Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nhiễm ký sinh trùng là vấn đề y tế công cộng phổ biến tại các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh giun truyền qua đất ảnh hưởng tới khoảng 1,5 tỷ người trên toàn cầu, chiếm 24% dân số thế giới. Tại Việt Nam, đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa kết hợp với các tập quán canh tác nông nghiệp, điều kiện vệ sinh môi trường và thói quen ăn uống (sử dụng rau sống, gỏi cá, thực phẩm tái sống, nguồn nước chưa đun sôi, nuôi thú cưng) khiến tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng duy trì ở mức cao. Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất chung trên cả nước ước tính khoảng 30%, trong đó khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên ghi nhận tỷ lệ trên 50%, miền Trung từ 30% đến 50%, đồng bằng sông Hồng từ 10% đến 30%, và các tỉnh phía Nam từ 10% đến 20%. Bên cạnh đó, bệnh sán lá gan nhỏ lưu hành tại 20 tỉnh miền Bắc và 12 tỉnh miền Trung - miền Nam; sán lá gan lớn xuất hiện tại 53/60 tỉnh thành với khoảng 10.000 đến 12.000 ca mắc mỗi năm; sán dây và ấu trùng sán lợn ghi nhận rải rác tại 60/63 tỉnh thành với 10.000 đến 11.000 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị hàng năm.
Khi ký sinh trong cơ thể người, ký sinh trùng chiếm dụng chất dinh dưỡng, gây tổn thương cơ học tại các mô và cơ quan, đồng thời kích thích các phản ứng miễn dịch dị ứng, làm thay đổi các thành phần tế bào máu ngoại vi. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu dịch tễ, việc đánh giá chi tiết sự biến đổi của các chỉ số huyết học cũng như mối liên quan giữa cường độ nhiễm sán lá gan nhỏ với các thông số dòng tế bào máu tại cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa vẫn cần được cập nhật bằng các dữ liệu cụ thể.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Trương Thị Luyện thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài: "Nghiên cứu một số chỉ số huyết học và mối tương quan với mức độ nhiễm sán lá gan nhỏ ở bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng tại Bệnh viện Đặng Văn Ngữ".
Nhiệm vụ của nghiên cứu được xác định qua hai mục tiêu cụ thể:
- Mô tả đặc điểm một số chỉ số huyết học ở bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng tại Bệnh viện Đặng Văn Ngữ năm 2020.
- Phân tích mối tương quan giữa các chỉ số huyết học với mức độ nhiễm sán lá gan nhỏ ở bệnh nhân trên.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân đến khám tại Khoa Khám bệnh chuyên ngành – Bệnh viện Đặng Văn Ngữ, được chẩn đoán xác định nhiễm ít nhất một trong 6 loại ký sinh trùng: giun đũa chó/mèo (Toxocara spp.), giun móc (Ancylostoma duodenale / Necator americanus), giun lươn (Strongyloides stercoralis), sán lá gan lớn (Fasciola spp.), sán lá gan nhỏ (Clonorchis sinensis), sán dây (Taenia spp.) theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Bộ Y tế và có đầy đủ kết quả xét nghiệm huyết học. Nghiên cứu loại trừ các bệnh nhân có tiền sử hoặc đang mắc các bệnh lý mạn tính, cấp tính gây ảnh hưởng trực tiếp đến tế bào máu như suy tủy xương, xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn, sốt rét, sốt xuất huyết.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Bệnh viện Đặng Văn Ngữ trực thuộc Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương (địa chỉ: số 245 Lương Thế Vinh, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội).
- Thời gian: Số liệu nghiên cứu được thu thập hồi cứu từ các bệnh nhân đến khám vào tất cả các ngày thứ Năm trong tháng 8 và tháng 9 năm 2020 (các ngày 6/8, 13/8, 20/8, 27/8, 3/9, 10/9, 17/9, 24/9). Thời gian triển khai tổng hợp và xử lý đề tài từ tháng 2/2023 đến tháng 5/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận sinh học ký sinh trùng, cơ chế bệnh sinh học tế bào máu và các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Cơ sở lý thuyết tập trung vào các khái niệm cốt lõi:
- Ký sinh trùng và vật chủ: Cơ chế chiếm sinh chất, kích thích viêm, tạo tổn thương mô và tác động miễn dịch học của 6 nhóm giun sán đường ruột, nội tạng thường gặp.
- Dòng tế bào máu ngoại vi: Chức năng của hồng cầu (RBC), huyết sắc tố (HGB), hematocrit (HCT), bạch cầu (WBC), bạch cầu ái toan (#EO) và tiểu cầu (PLT).
- Tiêu chuẩn thiếu máu: Áp dụng theo ngưỡng phân định của WHO và tác giả xác định mức giảm huyết sắc tố khi HGB < 120 g/L; mức giảm hồng cầu khi RBC < 4 T/L.
- Tiêu chuẩn tăng bạch cầu: WBC > 10 G/L.
- Tiêu chuẩn tăng bạch cầu ái toan: Chia thành 3 mức độ gồm tăng nhẹ (0,5 – 1,5 G/L), tăng vừa (1,5 – 5,0 G/L) và tăng mạnh (> 5,0 G/L).
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập và phân tích dữ liệu hồi cứu từ hồ sơ bệnh án.
Cỡ mẫu nghiên cứu:
- Đối với Mục tiêu 1: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu tối thiểu cho một tỷ lệ trong quần thể:
$$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Trong đó chọn độ tin cậy 95% ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), sai số tuyệt đối $d = 0,098$, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng tham chiếu $p = 0,582$ lấy theo nghiên cứu của Sơn Thị Tiến và cộng sự (2022). Cỡ mẫu lý thuyết tính được là $n = 97$ bệnh nhân. Thực tế thu thập được 102 bệnh nhân thỏa mãn toàn bộ tiêu chuẩn lựa chọn.
- Đối với Mục tiêu 2: Trong 102 bệnh nhân thu thập được, chọn toàn bộ 40 bệnh nhân được chẩn đoán xác định nhiễm sán lá gan nhỏ để thực hiện phân tích tương quan giữa mật độ trứng trong phân và các thông số huyết học.
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn toàn bộ bệnh nhân đến khám trong các ngày thứ Năm của tháng 8 và tháng 9 năm 2020 đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu.
Phương pháp thu thập dữ liệu và kỹ thuật xét nghiệm:
- Kỹ thuật lấy mẫu: Mẫu phân (5 – 10 gam) lấy đúng kỹ thuật, loại bỏ tạp chất; mẫu máu tĩnh mạch lấy vào ống chống đông tiêu chuẩn, thao tác nhẹ nhàng tránh vỡ hồng cầu.
- Kỹ thuật Kato-Katz: Xét nghiệm định lượng phân phát hiện trứng giun sán, sử dụng bộ dụng cụ Kato-Katz chuyên dụng, phiến đong định lượng, lưới lọc và giấy cellophane ngâm dung dịch xanh malachite tối thiểu 24 giờ. Đếm toàn bộ số trứng trên tiêu bản dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 10x và 40x để tính số lượng trứng trong 1 gam phân (Eggs Per Gram - EPG).
- Kỹ thuật phân tích tế bào máu tự động: Phân tích 24 thông số tế bào máu ngoại vi trên máy huyết học tự động Celtac F, vận hành theo nguyên lý trở kháng và nguyên lý quang học.
- Kỹ thuật miễn dịch gắn men (ELISA): Sử dụng bộ sinh phẩm chẩn đoán của hãng SCIMEDX (Hoa Kỳ) để phát hiện kháng thể kháng ký sinh trùng đặc hiệu trong huyết thanh, đọc kết quả mật độ quang (OD) ở bước sóng 450/650-620 nm.
Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu được quản lý, nhập liệu và làm sạch trên phần mềm Microsoft Excel. Thống kê mô tả tính tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn ($\overline{X} \pm SD$), giá trị nhỏ nhất (Min), lớn nhất (Max). Đánh giá mối liên quan tuyến tính thông qua hệ số tương quan Pearson ($r$) với khoảng giá trị từ -1 đến +1 và mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 cung cấp tổng quan lý thuyết về hình thái học, chu trình phát triển, phương thức truyền bệnh và bệnh học của 6 loại ký sinh trùng:
- Giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale và Necator americanus): Trưởng thành cư trú tại niêm mạc ruột non, dùng ngàm ngoạm vào mao mạch hút máu (trung bình 0,04 – 0,16 ml máu/ngày/con) và tiết chất chống đông, dẫn đến mất máu mạn tính gây thiếu máu nhược sắc, loét hành tá tràng, mệt mỏi, suy dinh dưỡng.
- Giun đũa chó/mèo (Toxocara spp.): Người nhiễm do nuốt phải trứng có phôi từ đất, rau hoặc lông vật nuôi. Ấu trùng không phát triển thành giun trưởng thành mà di chuyển tạo hai thể lâm sàng: thể ấu trùng di chuyển nội tạng (VLM) gây sốt, gan to, hoại tử mô, phản ứng hen phế quản, tăng bạch cầu ái toan máu ngoại vi (có thể lên tới 70%); thể ấu trùng di chuyển ở mắt (OLM) gây suy giảm thị lực, viêm võng mạc, mù lòa.
- Giun lươn (Strongyloides stercoralis): Có chu trình ký sinh và chu trình tự do; ấu trùng xâm nhập qua da vào hệ tuần hoàn lên phổi rồi xuống ruột. Bệnh gây viêm ruột mạn tính, rối loạn tiêu hóa và nguy cơ tự nhiễm bùng phát nghiêm trọng ở người suy giảm miễn dịch hoặc dùng corticoid kéo dài.
- Sán lá gan lớn (Fasciola spp.): Người nhiễm do ăn thực vật thủy sinh hoặc uống nước có nang trùng (metacercaria); sán non xuyên qua thành ruột vào xoang phúc mạc rồi đến định vị tại đường mật, gây hoại tử nhu mô gan, áp xe gan dạng ổ âm hỗn hợp trên siêu âm, tăng tỷ lệ xơ hóa và thâm nhiễm bạch cầu ái toan quanh tĩnh mạch cửa.
- Sán lá gan nhỏ (Clonorchis sinensis): Nang ấu trùng từ thịt cá nước ngọt chưa nấu chín giải phóng tại tá tràng, di chuyển ngược dòng mật lên gan phát triển thành sán trưởng thành sau khoảng 26 ngày. Sán gây kích thích cơ học và viêm mạn tính đường mật, làm dày thành ống mật, xơ hóa khoảng cửa, sỏi mật, biến đổi biểu mô đường mật và sinh các hợp chất N-nitroso nội sinh từ đại thực bào hoạt hóa, dẫn tới nguy cơ ung thư biểu mô đường mật (cholangiocarcinoma).
- Sán dây bò (Taenia saginata) và sán dây lợn (Taenia solium): Gây bệnh sán trưởng thành tại ruột; riêng ấu trùng sán dây lợn (cysticercosis) khi xâm nhập mô tạo nang tại cơ vân, mắt và hệ thần kinh trung ương (neurocysticercosis), gây co giật, tăng áp lực nội sọ, động kinh.
Chương này cũng tổng thuật các công trình nghiên cứu dịch tễ trong nước và quốc tế (Kim Tong-Soo tại Hàn Quốc, Amare Mengistu tại Ethiopia, B. Sinniah tại Malaysia; Trương Văn Hải, Khamlar Xiong, Nguyễn Văn Đề, Đỗ Trung Dũng tại Việt Nam), đồng thời giới thiệu chức năng nhiệm vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật của Bệnh viện Đặng Văn Ngữ.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thực hiện nghiên cứu:
- Thiết lập tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ cụ thể trên 102 bệnh nhân có hồ sơ xét nghiệm hoàn chỉnh.
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án khám ngoại trú tháng 8 và tháng 9 năm 2020.
- Chi tiết hóa các thao tác thực hành xét nghiệm: kỹ thuật lấy máu tĩnh mạch chống đông EDTA; quy trình làm tiêu bản Kato-Katz và công thức nhân hệ số phiến đong để tính EPG; quy trình chạy máy Celtac F kiểm soát chất lượng bằng mẫu chuẩn; quy trình thao tác xét nghiệm ELISA với các bước ủ, rửa, thêm cơ chất và đo mật độ quang học.
- Định nghĩa phân loại các biến số nghiên cứu (tuổi, giới, phân loại đơn/đa nhiễm, các chỉ số huyết học định lượng RBC, HGB, WBC, #EO, PLT và các ngưỡng biến đổi định tính).
- Biện pháp hạn chế sai số (kiểm chuẩn thiết bị định kỳ, kỹ thuật viên thống nhất quy trình, thẩm định lại việc nhập số liệu) và cam kết tuân thủ đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 tổng hợp các phát hiện định lượng qua hệ thống bảng và biểu đồ:
-
Đặc điểm nhân khẩu học và dịch tễ (n = 102):
- Phân bố nhóm tuổi: Nhóm tuổi lao động từ 15 – 59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 84,31% (86 bệnh nhân); nhóm dưới 15 tuổi chiếm 10,78% (11 bệnh nhân); nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm 4,91% (5 bệnh nhân).
- Phân bố giới tính: Nam giới chiếm tỷ lệ 68,93% (70 bệnh nhân), cao hơn đáng kể so với nữ giới chiếm 31,07% (32 bệnh nhân).
- Tình trạng nhiễm: Đơn nhiễm 1 loài chiếm đa số với 68,63% (70 bệnh nhân); đa nhiễm chiếm 31,37% (32 bệnh nhân), bao gồm nhiễm 2 loài là 24,50% (25 bệnh nhân), nhiễm 3 loài là 5,88% (6 bệnh nhân), và nhiễm 4 loài là 0,99% (1 bệnh nhân).
- Cơ cấu loài ký sinh trùng: Nhiễm Toxocara spp. ghi nhận ở 45 ca; sán lá gan nhỏ 40 ca; sán lá gan lớn 29 ca; sán dây 14 ca; giun lươn 6 ca; giun móc 5 ca.
- Phân bố giới tính theo bệnh: Nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối ở nhóm sán lá gan nhỏ (97,50% nam so với 2,50% nữ), giun móc (100% nam), giun lươn (83,33% nam), sán dây (71,43% nam), Toxocara (66,67% nam). Riêng nhóm sán lá gan lớn có tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới (58,62% nữ so với 41,38% nam).
-
Đặc điểm các chỉ số huyết học ở 102 bệnh nhân:
- Số lượng hồng cầu (RBC): Giá trị trung bình đạt $5,01 \pm 0,76$ T/L (Min: 3,64 T/L; Max: 7,54 T/L). Tỷ lệ bệnh nhân có RBC giảm (< 4 T/L) là 5,80% (6 ca), ghi nhận ở nhóm giun lươn (16,67%), sán lá gan lớn (10,34%) và Toxocara (4,40%). Các nhóm sán lá gan nhỏ, sán dây, giun móc không có trường hợp nào giảm RBC.
- Lượng huyết sắc tố (HGB): Giá trị trung bình đạt $136,00 \pm 21,00$ g/L (Min: 100 g/L; Max: 195 g/L). Tỷ lệ thiếu máu giảm HGB (< 120 g/L) chung là 15,53% (16 ca); cao nhất ở nhóm sán dây (21,43%), giun móc (20,00%), giun lươn (16,67%), Toxocara (8,89%) và sán lá gan nhỏ (5,00%). Nhóm sán lá gan lớn không có trường hợp nào giảm HGB.
- Số lượng bạch cầu (WBC): Giá trị trung bình là $9,39 \pm 3,14$ G/L (Min: 3,50 G/L; Max: 19,10 G/L). Tỷ lệ tăng bạch cầu (> 10 G/L) chung là 28,43% (29 ca); cao nhất ở nhóm sán lá gan lớn với 41,38% (trung bình $10,40 \pm 3,40$ G/L), tiếp theo là sán dây (35,71%), sán lá gan nhỏ (30,00%), Toxocara (20,00%), giun móc (20,00%).
- Số lượng bạch cầu ái toan (#EO): Giá trị trung bình chung là $1,63 \pm 1,71$ G/L (Min: 0,10 G/L; Max: 8,30 G/L). Tỷ lệ tăng #EO ở các nhóm: sán lá gan lớn 89,65% (26/29 ca), giun lươn 83,33% (5/6 ca), sán dây 71,43% (10/14 ca), sán lá gan nhỏ 60,00% (24/40 ca), giun móc 60,00% (3/5 ca), Toxocara 46,67% (21/45 ca).
- Phân độ tăng bạch cầu ái toan (trên 61 bệnh nhân có tăng #EO): Tăng nhẹ (0,5 – 1,5 G/L) chiếm 34,42% (21 ca); tăng vừa (1,5 – 5,0 G/L) chiếm 47,54% (29 ca); tăng mạnh (> 5,0 G/L) chiếm 18,04% (11 ca).
- Số lượng tiểu cầu (PLT): Giá trị trung bình đạt $214,75 \pm 51,77$ G/L (Min: 161 G/L; Max: 478 G/L). Tỷ lệ bệnh nhân có tiểu cầu trong giới hạn bình thường là 98,06% (100 ca), 1,94% tăng nhẹ (2 ca), không có trường hợp nào giảm tiểu cầu.
-
Mối tương quan giữa mật độ trứng trong phân và các chỉ số huyết học ở 40 bệnh nhân nhiễm sán lá gan nhỏ:
- Tương quan nghịch mức độ trung bình giữa số lượng trứng và số lượng hồng cầu (RBC): $r = -0,36$ với $p = 0,022 < 0,05$.
- Tương quan thuận mức độ trung bình giữa số lượng trứng và lượng huyết sắc tố (HGB): $r = 0,41$ với $p = 0,007 < 0,05$.
- Tương quan thuận mức độ trung bình giữa số lượng trứng và hematocrit (HCT): $r = 0,37$ với $p = 0,017 < 0,05$.
- Tương quan thuận mức độ yếu đến trung bình giữa số lượng trứng và số lượng bạch cầu ái toan (#EO): $r = 0,34$ với $p = 0,033 < 0,05$.
- Mối tương quan giữa số lượng trứng với số lượng bạch cầu chung (WBC: $r = 0,21; p = 0,189$) và số lượng tiểu cầu (PLT: $r = 0,07; p = 0,630$) không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung biện giải các kết quả nghiên cứu trong sự đối chiếu với y văn:
- Về nhóm tuổi: Tỷ lệ nhiễm ở trẻ dưới 15 tuổi thấp (10,78%) phản ánh kết quả tích cực từ các chương trình tẩy giun định kỳ học đường và sự cải thiện điều kiện nuôi dưỡng, giữ gìn vệ sinh của gia đình. Nhóm tuổi 15 – 59 tuổi chiếm đa số (84,31%) phù hợp với nghiên cứu của Sơn Thị Tiến và cộng sự (2022), do đây là lực lượng lao động tiếp xúc trực tiếp với môi trường đất nước, đồng thời có thói quen tiêu thụ thực phẩm sống hoặc tái.
- Về tình trạng đa nhiễm: Tỷ lệ đa nhiễm trong nghiên cứu là 31,37%, thấp hơn đáng kể so với con số 56,70% của Amare Mengistu (2007). Sự chuyển biến này phản ánh nhận thức vệ sinh phòng bệnh và điều kiện kinh tế xã hội của người dân đã được nâng lên.
- Về phân bố giới tính: Tỷ lệ nam giới chiếm 68,93% toàn mẫu và đặc biệt lên tới 97,50% ở nhóm sán lá gan nhỏ. Hiện tượng này gắn liền với tập quán ăn gỏi cá kết hợp uống rượu của nam giới. Tác giả dẫn chứng nghiên cứu của Sriraj (2013) khẳng định nồng độ cồn trong rượu thúc đẩy nhanh quá trình thoát nang của ấu trùng sán lá gan nhỏ, làm tăng khả năng nhiễm bệnh. Kết quả này khác biệt với công trình của Lương Trường Sơn và cộng sự (2013) tại Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TP. Hồ Chí Minh (ghi nhận nữ giới chiếm 67,80%), cho thấy sự khác biệt về tập quán văn hóa ẩm thực theo vùng miền. Ngược lại, nhóm sán lá gan lớn có tỷ lệ nữ (58,62%) cao hơn nam (41,38%), liên quan đến thói quen ăn các loại rau thủy sinh sống (rau cần, rau muống nước, cải xoong).
- Về biến đổi các chỉ số huyết học: Hiện tượng giảm hồng cầu chỉ xuất hiện ở 5,80% ca bệnh, trong khi tỷ lệ giảm huyết sắc tố (thiếu máu) là 15,53%. Điểm đáng chú ý là có sự tăng số lượng hồng cầu ở một số bệnh nhân chưa rõ nguyên nhân cơ chế, cần được nghiên cứu sâu hơn. Tăng bạch cầu ái toan là biến đổi rõ nét nhất với tỷ lệ tăng chung gần 60%, đặc biệt ở nhóm sán lá gan lớn (89,65%) và giun lươn (83,33%). Tuy nhiên, mức độ tăng bạch cầu ái toan không tương xứng hoàn toàn với mức độ nghiêm trọng lâm sàng.
- Về mối tương quan với mức độ nhiễm sán lá gan nhỏ: Mối tương quan nghịch giữa số lượng trứng trong phân với số lượng hồng cầu ($r = -0,36$) phản ánh khi mật độ sán cư trú đường mật càng lớn, quá trình kích thích viêm, tổn thương thành mạch đường mật và suy giảm dinh dưỡng dẫn đến xu hướng giảm hồng cầu máu ngoại vi. Tuy nhiên, mối tương quan thuận giữa số lượng trứng với HGB ($r = 0,41$) và HCT ($r = 0,37$) là hiện tượng phân tán số liệu trên cỡ mẫu 40 bệnh nhân, đòi hỏi các nghiên cứu tiến cứu tiếp theo để kiểm chứng.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu mô tả toàn diện về đặc điểm nhân khẩu học, tỷ lệ đơn/đa nhiễm và các thông số huyết học ngoại vi của 102 bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng tại Bệnh viện Đặng Văn Ngữ.
Bảng tổng hợp đặc điểm biến đổi huyết học theo từng nhóm ký sinh trùng:
| Nhóm ký sinh trùng |
Số ca (n) |
RBC giảm (<4 T/L) (%) |
HGB giảm (<120 g/L) (%) |
WBC tăng (>10 G/L) (%) |
#EO tăng (>0,5 G/L) (%) |
PLT bình thường (%) |
| Toxocara spp. |
45 |
4,40 |
8,89 |
20,00 |
46,67 |
100,00 |
| Sán lá gan nhỏ |
40 |
0,00 |
5,00 |
30,00 |
60,00 |
95,00 |
| Sán lá gan lớn |
29 |
10,34 |
0,00 |
41,38 |
89,65 |
96,55 |
| Sán dây |
14 |
0,00 |
21,43 |
35,71 |
71,43 |
100,00 |
| Giun móc |
5 |
0,00 |
20,00 |
20,00 |
60,00 |
100,00 |
| Giun lươn |
6 |
16,67 |
16,67 |
0,00 |
83,33 |
100,00 |
| Chung |
102 |
5,80 |
15,53 |
28,43 |
59,80 |
98,06 |
Về phân tích tương quan trên 40 bệnh nhân sán lá gan nhỏ: Xác định được mối tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê giữa mật độ trứng trong phân (EPG) với các thông số: hồng cầu ($r = -0,36; p = 0,022$), huyết sắc tố ($r = 0,41; p = 0,007$), hematocrit ($r = 0,37; p = 0,017$) và bạch cầu ái toan ($r = 0,34; p = 0,033$).
Giải pháp và khuyến nghị của tác giả:
- Tăng cường tuyên truyền giáo dục sức khỏe trong cộng đồng nhằm thay đổi tập quán ăn uống có nguy cơ cao, đặc biệt là bỏ thói quen ăn gỏi cá sống kèm uống rượu ở nam giới trong độ tuổi lao động.
- Chú trọng khai thác xét nghiệm công thức máu toàn phần, đặc biệt là chỉ số bạch cầu ái toan (#EO), như một dấu hiệu chỉ điểm cận lâm sàng định hướng cho các kỹ thuật chẩn đoán xác định ký sinh trùng.
- Đề xuất mở rộng nghiên cứu theo dõi sự biến đổi các chỉ số huyết học trước và sau các phác đồ điều trị đặc hiệu.
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp số liệu cập nhật năm 2020 về phân bố đơn nhiễm, đa nhiễm và cơ cấu loài ký sinh trùng tại cơ sở khám chữa bệnh đầu ngành của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương.
- Lượng hóa chi tiết đặc điểm thay đổi từng dòng tế bào máu ngoại vi trên 6 nhóm bệnh ký sinh trùng thường gặp tại miền Bắc Việt Nam.
- Thiết lập dữ liệu định lượng bước đầu về hệ số tương quan Pearson giữa mức độ bài xuất trứng sán lá gan nhỏ với các thông số hồng cầu và bạch cầu ái toan trong điều kiện thực tế xét nghiệm y học tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Thiết kế hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án ngoại trú nên không thể kiểm soát toàn diện các sai số tiềm ẩn trong quá trình thu thập thông tin và ghi chép lâm sàng ban đầu.
- Cỡ mẫu còn hạn chế ($N = 102$ bệnh nhân chung và $n = 40$ bệnh nhân sán lá gan nhỏ), một số phân nhóm bệnh có cỡ mẫu rất nhỏ (giun móc 5 ca, giun lươn 6 ca) làm giảm sức mạnh thống kê khi phân tích so sánh giữa các nhóm.
- Chưa khảo sát được đầy đủ mối liên hệ giữa các biểu hiện lâm sàng chi tiết với mức độ biến đổi huyết học.
- Chưa theo dõi dọc được diễn tiến phục hồi của các chỉ số huyết học sau quá trình điều trị đặc hiệu.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai nghiên cứu tiến cứu với quy mô mẫu lớn hơn tại nhiều cơ sở y tế trên các địa bàn dịch tễ khác nhau.
- Thực hiện thiết kế nghiên cứu can thiệp có theo dõi dọc để đánh giá động thái biến đổi của số lượng bạch cầu ái toan và huyết sắc tố sau điều trị bằng thuốc diệt ký sinh trùng.
- Nghiên cứu cơ chế bệnh sinh giải thích hiện tượng tăng số lượng hồng cầu xuất hiện ở một bộ phận bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học, Y học Dự phòng và Truyền nhiễm: Tham khảo quy trình thực hành kỹ thuật xét nghiệm ký sinh trùng học (Kato-Katz, ELISA) và quy trình chuẩn bị mẫu bệnh phẩm phân, máu.
- Bác sĩ lâm sàng tại các cơ sở khám chữa bệnh: Sử dụng dữ liệu về tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan (gần 60%) và tỷ lệ thiếu máu để định hướng chẩn đoán căn nguyên ký sinh trùng khi tiếp nhận bệnh nhân có biến đổi công thức máu chưa rõ nguyên nhân.
- Các nhà nghiên cứu dịch tễ học và ký sinh trùng học: Tham khảo mô hình phân tích tương quan Pearson giữa cường độ nhiễm ký sinh trùng (EPG) với các chỉ số huyết học, phương pháp tính cỡ mẫu và khung phân loại mức độ tăng bạch cầu ái toan.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu trên bao nhiêu bệnh nhân và phân bố theo độ tuổi, giới tính như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát trên 102 bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng tại Bệnh viện Đặng Văn Ngữ. Trong đó, độ tuổi lao động từ 15 – 59 tuổi chiếm đa số với 84,31% (86 ca), nhóm dưới 15 tuổi chiếm 10,78% (11 ca), nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm 4,91% (5 ca). Về giới tính, nam giới chiếm ưu thế với 68,93% (70 ca) và nữ giới chiếm 31,07% (32 ca).
2. Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm ký sinh trùng trong mẫu nghiên cứu được ghi nhận ra sao?
Trong 102 bệnh nhân, tỷ lệ đơn nhiễm chiếm ưu thế với 68,63% (70 ca). Tỷ lệ đa nhiễm ký sinh trùng là 31,37% (32 ca), trong đó nhiễm đồng thời 2 loài chiếm 24,50% (25 ca), nhiễm 3 loài chiếm 5,88% (6 ca), và nhiễm 4 loài chiếm 0,99% (1 ca). Loài ký sinh trùng ghi nhận nhiều nhất là Toxocara spp. (45 ca) và sán lá gan nhỏ (40 ca).
3. Biến đổi huyết học nào xuất hiện với tần suất cao nhất ở bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng?
Tăng bạch cầu ái toan (#EO > 0,5 G/L) là biến đổi phổ biến nhất, xuất hiện ở 59,80% (61/102 ca) bệnh nhân nghiên cứu. Tỷ lệ này cao nhất ở nhóm sán lá gan lớn (89,65%) và giun lươn (83,33%). Trong số các ca tăng bạch cầu ái toan, mức độ tăng vừa (1,5 – 5,0 G/L) chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,54%.
4. Mối tương quan giữa số lượng trứng sán lá gan nhỏ trong phân và các chỉ số huyết học diễn ra như thế nào?
Phân tích trên 40 bệnh nhân nhiễm sán lá gan nhỏ cho thấy số lượng trứng trong 1 gam phân (EPG) có tương quan nghịch mức độ trung bình với số lượng hồng cầu ($r = -0,36; p = 0,022$); tương quan thuận mức độ trung bình với lượng huyết sắc tố ($r = 0,41; p = 0,007$), hematocrit ($r = 0,37; p = 0,017$); tương quan thuận với số lượng bạch cầu ái toan ($r = 0,34; p = 0,033$). Mối liên quan với số lượng bạch cầu chung và tiểu cầu không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
5. Tác giả đã sử dụng những kỹ thuật xét nghiệm cụ thể nào để thu thập dữ liệu trong khóa luận?
Tác giả đã ứng dụng ba kỹ thuật xét nghiệm chính: kỹ thuật Kato-Katz để định lượng số lượng trứng giun sán trong phân (EPG) bằng dung dịch xanh malachite và giấy cellophane; kỹ thuật tổng phân tích tế bào máu ngoại vi trên máy huyết học tự động Celtac F (24 thông số, nguyên lý trở kháng và quang học); và kỹ thuật ELISA sử dụng kit chẩn đoán của hãng SCIMEDX (Hoa Kỳ) đo quang ở bước sóng 450/650-620 nm để xác định kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trương Thị Luyện đã hoàn thành hai mục tiêu nghiên cứu khi mô tả chi tiết biến đổi các dòng tế bào máu trên 102 bệnh nhân nhiễm 6 nhóm ký sinh trùng thường gặp tại Bệnh viện Đặng Văn Ngữ năm 2020. Kết quả xác định tăng bạch cầu ái toan là dấu hiệu biến đổi huyết học chiếm ưu thế nhất (59,80%), trong khi chỉ số tiểu cầu hầu như duy trì ổn định (98,06% bình thường) và tỷ lệ thiếu máu giảm huyết sắc tố ở mức 15,53%. Đồng thời, nghiên cứu đã chứng minh sự tồn tại của mối tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê giữa mật độ trứng sán lá gan nhỏ trong phân với các chỉ số hồng cầu, huyết sắc tố, hematocrit và bạch cầu ái toan, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng giá trị phục vụ công tác chẩn đoán và đào tạo chuyên ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học.