ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã có truyền thống từ lâu đời và góp phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống và thu nhập của hàng triệu hộ gia đình. Tỉ lệ thịt gia cầm chiếm 18-20% tổng lượng thịt tiêu thụ chỉ đứng thứ 2 sau thịt lợn (thịt lợn chiếm khoảng 75% tổng lượng thịt tiêu thụ). Theo Tổng cục thống kê, năm 2015 tổng sản lượng thịt gia cầm của cả nước đạt 700,873 tấn. Chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng sẽ vẫn tiếp tục giữa một vai trò quan trọng trong sự phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam trong tương lai.
Điều này được thể hiện rõ trong Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020. Theo Moula et al. ( 2011), các giống gà bản địa của Việt Nam có số lượng khoảng 86,63-93,30 triệu con, bao gồm các giống gà như: gà Ri, Mía, Móng, Hồ, Đông Tảo, H’Mông. Đặc điểm nổi bật của các giống gà địa phương là thích nghi tốt với điều kiện môi trường sống, khả năng chống chịu bênh tật tốt, chất lượng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, tuy nhiên những giống gà địa phương này có năng suất thấp.
Vì vây, để nâng cao năng suất chăn nuôi, nhiều giống gà có năng suất cao đã được nhập về nước ta. Điều này dẫn đến hiện tượng lai tạp, suy thoái và mất dần tính đa dạng di truyền của các giống gà bản địa. Nhiều giống gà đang bị thoái hóa, lai tạp, thậm chí một số giống đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thông báo rằng, việc các nước nghèo nhập khẩu ồ ạt các giống cao sản chính là mối đe dọa lớn nhất đối với sự đa dạng các giống vật nuôi bản địa hiện nay.
Việc sử dụng các giống gà cao sản nhập nội cho lai tạo với các giống gà nội nhiều , thậm chí không kiểm soát đã dẫn đến nguy cơ biến mất của các giống bản địa. Gà H’Mông là giống gà bản địa được phát hiện đầu tiên ở Sơn La, do bà con dân tộc H’Mông thuần dưỡng. Giống gà này có đặc điểm là da đen, thịt đen, xương đen. Thịt gà H’Mông có thể được sử dụng để bồi bổ sức khỏe cho con người, nhất là cho phụ nữ có thai, người già và nó có tác dụng tốt đối với một số bệnh về tim mạch, gan, thận.
Ngoài ra gà H’Mông còn được biết đến với bởi thịt dai, chắc, thơm ngon và ít mỡ, phù hợp với thị hiếu của người Việt Nam. Tuy nhiên, gà H’Mông hiện nay số lượng còn ít, chủ yếu được nuôi bởi đồng bào dân 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tộc H’Mông ở miền núi phía bắc với phương thức chăn thả tự do làm cho giống gà này bị lai tạp, mất nguồn gen. Vì vậy, tìm ra giải pháp chăn nuôi nhằm tăng năng suất và đảm bảo chất lượng thịt của gà H’Mông thuần là cần thiết. Đề tài “Năng suất, chất lượng sản phẩm gà H’Mông” được thực hiện nhằm góp phần duy trì và phát triển giống gà H’Mông, đồng thời cung cấp những dữ liệu khoa học về năng suất và chất lượng sản phẩm của giống gà này.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Cung cấp thông tin khoa học về năng suất sinh trưởng, sinh sản của gà H’Mông. - Đánh giá chất lượng sản phẩm thịt, trứng của gà H’Mông. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Khai thác nguồn gen vật nuôi quý hiếm của Việt Nam, góp phần bảo tồn và duy trì sự đa dạng sinh học của các giống bản địa. - Kết quả của đề tài làm tài liệu tham khảo có giá trị cho những người chăn nuôi giống gà này.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở GIA CẦM Sinh trưởng là quá trình diễn ra đồng thời, liên tục trong cơ thể động vật cũng như cơ thể gia cầm. Sinh trưởng là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơ thể do kết quả của sự phân chia các tế bào dinh dưỡng.
Theo Lee và Gatner (1898) thì sự sinh trưởng, trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích, tăng các chất ở mô tế bào để tạo nên sự sống, trong đó tăng số lượng và tăng thể tích là quá trình quan trọng nhất (dẫn theo Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995; Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường ,1992). Trong chăn nuôi động vật, sinh trưởng thường được xác định bằng sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể qua những giai đoạn nhất định, thực chất của sự phát triển đó là sự tăng lên về số lượng protein và khoáng chất trong cơ thể (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004). Về mặt sinh học, sự tăng trưởng thực chất là các tế bào của mô cơ tăng thêm số lượng, khối lượng và các chiều, vì vậy từ khi trứng rụng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai, đối với gia cầm là thời kì hậu phôi và thời kì trưởng thành. Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý dẫn đến phát dục.
Phát dục là quá trình thay đổi về chất tức là tăng lên thêm và hoàn chỉnh các tính chất chức năng của bộ phận cơ thể. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm - Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền giống,dòng: Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm. Theo Swright (1997) (dẫn theo Trần Đình Miên và cs., 1975) các gene ảnh hưởng đến sinh trưởng của động vật được chia thành 3 loại: gene ảnh hưởng đến sự phát triển nói chung, đến các chiều, đến tính năng lý học các chiều; gene ảnh hưởng theo nhóm; và gene ảnh hưởng đến một vài tính trạng riêng rẽ. Theo Nguyễn Ân và cs.
(1983) thì các tính trạng năng suất (trong đó có tốc độ sinh trưởng) là các tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể, kích thước, chiều đo. Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các gene này hoạt động theo ba phương thức đó là sự cộng gộp, trội, lặn và tương tác giữa các gene. G=A+D+I Trong đó: G: Giá trị kiểu gene (Genotype value); A: Giá trị cộng gộp – hiệu ứng tích lũy từng gene (Additive value); D: Sai lệch do tương tác trội lặn – hiệu ứng giữa các gene cùng lôcut (Dominance deviation); I: Sai lệch do tương tác giữa các gene – hiệu ứng tương tác của các gene không cùng lôcut (Interaction deviation).
Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần. Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi, người ta sử dụng đại lượng hệ số di truyền (h2). Đặng Hữu Lanh và cs. (1999) đã khái quát: Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gene quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình.
Nhìn chung, các tính trạng thuộc “nhóm tăng trưởng” thường có hệ số di truyền cao, còn các “nhóm sinh sản” thường thấp; thí dụ: ở gà ở 32 tuần tuổi có hệ số di truyền thể trọng là 0,55; khối lượng trứng là 0,50 và sản lượng trứng là 0,10. Nghiên cứu của Trần Công Xuân và cs. (1997) nghiên cứu trên gà lông màu hai dòng Tam Hoàng 882 và Jang Cun vàng cho biết các giống khác nhau và thậm chí trong cùng một giống thì các dòng khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng và cs.
(1994) cũng cho thấy sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm là rất lớn. Các giống gà kiêm dụng thường nặng hơn gà hướng trứng 500 – 700g (từ 13 – 30%). - Ảnh hưởng của tính biệt: Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái (trừ thường hợp chim cút con trống nhỏ hơn con mái). Theo Jull (1990) (dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996), gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 – 32%.
Tác giả cũng cho biết, sự sai khác này do gene liên kết giới tính, những gene này ở gà trống (2 NST giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 NST). North và Bell (1990) cho biết khối lượng gà con một ngày tuổi tương quan dương với khối 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng trứng giống đưa vào ấp, song không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi. Song lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi hơn 5%; 3 tuần tuổi hơn 11%; 8 tuần tuổi hơn 27%. - Ảnh hưởng của độ tuổi: Sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào độ tuổi và nó tuân theo quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn.
Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều và có tính chu kỳ. Gia cầm non có tốc độ sinh trưởng rất cao, trong thời gian ngắn khối lượng có thể tăng lên hàng chục lần, về sau tốc độ sinh trưởng giảm dần ở từng độ tuổi. Ngoài ra, tốc độ sinh trưởng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể cũng không đều. Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) cho biết, để phát huy khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu và đầy đủ, các chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và axit amin thiết yếu; ngoài ra, cần cung cấp đủ khoáng và vitamin.
- Ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng: Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của gia cầm. Đặc biệt, đối với gia cầm non do không được bú mẹ như ở động vật có vú nên thức ăn của chúng ở giai đoạn đầu có tác dụng quyết định đến khả năng sinh trưởng và khối lượng cơ thể của chúng sau này. Theo Trần Đình Miên và cs. (1975) thì việc nuôi dưỡng mà chủ yếu là thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sinh trưởng của gia súc và gia cầm.