất mồ côi mang đặc trƣng của tiểu thuyết hiện đại khi tiếp cận từ góc độ đời tƣ – cá nhân của nhân vật “tôi”.
Lấy bi kịch gia đình “tôi” làm vấn đề trung tâm, Tạ Duy Anh đã miêu tả nên khung cảnh chiến tranh và những hậu quả nặng nề mang lại cho con ngƣời. Tuy nhiên, với Đất mồ côi, Tạ Duy Anh không trực tiếp miêu tả chiến tranh một cách chi tiết, cụ thể mà phần lớn hiện ra trong tâm trí, tƣởng tƣợng của nhân vật mẹ “tôi” cũng nhƣ lời kể của chú Tỉnh và lão Đỗ. Đối với mẹ “tôi”, chiến tranh chính là kẻ thù vì nó đã cƣớp đi ngƣời chồng yêu quý của gia đình. Mỗi lần nhớ chồng là trong đầu ngƣời mẹ lại hiện ra vô vàn cảnh tƣợng hãi hùng và máu me.
Nỗi ám ảnh cuộc chiến đi sâu thành những cơn ác mộng triền miên. Chiến tranh khốc liệt và đẫm máu đƣợc hiện lên qua hoàng loạt chi tiết nhƣ: “Toàn là cảnh đầu rơi máu chảy. Có lần mẹ nằm mơ thấy bố chỉ còn lại là bộ xƣơng, chi chít vết đạn, nhiều đoạn xƣơng đã bị long ra khỏi khớp… Có lần mẹ thấy bố bị cháy nhƣ bó đuốc, thịt da xèo xèo… Có lần mẹ thấy bố bị vỡ toang bụng, lòng thòi ra từ rốn, đỏ nhƣ nhuộm qua phẩm màu” [1, tr. Chiến tranh dƣờng nhƣ đã phá huỷ hình hài không chỉ ngƣời bố của nhân vật “tôi” mà còn là bao thanh niên trai tráng khoẻ mạnh.
Họ ra đi trong hình hài nguyên vẹn, nhƣng, khi may mắn trở về, thứ họ còn chỉ là những thân hình đầy khiếm khuyết, một phần bị bỏ lại nơi chiến trƣờng và cả những nỗi đau dữ dội. Nhân vật ngƣời chồng 19 luôn luôn trở đi trở lại và xuất hiện trong giấc mơ của ngƣời vợ nhƣ một thứ ám ảnh về chiến tranh, về những nỗi đau không dứt. Việc chờ đợi, trông ngóng chồng trở về cứ thƣờng trực trong tâm trí của ngƣời vợ. Thế nhƣng, hình ảnh ngƣời chồng với bao di chứng do chiến tranh để lại là điều không thể thiếu mỗi khi nhớ về.
Chiến tranh đã cƣớp đi ngƣời chồng yêu quý của ngƣời “mẹ”, thay vào đó là nỗi lo sợ, đau khổ và tuyệt vọng đến tột cùng. Chiến tranh vẫn tiếp tục diễn ra và nỗi đau cũng vì vậy mà không dứt. Chiến tranh mang bộ mặt của kẻ sát nhân, nó không chỉ gây ra nỗi đau thể xác cho ngƣời ra đi mà còn là nỗi đau tinh thần cho những ngƣời ở lại. Họ sống trong bao nỗi ám ảnh vì sự ra đi và mất mát của những ngƣời thân yêu.
Chiến tranh mang vẻ mặt vô tình và lạnh lùng. Nó bỏ mặc những đau khổ của con ngƣời chỉ vì thoả mãn chiến thắng của mình. Cuối cùng, ngƣời đau khổ nhất chính là những ngƣời mẹ, ngƣời vợ, ngƣời em và đàn con thơ trong gia đình. Những nỗi đau khổ đó đƣợc nhà văn miêu tả qua những tiếng rú trong đêm đen của ngƣời đàn bà.
“Ngƣời thì khóc ỉ eo gọi con, gọi em, gọi anh, ngƣời thì vật vã gọi chồng, đau đớn và có cả trách cứ nữa. Sau đó, chỉ là thứ thút thít kéo dài đến bất tận. Nó chỉ đủ để ngấm vào đất, thành thứ tiếng của giun dế cho đến khi tắt lặng” [1, tr. Tiếng khóc và tiếng oán hờn không chỉ là hiện thân cho nỗi đau đớn mà nó còn là lời tố cáo tội ác dã man mà chiến tranh gây ra cho con ngƣời, đặc biệt là những ngƣời phụ nữ.
Vì chiến tranh liên miên, họ mất đi ngƣời cha, ngƣời con, ngƣời chồng vốn trở thành trụ cột trong gia đình. Thay vào đó, thứ họ nhận đƣợc là những cái chết đau thƣơng của ngƣời ra trận. Không chỉ nhìn thấy chồng xuất hiện tiều tuỵ trong giấc mơ, nhân vật mẹ dƣờng nhƣ nhìn thấy đƣợc cả khung cảnh và bộ mặt của chiến tranh qua lời kể của chú Tỉnh, lão Đỗ và những thƣơng binh. Hai ngƣời này vốn đã xem mẹ “tôi” là vợ liệt sĩ.
Điều này mặc dù mất tính ngƣời nhƣng nó hoàn toàn trở thành hiện thực bởi “Chiến tranh là cái cối xay thịt khổng lồ. Nó xay nhuyễn hết, chẳng phân biệt địch ta. Tất cả đều là mồi nhắm của ma quỷ” [1, tr. Chiến tranh qua lời kể của hai ngƣời hiện lên với hình ảnh cụ thể hơn là “cối xay thịt”.
Nó là hiện thân cho tội ác của chính loài ngƣời? Cái cối này xay thịt 20 con ngƣời và ngƣời đứng ra xay không ai khác lại là con ngƣời. Bởi “làm gì có chuyện ngần ấy năm đánh nhau trong tơi bời lửa đạn, nghe tả lại thì đạn còn dày hơn cả mƣa, mà lại vẫn còn giữ đƣợc mạng sống!”. Tất cả những lời kể và câu nói trên đã in sâu vào trong tâm trí nhân vật “mẹ” nhƣ một điềm báo không lành về ngƣời chồng của mình. Điều này càng trở nên đáng tin hơn khi nhân vật mẹ bị em chồng đầu độc về tƣ tƣởng bởi những lý lẽ “Bác ấy hi sinh lâu rồi, tôi đảm bảo nhƣ vậy.
Đến đất đá còn còn thành bột, biết bao cánh rừng cổ thụ còn thành than, thì thịt ngƣời là cái thá gì mà không nhát nhừ” [1, tr. 90] và “cứ vào trận địa đi, cứ chứng kiến vài trận bom toạ độ, bom rải thảm đi, thì biết anh còn sống hay chết” [1, tr. Một lần nữa, hiện thực của chiến trƣờng đổ máu lại hiện lên qua lời kể chắc nịch của chú Tỉnh. Một bãi đất mà “nhiều ngƣời chƣa kịp ra trận đã mất xác, hoặc chỉ còn vài mảnh xƣơng” thậm chí đến con kiến cũng khó thoát.
Chiến tranh là vậy. Chiến tranh không trừ bất cứ ai liên quan đến nó. Thậm chí, những ngƣời thƣơng binh may mắn trở về vẫn luôn ám ánh về một thứ gọi là “chiến tranh”. Đáng sợ nhất chính là những con mối bên xác bộ đội ngã xuống vì “mối mà xông thì một cái xác vài hôm là coi nhƣ mất tích.
Thế mà tiếng mối rì rào ngày này qua tháng khác, năm nay qua năm kia, suốt dọc rừng Trƣờng Sơn” [1, tr. Những hình hài nguyên vẹn của con ngƣời trở thành một món ăn đầy hấp dẫn của lũ mối rừng. Âm thanh của tiếng mối đùn đất cứ nhƣ mặt đất di chuyển luôn thƣờng trực trong trí nhớ những ngƣời lính trở về. Tội ác của chiến tranh còn đƣợc vạch trần qua những lần giấy báo tử đƣa về làng.
Mỗi lần nhận giấy báo tử là mỗi lần nỗi đau khổ xuất hiện. Và càng đau lòng hơn khi con số tử vong của bộ đội càng ngày càng nhiều. “Giấy báo tử đƣa về làng đã lên đến con số mƣời trong khoảng ba chục ngƣời đàn ông của làng ra trận” [1, tr. Đối với ngƣời ở lại, giấy báo tử là hiện thân cho cái chết, cho sự kết thúc của một đời ngƣời.
Nó là thứ sẽ chấm dứt sự chờ đời và cả hi vọng dẫu mong manh. Chờ đợi mòn mỏi còn không đáng sợ bằng những tờ giấy “thần chết” này. Mặc dù nhân vật mẹ “tôi” chƣa nhận đƣợc giấy báo tử nhƣng đối với nhân vật mẹ, giấy báo tử là là câu trả lời cho nỗi hãi hùng 21 của mẹ rằng “không biết sẽ còn phải chờ đến khi nào?”. Dẫu biết cái chết trong chiến tranh là điều không tránh khỏi nhƣng hi vọng sự trở về của ngƣời thân vẫn le lói trong tâm trí ngƣời ở hậu phƣơng.
Mặc dù không trực tiếp tham gia chiến trận, không vào sinh ra tử nhƣng đối với bất kì ai, họ cũng sẽ hình dung ra những kết cục đau thƣơng và cái chết của những ngƣời lính. Dƣờng nhƣ cái chết đã trở thành một điều hiển nhiên trong thời kỳ bom đạn dữ dội này. Tuy không trực tiếp miêu tả chiến tranh nhƣ ngƣời trong cuộc chiến bƣớc ra nhƣng Tạ Duy Anh đã khéo léo miêu tả hiện thực khốc liệt này qua lời kể của nhiều nhân vật, đặc biệt là qua tâm trí của nhân vật mẹ “tôi”. Có thể thấy, chiến tranh bom đạn và khốc liệt luôn là nỗi ám ảnh lớn trong cuộc đời mỗi con ngƣời.
Hiện thực chiến tranh hiện thân cho cái chết và tội ác. Dù không dựng lại khung cảnh chiến trận nhƣng bạn đọc vẫn tƣởng tƣợng và cảm nhận đƣợc sự khốc liệt và nghiệt ngã của chiến tranh bây giờ. Và đau khổ hơn hết, hiện thực chiến tranh thực sự đã gây ra bao nỗi đau về mặt tinh thần và thể xác cho cả ngƣời sống sót trở về. Họ bị ám ảnh bởi bom đạn, súng nổ và cả việc chứng kiến đồng đội, anh em ngã xuống trƣớc mặt mình.