CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận - Khái niệm môi trường: Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014, môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [13]. - Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trương Việt Nam 2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tiêu chuẩn môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến đến con người và sinh vật” [13].
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó kịp thời với sự cố; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học[17]. - Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường[13]. - Khái niệm Quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2014: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong chất thải; các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường”[13]. - Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, 4 tái sử dụng, tái chế, sử lý, tiêu huỷ, thải loại chất thải [13].
- Sức chịu tải của môi trường là giới hạn cho phép mà môi trường có thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm[13]. - Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường[13]. - Khu công nghiệp: Là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do chính phủ quyết định thành lập[15]. Cơ sở pháp lý - Luật Hóa chất số: 06/2007/QH12 ngày 21/11/2007; - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH12 ngày 21/6/2012; - Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013; - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014; - Luật Bảo vệ Môi trường số: 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014; - Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014; - Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ số 68/2006/QH11 ngày 29/6/2006; - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; - Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về việc quản lý chất thải và phế liệu; - Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Bảo vệ môi trường; - Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; - Thông tư số 13/2007/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều Nghị 5 định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; - Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại; - Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ Y tế về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động.
Hiện trạng môi trường của các khu công nghiệp trên thế giới và Việt Nam 1. Hiện trạng môi trường của các khu công nghiệp trên thế giới Vấn đề về ô nhiễm công nghiệp mà các nước khác nhau trên toàn thế giới phải gánh chịu là khác nhau. Tại các nước Bắc Âu Ở các nước phát triển, vào đầu thế kỷ XX, lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước tại cơ sở sản xuất là rất lớn. Bên cạnh đó một lượng lớn các chất thải phát sinh từ nhà máy sản xuất ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường nặng nề.
Một ví dụ điển hình là khu công nghiệp ở miền Bắc nước Anh, nơi bụi phóng xạ của muội đã đặt một lớp phủ bóng tối trải lên toàn bộ cảnh quan khu vực. Giống như Anh khu vực Ruhr ở Đức, một lượng lớn không mong muốn bụi phóng xạ từ các ngành công nghiệp thép đã gây ô nhiễm không khí nặng nề cho khu vực. Tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, tình huống tương tự xảy ra. Những nỗ lực ở các nước OECD trong việc giảm thiểu ô nhiễm bắt đầu được thực hiện vào năm 1980 đến nay, và sự đền đáp cho cho những nỗ lực đó trở nên rõ ràng khi việc xả early- chất ô nhiễm được xác định đã được giảm đến một mức độ lớn kể từ đầu năm 1970 và nhiều vấn đề môi trường đã được giải quyết.
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp thường đi kèm với sự gia tăng tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu thô. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm sản xuất công nghiệp ở nhiều quốc gia cho thấy tốc độ tăng trưởng công nghiệp có thể có lợi trong công tác bảo vệ môi trường và quản lý nghiên cứu và phát triển, do đó thúc đẩy công nghệ mới trong ngành công nghiệp để tiếp tục giảm thiểu rủi ro môi trường cần được phát huy. Công nghiệp phát triển sẽ cung cấp các điều kiện tài chính cần thiết, các khoản 6 đầu tư lớn cho công cuộc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp cũng như đầu tư các thiết bị xử lý môi trường tại nguồn phát thải. Kết quả, tạo ra cho một sự phát triển công nghiệp bền vững tác động nhỏ tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và tăng cường tái chế chất thải [12].
Tuy nhiên đến nay các vấn đề môi trường vẫn còn tồn tại ở nhiều nước OECD. Ở nhiều địa phương, ô nhiễm công nghiệp nằng nề mới chỉ được thay thế bởi khu vực khác hoặc tăng diện tích phát tán ô nhiễm. các khu vực cũng như nhà máy gây ô nhiễm vẫn còn tồn tại, các sự cố môi trường đôi khi vẫn xảy ra. Tại các nước Đông Âu Các ngành công nghiệp nặng chiếm ưu thế ở Đông Âu và thường tập trung vào một khu vực nhất định nơi có nguồn tài nguyên khoáng sản.
Tuy nhiên cho đến nay những tác động môi trường của công nghiệp hóa ở các khu vực này rất ít quan tâm. Kết quả là, các nước Đông Âu đang đối mặt rất nghiêm trọng vấn đề ô nhiễm công nghiệp. Tuy nhiên sự thay đổi lớn trong cơ cấu xã hội trong thời gian qua đã dẫn đến trong những thay đổi trong cơ cấu công nghiệp. Các ngành công nghiệp nặng và ô nhiễm môi trường tại các nước Đông Âu đã được giảm đáng kể trong thời gian qua [12].
Tại các quốc gia đang phát triển Tình hình ô nhiễm công nghiệp tại các quốc gia đang phát triển nghiêm trọng và phức tạp hơn trong các quốc gia phát triển nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa ở các nước này là ít nâng cao. Các ngành công nghiệp điển hình ở các nước này bao gồm hoạt động sản xuất gang thép; hoạt động khai thác khoáng sản; các ngành công nghiệp dệt may, thuộc da và các ngành công nghiệp giấy và bột giấy. Tuy nhiên để phát triển kinh tế các quốc gia đnag phát triển vẫn đưa ra nhiều chính sach Nhiều doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau đã coi thị trường của các nước đang phát triển là thị trường Trong những năm 2000, một số nhà đầu tư không thể hoặc không sẵn sàng để đáp ứng tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt hơn đã chuyển đến "vùng tự do công nghiệp" ở nhiều nước đang phát triển, mà làm cho tình hình ô nhiễm môi trường ở các nước này phức tạp hơn. Nhiều nhà đầu tư ở các nước phát triển đã lựa chọn đầu 7 tư phát triển doanh nghiệp tại các nước đang phát triển do chính sách ưu đãi của cơ quan quản lý nhà nước, do nguồn nguyên liệu cũng như lực lượng lao động rồi rào.
bên cạnh lợi ích mà các nhà đầu tư mà các doanh nghiệp đem lại cho kinh tế của các nước đang phát triển thì vấn đề môi trường lại càng nghiêm trọng hơn nguyên nhân là do có nhiều doanh nghiệp tới đầu tư phát triển tuy nhiên công nghệ sản xuất lại chưa được đầu tư đồng bộ, chính sách ưu tiên thu hút đầu tư đã coi nhẹ vấn đề môi trường dẫn đến chất lượng môi trường ngày càng sụt giảm [12] [29]. Hiện trạng môi trường của các khu công nghiệp ở Việt Nam Để phục vụ các khu công nghiệp, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bình quân mỗi năm có 73 nghìn ha đất nông nghiệp được thu hồi, trong 5 năm từ năm 2001 - 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã lấy là gần 370 nghìn ha. Hai vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc là nơi được thu hồi đất nhiều nhất, trong đó những địa phương đứng đầu là: Tiền Giang (20,3 nghìn ha), Đồng Nai (19,7 nghìn ha), Bình Dương (16,6 nghìn ha), Hà Nội (7,7 nghìn ha), Vĩnh Phúc (5,5 nghìn ha). Điều đó tác động tới đời sống khoảng 2,5 triệu người với gần 630 nghìn hộ nông dân.
Số liệu cho thấy, trung bình cứ mỗi ha đất thu hồi, sẽ làm hơn 10 lao động nông dân mất việc. Do thiếu trình độ, sau khi thu hồi đất có tới 67% số nông dân vẫn giữ nguyên nghề sản xuất nông nghiệp, 13% chuyển sang nghề mới, 20% không có việc làm hoặc có việc nhưng không ổn định, 53% số hộ nông dân bị thu hồi đất có thu nhập sụt giảm so với trước đây nên đời sống gặp nhiều khó khăn[14].