mở đầu bộ tiểu thuyết, nhà văn nói rõ cảm hứng, nguồn tƣ liệu và quan niệm sáng tác về bộ tiểu thuyết lịch sử này. Bà ấn tƣợng về bài vè Bà Từ Dụ xin xâu từ thời còn đi học, đến những trải nghiệm thực tế sau này về những di tích lịch sử đền đài lăng tẩm ở Huế, nhất là lăng Xƣơng Thọ - nơi yên nghỉ của thái hậu Từ Dụ. Từ nguồn sử liệu tích lũy và trí tƣởng tƣợng phong phú, nhà văn đã dành hai năm cật lực tái hiện “Cuộc đời một cung phi non trẻ, năm 13 14 tuổi vào cung, trở thành hoàng quý phi, rồi thành thái hậu”. Nhà văn cũng xác định rõ quan niệm sáng tác tiểu thuyết lịch sử của mình.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải theo tôn chỉ trung thành với sử liệu, Nguyễn Xuân Khánh lại đề cao trí tƣởng tƣợng hƣ cấu thì Trần Thùy Mai chọn “dung hòa hai cách trên: một phần dựa vào sử sách, một phần lấy cảm hứng từ những giai thoại truyền tụng ở kinh thành Huế” (Trần Thùy Mai, 2019a), và cả trí tƣởng tƣợng nhạy bén của một nhà văn Huế. Sự kết hợp ấy đã trở thành bộ tiểu thuyết lịch sử dạng “cung đấu” hiếm hoi của văn học Việt Nam, “một cuốn tiểu thuyết lịch sử hấp dẫn và trung thực lạ lùng” theo nhƣ lời nhận xét của nhà văn chuyên viết về lịch sử, Hoàng Quốc Hải. Khái lƣợc về tiểu thuyết lịch sử, nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử 1. Tiểu thuyết lịch sử Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hƣ cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con ngƣời, biểu hiện tính chất tƣờng thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định.
Theo Hà Minh Đức trong Lí luận văn học: “Là hình thức tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết có những khả năng riêng trong việc tái hiện với quy mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con ngƣời, của lịch sử, của đạo đức, của phong tục…” (Hà Minh Đức và cs, 1995). Theo Bakhtin: “Tiểu thuyết là vùng đất mà tiếng nói của thiên hạ đƣợc đƣa vào, tất cả những ý kiến khác nhau đƣợc phát triển, trong khi những thể loại khác nhƣ thơ, hồi kí, tự thuật, truyện kể, tiểu luận… chỉ có sự độc thoại, thiên hạ không có chỗ đứng. Và đó là sự khác biệt sâu xa giữa tiểu thuyết và các thể loại khác” (M. Trong một cách hiểu khác, nhận định của Bielinxki: “tiểu thuyết là sử thi của đời tƣ” chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó.
Sự trần thuật ở đây đƣợc khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách. Nhà tiểu thuyết Kundera cho rằng cái gọi là tiểu thuyết có thể đƣợc định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau. Xuất phát từ các nhân vật, ông cho rằng: “Tiểu 15 thuyết là một sự chiêm nghiệm về cuộc đời đƣợc nhìn thấy thông qua các nhân vật tƣởng tƣợng” (dẫn theo Nguyễn Văn Tùng, 2009), xuất phát từ góc độ tiếp nhận, ông lại cho rằng: “Tiểu thuyết, đó là thiên tƣởng tƣợng của những cá nhân. Đấy là lãnh địa nơi chẳng có ai là ngƣời sở hữu chân lý” (dẫn theo Nguyễn Văn Tùng, 2009).
Còn về tiểu thuyết lịch sử, đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau. Mỗi quan niệm thƣờng nhấn mạnh vào một đăc điểm nào đó của tiểu thuyết lịch sử. Alexandre Dumas nhấn mạnh tính tiểu thuyết, “Lịch sử đối với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi”. Tiểu thuyết gia Hunggary Lukacs lại có quan niệm khác, đề cao tính lịch sử: “Nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là chứng minh sự tồn tại của một hoàn cảnh và nhân vật lịch sử bằng công cụ nghệ thuật” (dẫn theo Trƣơng Đăng Dung, 1994).
Tiểu thuyết lịch sử là một loại của tỉểu thuyết, chuyên viết về những nhân vật và sự kiện có thật trong lịch sử, do đó mà có tên gọi “lịch sử”. Đồng thời đó là tiểu thuyết, chứ không phải là truyện sử hay kí sự lịch sử, bởi nó không chỉ kể lại sự kiện và nhân vật, mà còn tái hiện lại cuộc sống con ngƣời với cả không khí thời đại, các chi tiết về tâm hồn, cá tính, trang phục, nhà ở, đồ dùng, lời ăn tiếng nói, bài ca, trò chơi…, và đặc biệt miêu tả đời sống cụ thể sinh động của nhân vật lịch sử, một trải nghiệm của một con ngƣời có tính cách, cá tính, trong dòng chảy của lịch sử, khiến cho ngƣời đọc không chỉ đọc một câu chuyện, mà còn sống, thể nghiệm với thời đại ấy nữa. Từ điển Thuật ngữ văn học đã đƣa ra một nhận định khái quát, tiểu thuyết lịch sử là “các tác phẩm văn học nghệ thuật, sáng tác về các đề tài và nhân vật lịch sử” (Lê Bá Hán và cs, 1992). Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nói rõ hơn về hai yêu cầu của ngƣời viết tiểu thuyết lịch sử: “Các nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ hƣ cấu, sáng tạo của nghệ thuật” (Phan Cự Đệ, 2004).
Nhƣ vậy, yếu tố lịch sử và yếu tố tiểu thuyết là hạt nhân cốt lõi của tiểu thuyết lịch sử. Đứng ở góc độ sáng tác, có nhà văn coi trọng yếu tố lịch sử, viết để phổ biến lịch sử cho ngƣời đọc, gửi gắm những bài học lịch sử, nhân sinh cho hậu thế. Ngƣợc lại, có nhà văn đề cao yếu tố tiểu thuyết, tính hƣ cấu sáng tạo của tác phẩm. Ý kiến của Nguyễn Văn Dân đề cao giá trị sáng tạo hƣ cấu hơn giá trị lịch sử: “Trong thể loại văn học 16 này, lịch sử trở thành một nguồn cảm hứng cho tự do sáng tác văn chƣơng.
Nhƣng giá trị thẩm mỹ của tác phẩm không nằm ở chân lý lịch sử mà nằm ở chân lý nghệ thuật. Tuy nhiên, chân lý nghệ thuật lại chịu sự ràng buộc của chân lý lịch sử” (Nguyễn Văn Dân, 2012). “Lịch sử là một khoa học luôn chỉnh sửa lại mình trên cơ sở những phát hiện mới của khảo cổ, hoặc từ những tƣ liệu lịch sử bị lãng quên, bị thất lạc, bị che giấu vì những lý do xã hội nào đó, tới nay mới có điều kiện lộ sáng” (Thụy Khuê, 2017). Tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trƣng của tiểu thuyết nhƣng lấy đề tài lịch sử làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.
Tuy mƣợn đề tài, cảm hứng và nhân vật lịch sử, nhƣng tiểu thuyết lịch sử lại phản ánh những vấn đề của cuộc sống hiện tại, khai thác lịch sử để gửi gắm bài học nhân sinh cho hôm nay và mai sau, nhƣ khẳng định của Bielinxki: Chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn những cái đã qua để chúng ta giải thích cho hiện tại và chỉ ra tƣơng lai của chúng ta. Với hiện thực phong phú, rộng lớn về lịch sử triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, kéo dài 143 năm với nhiều thăng trầm nơi mảnh đất cố đô Huế; với nguồn dã sử, giai thoại đồ sộ mà nhà văn có đƣợc, cùng với nỗi nhớ thƣơng quê hƣơng xứ Huế và những thành công bƣớc đầu của những truyện ngắn viết về lịch sử, Trần Thùy Mai đã chọn thể loại tiểu thuyết để tái hiện chân dung số phận một bà hoàng nổi tiếng mà cuộc đời trải dài cả 10 đời vua, từ Gia Long đến Thành Thái qua bộ tiểu thuyết khá đồ sộ: Từ Dụ thái hậu. Sơ lược tiểu thuyết lịch sử trong dòng chảy văn học Việt Nam Nhìn chung tiểu thuyết lịch sử chiếm vị trí khá khiêm tốn trong lich sử văn học dân tộc. Thời kỳ trung đại, thơ ca đƣợc coi trọng, văn xuôi bị xem nhẹ, còn tiểu thuyết càng bị xem thƣờng.
Các nhà nho đều rất rành lịch sử, thơ vịnh sử rất nhiều. Nhƣng chỉ có một Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, xuất hiện ở cuối thế kỷ XVIII, là truyện đƣợc xem nhƣ là tiểu thuyết lịch sử duy nhất trong văn học trung đại. Đầu thế kỷ XX, ảnh hƣởng của phong trào Duy Tân với chủ trƣơng nâng cao dân trí, chấn hƣng dân khí thắp lên khát vọng giải phóng dân tộc. Trong xu thế vận động của nền văn học theo hƣớng hiện đại và tinh thần tự tôn dân tộc đƣợc khơi 17 dậy, tiểu thuyết lịch sử đƣợc chú ý phát triển - nhất là ở nam bộ.
Nguyễn Văn Vinh có Tam Yên di hận (1927), Hồ Biểu Chánh có Nam cực tinh huy (1924), Chưởng hậu quân Võ Tánh (1926). Tân Dân Tử có Giọt máu chung tình (1925), Gia Long tẩu quốc (1930), Gia Long phục quốc (1932), Hoàng tử Cảnh như Tây (1931) với lối văn gần với “lời ăn tiếng nói thƣờng của mình, cho dễ hiểu mau nghe” các nhà tiểu thuyết khai thác cả chính sử lẫn dã sử, ngoại sử. Đã có một trào lƣu sáng tác tiểu thuyết lịch sử xuất hiện sau phong trào dịch thuật tiểu thuyết Trung Hoa. Nguyễn Chánh Sắt có Việt Nam Lê Thái Tổ (1929).
Phạm Minh Kiên là tiểu thuyết gia say sƣa với thể loại tiểu thuyết dã sử nhất: Việt Nam anh kiệt (1927), Việt Nam Lý trung hưng (1929), Lê triều Lý thị (1931) Tiền Lê mạt vận (1932), Trần Hưng Đạo (1933),… là những bộ tiểu thuyết dã sử thành công. Tuy còn nặng ảnh hƣởng của tiểu thuyết chƣơng hồi, cách kể còn theo tuyến tính và kết thúc có hậu, tiểu thuyết lịch sử ra đời không chỉ thỏa mãn nhu cầu sáng tạo của tác giả mà còn “gửi gắm trong đó tấm lòng yêu nƣớc thiết tha của một thế hệ nhà văn đang phải sống dƣới gót giày thống trị của bọn thực dân” (Võ Văn Nhơn, Nguyễn Thị Phƣơng Thúy, 2016). Cùng thời, ở miền Bắc cũng xuất hiện các tiểu thuyết lịch sử đáng chú ý. Chuyện Đức Thánh Trần của Nguyễn Nhật Quang, Ngọn cờ vàng của Đinh Gia Thuyết.
Đặc biệt là sự đóng góp quan trọng của nhà văn chuyên viết lịch sử Nguyễn Tử Siêu: Tiếng sấm đêm đông (1928), Vua bà Triệu Ẩu (1929), Hai bà đánh giăc (1929), Việt Thanh chiến sử (1929), Trần Nguyên chiến kỷ (1932). Giai đoạn 1930-1945, văn học phát triển mạnh mẽ với nhiều khuynh hƣớng, trƣờng phái sáng tác. Nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng con ngƣời khỏi áp bức cƣờng quyền, bần cùng và tha hóa khiến đề tài lịch sử chƣa đƣợc quan tâm.