Luận văn thạc sĩ ueh mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội gắn kết tổ chức và dự định nghỉ việc nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp sản xuất tại tỉnh bình phước 001

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội gắn kết tổ chức và dự định nghỉ việc nghiên cứu trường hợp, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

152
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và dự định nghỉ việc

Nghiên cứu này nhằm phân tích mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hộidự định nghỉ việc tại các doanh nghiệp sản xuất ở Bình Phước. Trong bối cảnh hiện nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) ngày càng trở nên quan trọng, không chỉ trong việc nâng cao hình ảnh thương hiệu mà còn trong việc giữ chân nhân viên. Nghiên cứu sẽ chỉ ra rằng CSR có thể ảnh hưởng tích cực đến sự gắn kết của nhân viên với tổ chức, từ đó giảm thiểu ý định nghỉ việc.

1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là cam kết của doanh nghiệp trong việc thực hiện các hoạt động có lợi cho xã hội và môi trường. CSR không chỉ bao gồm các hoạt động từ thiện mà còn liên quan đến việc cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội cao thường có tỷ lệ nghỉ việc thấp hơn.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu này

Nghiên cứu này không chỉ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa CSR và dự định nghỉ việc mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý trong việc xây dựng chiến lược nhân sự hiệu quả. Việc hiểu rõ mối quan hệ này có thể giúp doanh nghiệp cải thiện môi trường làm việc và tăng cường sự gắn kết của nhân viên.

II. Vấn đề và thách thức trong việc duy trì nhân lực tại doanh nghiệp

Tình trạng nghỉ việc tại các doanh nghiệp sản xuất ở Bình Phước đang gia tăng, gây ra nhiều thách thức cho các nhà quản lý. Việc duy trì nhân lực chất lượng cao là một trong những vấn đề cấp bách mà các doanh nghiệp phải đối mặt. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có trách nhiệm xã hội.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghỉ việc

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghỉ việc, bao gồm môi trường làm việc không thoải mái, thiếu cơ hội thăng tiến và mức lương không cạnh tranh. Đặc biệt, những nhân viên không cảm thấy được sự quan tâm từ phía doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội thường có xu hướng tìm kiếm cơ hội việc làm khác.

2.2. Tác động của nghỉ việc đến doanh nghiệp

Tình trạng nghỉ việc không chỉ gây ra tổn thất về tài chính mà còn ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp. Việc thay thế nhân viên mất thời gian và chi phí, đồng thời có thể làm giảm hiệu suất làm việc của đội ngũ còn lại.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa CSR và dự định nghỉ việc

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để phân tích mối quan hệ giữa CSR, sự gắn kết tổ chức và dự định nghỉ việc. Dữ liệu được thu thập từ các bảng hỏi được thiết kế đặc biệt cho đối tượng nghiên cứu là nhân viên tại các doanh nghiệp sản xuất ở Bình Phước.

3.1. Thiết kế bảng hỏi và thu thập dữ liệu

Bảng hỏi được thiết kế dựa trên các thang đo đã được kiểm định trong các nghiên cứu trước đó. Dữ liệu được thu thập từ 300 nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp sản xuất, nhằm đảm bảo tính đại diện cho mẫu nghiên cứu.

3.2. Phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết

Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS và AMOS. Các giả thuyết về mối quan hệ giữa CSR, sự gắn kết tổ chức và dự định nghỉ việc sẽ được kiểm định thông qua các phương pháp phân tích nhân tố và hồi quy.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa CSR và sự gắn kết tổ chức, đồng thời có mối quan hệ ngược chiều giữa CSR và dự định nghỉ việc. Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp nên chú trọng đến trách nhiệm xã hội để giữ chân nhân viên.

4.1. Mối quan hệ giữa CSR và gắn kết tổ chức

Nghiên cứu cho thấy rằng khi doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, nhân viên sẽ cảm thấy gắn bó hơn với tổ chức. Điều này không chỉ giúp giảm tỷ lệ nghỉ việc mà còn nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên.

4.2. Đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp

Các doanh nghiệp nên xây dựng các chương trình CSR hiệu quả, không chỉ nhằm mục đích quảng bá hình ảnh mà còn thực sự mang lại lợi ích cho cộng đồng và nhân viên. Việc này sẽ giúp tăng cường sự gắn kết và giảm thiểu ý định nghỉ việc.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng trách nhiệm xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến sự gắn kết tổ chức và dự định nghỉ việc của nhân viên. Các doanh nghiệp cần nhận thức rõ tầm quan trọng của CSR trong việc duy trì nguồn nhân lực chất lượng cao.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng CSR không chỉ là một yếu tố cần thiết để nâng cao hình ảnh doanh nghiệp mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc giữ chân nhân viên. Doanh nghiệp cần đầu tư vào các hoạt động CSR để tạo ra môi trường làm việc tích cực.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng ra các lĩnh vực khác như tác động của CSR đến sự hài lòng của khách hàng hoặc hiệu quả kinh doanh. Việc nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến CSR cũng sẽ là một hướng đi tiềm năng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội gắn kết tổ chức và dự định nghỉ việc nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp sản xuất tại tỉnh bình phước 001

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã trình bày tổng quan về nghiên cứu, và trong chương 2, tác giả sẽ giới thiệu các khái niệm và cơ sở lý thuyết được sử dụng trong đề tài. Cụ thể trong chương này tác giả cố gắng làm rõ các khái niệm và thành phần của 3 biến chính trong nghiên cứu, đó là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility), sự gắn kết với tổ chức (Organizational commitment), và dự định nghỉ việc (Turnover intention), đồng thời cũng làm rõ mối quan hệ giữa các biến này dựa vào các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng như trên thế giới trên cơ sở đó tác giả cũng xin đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 2. Khái niệm Kể từ khi thuật ngữ trách nhiệm xã hội xuất hiện tới nay, khi Bowen phát hành cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” vào năm 1953, thì ngày nay thuật ngữ này đã được biết đến một cách rất phổ biến, tuy nhiên để hiểu rõ về thuật ngữ này là một điều không hề đơn giản, bởi vì với mỗi nhà nghiên cứu, với mỗi quan điểm khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này.

Sự thiếu nhất quán theo Fifka (2009) là do ba nguyên nhân chính. Đầu tiên là các học giả từ các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, pháp luật, xã hội, triết học và thậm chí là thần học đã ngày càng quan tâm đến thuật ngữ này, cho nên việc thống nhất trở lên khó khăn hơn. Thứ hai là các thuật ngữ như đáp ứng xã hội, đạo đức kinh doanh, phát triển bền vững, tham gia cộng đồng được đánh giá tương đồng với nhau do những tiêu chí đánh giá có phần giống nhau do đó khó phân biệt rõ ràng. Cuối cùng là sự hiểu biết về trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp dựa trên một quan điểm về những vai trò của doanh nghiệp đối với xã hội và cách doanh nghiệp thực hiện vai trò đó như thế nào và sự hiểu biết đó sẽ thay đổi tùy theo từng vai trò mà không có góc nhìn bao quát.

Đứng trước vấn đề đó đã có nhiều nhà nghiên cứu gần đây đã tổng hợp và đưa ra những quan điểm của mình về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm đưa đến những góc nhìn đầy đủ hơn về khái niệm này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Dahlsrud (2006) quan niệm về trách nhiệm xã hội là sự mô tả hiện tượng mà các doanh nghiệp hành động đạt được cả mục tiêu kinh tế, pháp luật với mục tiêu xã hội và môi trường. Theo tác giả, do môi trường kinh doanh ngày nay, mức độ toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, các bên liên quan mới, môi trường pháp luật giữa các quốc gia khác nhau do đó sự kỳ vọng về trách nhiệm xã hội sẽ khác nhau, tuy nhiên nhìn chung thì vấn đề cần quan tâm nhất đó là sự cân bằng giữa kinh tế với quy định của pháp luật và sự tác động đến môi trường. Duygu Turker (2008) thì nhận định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là những hoạt động tích cực của doanh nghiệp đối với các bên liên quan.

Các hoạt động này có thể là những hoạt động về cải thiện chất lượng sản phẩm, quan tâm người lao động, cải thiện chất lượng cuộc sống, chấp hành pháp luật hay giúp đỡ chính phủ giải quyết những vấn đề về xã hội. Theo Vitaliano (2009), trách nhiệm xã hội là hành động tự nguyện của doanh nghiệp, được thực hiện để nâng cao điều kiện xã hội hay môi trường. Tác giả cho rằng các đối tượng liên quan tới doanh nghiệp thì họ đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về những vấn đề xã hội, môi trường, nhân quyền, giới tính hơn so với một số ý kiến về mặt lợi ích kinh tế cho công ty và cổ đông của họ, và đó là một trong những tiêu chí đánh giá để thu hút, tuyển dụng và mức độ trung thành của người lao động đối với doanh nghiệp. Jeremy Galbreath (2009) lại cho rằng trách nhiệm xã hội là đề cập đến các hoạt động của công ty, quy trình tổ chức và tình trạng liên quan đến nghĩa vụ nhận thức của xã hội hay các bên có liên quan phản ánh các kỳ vọng tiềm ẩn của xã hội.

Các kỳ vọng đó có thể là tạo ra lợi nhuận cho công ty, cổ đông, tạo công ăn việc làm, nghĩa vụ thuế, hợp đồng kinh doanh, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, lao động mà đôi khi vượt qua cả các tiêu chuẩn của pháp luật đề ra. Và còn nhiều quan điểm khác nhau về trách nhiệm xã hội nữa, nhưng để tìm được một khái niệm được sử dụng khá phổ biến và xem là khá đầy đủ cũng như rõ ràng (Nguyễn Đình Tài, 2015) thì đó là định nghĩa về trách nhiệm xã hội của Hội đồng Kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Doanh Thế giới vì Sự Phát Triển Bền Vững (World Business Council for Sustainable Development) với hơn 200 công ty đa quốc gia là thành viên, hội đồng đã đưa ra khái niệm này như sau: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội. Các thành phần của trách nhiệm xã hội Cũng giống như định nghĩa về trách nhiệm xã hội, thì quan điểm về các thành phần trong trách nhiệm xã hội cũng phong phú không kém, mỗi trường phái, mỗi tác giả lại quan niệm các thành phần của trách nhiệm xã hội khác nhau. Điển hình là một số quan điểm dưới đây.

Salmones và cộng sự (2005) cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện qua 3 thành phần sau: trách nhiệm về kinh tế (tối đa hóa lợi nhuận, chiến lược phát triển dài hạn), trách nhiệm về pháp luật-đạo đức (tuân thủ quy tắc đạo đức lẫn pháp luật trong kinh doanh), trách nhiệm về thiện nguyện (cải thiện môi trường, tổ chức các sự kiện xã hội, và đóng góp một phần ngân sách cho việc cải thiện an sinh xã hội). Mohr và Webb (2005) lại cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm hai thành phần là trách nhiệm về môi trường (giảm thiểu tác động của doanh nghiệp tới môi trường, sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường, có chương trình nhằm tiết kiệm nguồn nước và năng lượng) và trách nhiệm về thiện nguyện (thường xuyên đóng góp cho từ thiện, có các chương trình cho nhân viên tham gia hoạt động từ thiện, và tặng một số sản phẩm của doanh nghiệp cho những người khó khăn có nhu cầu). Becker Olsen và cộng sự (2011) quan niệm về trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp được thể hiện qua: sự nhận biết thương hiệu (qua chất lượng sản phẩm, niềm tin cho khách hàng, niềm tin thương hiệu), quyền công dân (là một doanh nghiệp tốt với những hệ thống giá trị lớn mạnh, hành động vì cộng đồng, trách nhiệm với cộng đồng), động lực công ty (hỗ trợ giải quyết vấn đề tốt để thu hút khách hàng, hỗ trợ lợi ích cộng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đồng tốt), uy tín công ty (là công ty đáng tin cậy, trách nhiệm, sáng tạo, vững mạnh về tài chính). Và còn rất nhiều các nghiên cứu nữa với những môi trường nghiên cứu khác nhau, với các đối tượng hữu quan không giống nhau và lĩnh vực hoạt động cũng không tương đồng nên có rất nhiều các quan điểm không thống nhất về thành phần của trách nhiệm xã hội, tuy nhiên được biến đến cũng như được trích dẫn trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới có lẽ đó là mô hình kim tự tháp của Carroll (1991), trong mô hình này trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được giải thích bởi bốn thành phần sau: - Trách nhiệm kinh tế: thể hiện qua hiệu quả tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh và tăng trưởng.

Yếu tố lợi nhuận được coi như là động lực chính cho tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp vì thế đây là trách nhiệm quan trọng phải đặt lên hàng đầu và các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên trách nhiệm kinh tế này. - Trách nhiệm pháp lí: chính là sự cam kết của doanh nghiệp đối với luật pháp, xã hội, doanh nghiệp không chỉ kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận, mà đồng thời phải tuân thủ các quy định ban hành, của địa phương, nhà nước và cả quốc tế. Kinh doanh theo đuổi mục tiêu trong khuôn khổ luật pháp một cách công bằng, đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi. - Trách nhiệm đạo đức: Mặc dù trách nhiệm kinh tế và pháp lý thể hiện chuẩn mực đạo đức, tuy nhiên vẫn có những chuẩn mực, quy tắc xã hội mà chưa được hệ thống hóa thành văn bản pháp luật.

Trách nhiệm đạo đức được xem là hiện thân của các tiêu chuẩn, định mức, kỳ vọng phản ánh mối quan tâm của khách hàng, nhân viên, cổ đông và các bên có liên quan. - Trách nhiệm từ thiện: Đây là những hành động của doanh nghiệp mà đáp ứng vượt ngoài mong đợi của xã hội, bao gồm việc tích cực tham gia vào các hoạt động hay chương trình để thúc đẩy phúc lợi của con người, ví dụ như các khoản đóng góp nghệ thuật, giáo dục, cộng đồng. Vì đây là hoạt động tự nguyện nên chu dù doanh nghiệp không thực hiện, vẫn không bị xem là phi đạo đức, tuy nhiên đây được coi là hoạt động gây ấn tượng và tạo hình ảnh rất tốt cho doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nghiệp không chỉ về cảm nhận của xã hội mà nhất là đối với nhân viên, khách hàng… Mặc dù mô hình về trách nhiệm xã hội hiện nay được nhiều nhà nghiên cứu mở rộng thêm nhiều yếu tố hơn như: Wagner và cộng sự (2008); Singh và Bosque (2008); Turker (2009); Brunk (2010); Becker Olsen và cộng sự (2011); Perez và Bosque (2013) … Tuy vậy mô hình của Carrol (1991) vấn được nhiều nhà nghiên cứu ứng dụng và học giả chấp nhận nhất. Và các thành phần trong nghiên cứu này cũng được tác giả kế thừa từ lý thuyết của Carrol (1991).

Gắn kết với tổ chức 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ