CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ MỚI LIÊN HỆ GIỮA ĐỌC VÀ VIET 1. Tống quan nghiên cứu về quá trình lĩnh hội ngôn ngữ viết Phần nảy giới thiệu sơ lược về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các chủ điềm: đọc và viết, mối liên hệ của chữ viết với thành tích học tập và mối liên hệ giữa đọc và viết. Nghiên cứu ngoài nước a) Nghiên cứu Ở lĩnh vực tiếp nhận ngôn ngữ viết, các nghiên cứu ở phương Tây tập trung tìm hiểu bản chất của việc đọc vả viết, mối quan hệ giữa chúng trên phương diện tâm lý học nhận thức lẫn tâm lý học thần kinh, được xét ở các dạng ngôn ngữ khác nhau. Cụ thế ở đây là ngôn ngữ được phần chia theo tương ứng giữa chữ viết và âm thanh, theo đó sự phân loại ngôn ngữ được biểu diễn theo một phỏ liên tiếp từ ngôn ngữ trong sáng (transparent) đến ngôn ngữ mờ đục (opaque/deep).
Đọc là quá trình nhận biết, phân biệt chữ viết và qua đó mà hiểu được nghĩa của chúng. Quá trình nảy không xuất hiện tự phat ma doi hỏi sự hưởng dẫn cụ thể và có hệ thống. Muốn biết đọc, người ta phải học đọc. Sprenger- Charolles & Colé (2003) đã đưa ra ba giai đoạn của việc đọc: (1) giai đoạn xử lý các ký tự chữ viết, (2) giai đoạn nhận biết từ và (3) giai đoạn hiểu từ, câu, văn bản.
Trong giai đoạn (1), thông tin chữ viết của từ cần đọc được phân tích về các đặc điểm không gian. Chất lượng xử lý chữ viết giai đoạn này ánh hưởng đến hiệu quả và tốc độ giai đoạn thứ hai. Trong giai đoạn hai, người đọc nhận ra từ và phân biệt nó với tắt cả các từ khác mà họ biết, tốc độ giải mã của từ nảy dẫn đến việc hiểu văn bản tốt hơn trong giai đoạn thứ ba. Mục đích của việc đọc là đẻ hiểu những gì đang được đọc.
tuy nhiên, các nghiên cứu đã lưu ÿ rằng những khó khăn trong việc đọc thường liên quan đến sự khó khăn trong nhận dạng từ hơn là hiểu văn bản (Sprenger-Charolles & Sericlaes, 2003). Đã cỏ nhiều nghiên cứu tìm hiểu và so sánh vai trò của yếu tố ngữ cảnh và việc nhận dạng tử riêng lẻ đối với việc học đọc. Perfetti et al.,1985 ghi nhận là ở cả hai nhóm học sinh (đọc bình thường. và đọc kém), thành tích đọc đều cải thiện khi có thêm thông tin về ngữ cảnh trong câu.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng tích cực của yếu tố ngữ cảnh đối với nhóm đọc kém là cao hơn. Nghiên cứu của Stanovich et al,. 1980 cũng cho ra kết quá tương tự, Nói chung ảnh hưởng của yếu tố ngừ cảnh cảng lớn khi trình độ đọc của học sinh cảng thấp (dẫn theo Content & Zesiger, 1999). Kết quả này đã được lưu ý trong việc hỗ trợ cho học sinh đọc kém, đó là nên tăng cường yếu tố ngữ cảnh cho nhóm học sinh nảy.
Lesgold, Resnick và Hammond (1985) đã theo dõi một nhóm khoảng 300 học sinh từ lớp một đến lớp ba đẻ kiểm tra mỗi quan hệ giữa việc nhận biết từ đơn lẻ và khả năng đọc hii. Những học sinh nảy bao gồm một nhóm được dạy đọc theo cách tiếp cận ngôn ngữ trọn vẹn và nhóm kia học đọc theo theo phương pháp ngữ âm. Ở cả hai nhóm, kết quả nghiên cứu cho thấy điểm. số của bài đọc từ đơn lẻ ban đầu có khả nãng dự đoán điểm số của bài đọc hiểu sau đó, nhưng bài đọc hiểu ban đầu không dự đoán được sự tiến b: theo của khả năng đọc từ riêng lẻ.
Các nghiên cửu khác gần đây hơn cũng ghi nhận kết quả tương tự. Nếu đọc lả quá trình chuyển đổi tự vị thành âm vị thì viết là quá trình ngược lại, chuyển đổi âm vị thảnh tự vị. Quá trình viết đòi hỏi khả năng tách tiếng được nghe thành từng âm vị, xác định các tự vị tương ứng với các âm vị nảy rồi viết ghép các tự vị lại thành từ. Nghiên cứu của Dinehart (2015) đề cập đến sự phát triển của chữ viết cũng như vai trỏ của chữ viết đối với sự phát triên của trẻ nhó.
Tương tự như các kỹ năng học tập khác, như đọc hay tính toán, sự phát triển của kỳ năng viết đòi hỏi sự phát triển của các kỹ năng nền tảng đã có từ khi trẻ học mẫu giáo. Đối với quả trình tạo ra từng con chữ, các nhà nghiên cứu da str dung rat nhiều thuật ngữ như kỳ năng vận động tính (graphomotor), hay phối hợp vận động thị giác và vận động viết (visual-motor intergration) để mô tä cũng như đảnh giá chất lượng của nó. Mặc dù quả trình viết chính tả hoặc mã hoá các kỷ hiệu hình ảnh cụ thể thành các ký hiệu chữ viết thỉ khác so với quá trình xử lý hình ảnh không gian (sao chép các hình bắt kỳ).Tuy nhiên, Dinehart và es, (2015) lưu ý rằng hai quá trình này có liên hệ mật thiết với nhau. Cũng như đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra vai trò quan trọng của vận động tỉnh đối với sự hình thành kỹ năng viết chữ ở trẻ nhỏ.
Viết chữ như một quá trình tự động đối với hầu hết người lớn nhưng đối với trẻ em, quá trình này đỏi hỏi sự kết hợp của một số quá trình nhận thức và vận động. Các nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em thường bắt đầu trải nghiệm viết chữ ở tuổi lên 2, dù những nét về nguệch ngoạc ban đầu bị thiếu. những đặc điểm của chữ viết thông thường. Gombert và Fayol (1992) nhận thấy rằng những nét vẽ nguệch ngoạc nảy đã có chủ ý vả chứa đặc điểm phô biển của chữ viết như là tính định hướng vả mang tỉnh hình học, như là các nét dọc, nét ngang, hình tròn nét xiên hay đường chéo, Weil and Amundson (1994) đã ghi nhận rằng những đứa trẻ có thẻ sao chép nét xiên trong số các biểu tượng ít phức tạp khác (trong bài kiểm tra về phối hợp vận động thị giác) thì cũng có khả năng sao chép nhiều chữ viết hơn so với những đứa trẻ gặp khó khăn trong việc hoàn thành sao chép các nét xiên đó.
Khi trẻ lớn hơn thì các kỹ năng vận động tỉnh cũng phát triển. Vận động tỉnh là một biến số quan trọng trong việc phát triển chữ viết. Ở trẻ mẫu giáo, mặc đủ chưa thẻ viết được chữ cái một cách chính xác nhưng trẻ đã có sự thể hiện tot hon trade dé rat nhiều, nhất là thể hiện các ký tự có trong tên của trẻ. Schickedanz (1999) cho rằng, để viết được chữ, đòi hỏi trẻ em phải hội đủ ít nhất ba yếu tố: (1) sự nhận biết hoàn chỉnh các từng kí tự chữ, (2) nhận biết các đường nét tạo thành chữ cái và (3) khá năng tái tạo chuỗi và hướng nét tạo thành chữ cái.
Trong một nghiên cứu về kỹ năng viết sớm ở trẻ, Puranik and Lonigan (2011) đã chỉ ra rằng khoảng 77% trẻ độ 3 tuôi trong mẫu nghiên cứu có thê viết được một số chữ của bảng chữ cái, và có khoảng 93% - 95% trẻ 4 - 5 tudi có thể viết các chữ cái chính xác. Marr và cộng sự (2003) ghi nhận rằng cỏ sự gia tăng thời gian vận động tỉnh, và nhất là các hoạt động liên quan đến giấy và bút xét theo độ tuổi của trẻ. Trẻ mầm non đã dành khoảng 37% thời gian trong ngày để tham gia vào các hoạt động vận động tỉnh và chi 10% trong số các hoạt động đó quan đến giấy va bút chỉ. Nhóm trẻ lớn hơn đã dành gẫn một nửa ngảy để tham gia vào hoạt động có liên quan đến vận động tỉnh, trong đó 42% được dành cho các bài tập liên quan đến giấy vả bút chỉ.
Ở tiểu học, trẻ học lớp. hai được chỉ ra rằng đã dành 30-60% thời gian trong ngảy để tham gia vào. các hoạt động đòi hỏi kỳ năng vận động tỉnh, trong đỏ 85% các bài tập liên quan đến giấy và bút chỉ. Nghiên cửu khác cũng cho thấy khả năng vận động tinh có liên quan đến lỗi viết chữ thường gặp ở học sinh lớp 1.
Beminger and Fuller (199) cho rằng việc hướng dẫn viết chữ sẽ khó khăn đối với những học sinh kỹ năng viết nền táng. Ước tính rằng cỏ khoáng 5 - 33% trẻ em trong độ tuổi đến trường cỏ những khó khăn về viết. Để có thể cải thiện khả năng viết chữ và hoản thành những nhiệm vụ viết phức tạp hơn, như viết chính tả, tạo thành câu hoản chinh và có nghĩa — đòi hỏi trẻ phải tích hợp được một hệ thống kiến thức bao gồm biểu tượng của chữ cái, âm thanh tương ứng của chữ cái và kiến thức về quy ước khi viết. Ở trường tiểu học, trẻ em có khả năng tạo ra các chữ cái cách tự động, nhanh chóng mã hóa thông tin thành tự vị vả thực biện các chuyên động ngón tay một cách điêu luyện hơn.
Khi các kỹ năng của trẻ tiếp tục phát triển theo thời gian, thì chữ viết được sử dụng với tần suất tăng dần theo yêu cầu của việc học ở các lớp lớn hơn. Tác động tích cực của việc viết chữ cũng được nhìn thấy rõ rệt hơn. b) Nghién citu vé mdi liên hệ giữa việc viết chữ và thành tích học tập Theo tông hợp tử công trinh của tác giả Dinehart (2015), rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các kỹ năng viết chữ, tử việc tạo ra các nét đến việc hoàn thiện hình đáng từng con chữ cũng như viết thành một đoạn văn bản, đều có liên quan tích cực đến thành tích học tập. Trước tiên là một số nghiên cứu đã tìm thấy mồi liên hệ giữa vận động iác ở trẻ nhỏ tuổi nhà trẻ vả thành tích học tập của chúng sau này, Nghiên cứu của Keogh & Smith (1967) ; Kulp (1999) ; Luo & cộng sự (2007), Son & Meisels (2006) đều ghi nhận sự thể hiện của trẻ về vận động tỉnh có thể dự đoán về thành tích đọc, toán, viết vả chính tả.
Cụ thể hơn, Grissmer & cộng sự (2010) đã lưu ý rằng các kỹ năng sao chép một hình ảnh có nhiều hình dạng khác nhau và sử dụng các dụng cụ viết cỏ thể dự báo về sự thành. công trong học tập sau đó nhiễu hơn là các loại bài tập vận động tỉnh khác. Kỳ năng viết được phát triển trước khi trẻ vào học chỉnh thức cũng được chứng mình là cỏ ỷ nghĩa dự đoản thành tích học tập của trẻ những năm sau đó. Dinehart và Manfra (2013) đã kiểm tra xem liệu các kỹ nãng vận động tỉnh của hơn 3000 trẻ trước tuổi học cỏ dự đoán được thảnh tích học tập của các em ở lớp 2 hay không.