Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Đạo đức kinh doanh xuất hiện khi sản phẩm sản xuất ra trở thành hàng hoá, do những yêu cầu và đòi hỏi của xã hội trong quan hệ kinh doanh, buôn bán.
Sang thế kỷ XX, khi nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển mạnh đã làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội xuất phát từ nền kinh tế thị trường như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, các chất độc hại và những vấn đề liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng. Thời gian này ở Mỹ đã ra đời một số luật bảo vệ người tiêu dùng. Đến năm 1970, ĐĐKD đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu. Đến những năm 1980 ĐĐKD đã được các nhà nghiên cứu và các nhà kinh doanh thừa nhận là một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể.
Đến những năm 1990: thể chế hoá ĐĐKD, chính quyền Clinton ủng hộ thương mại tự do, ủng hộ quan điểm cho rằng doanh nghiệp phải có trách nhiệm với việc làm vô đạo đức và thiệt hại do mình gây ra. Từ năm 2000 đến nay, ĐĐKD trở thành lĩnh vực nghiên cứu đang được phát triển. Henderson là một trong những nhà nghiên cứu về vấn đề này. Qua tác phẩm được in thành sách mang tên đạo đức trong kinh doanh, tác giả đã giúp người đọc nhận thấy nguyên nhân ra đời của ĐĐKD, những tình huống nan giải của các nhà quản trị doanh nghiệp khi đứng trước các vấn đề liên quan đến ĐĐKD và những sai lầm đáng tiếc xảy ra.
Do thiếu hiểu biết về ĐĐKD mà không ít nhà quản trị doanh nghiệp đã phải trả giá rất đắt, đáng chú ý là một câu nói của Paul Thayer, cựu tổng giám đốc công ty LTV và cựu Phụ tá Bộ trưởng Bộ quốc phòng, sau khi bị kết án bốn năm tù về tội lừa đảo mua bán chứng khoán đã thừa nhận rằng: “Đa số chúng ta đều giống một đứa trẻ về mặt đạo đức nhưng lại có năng lực đại học về tài chính, tiếp thị và quản trị kinh doanh” [6, tr. Ngoài việc nêu lên vai trò của ĐĐKD và trách nhiệm của các thành viên công ty trong việc xây dựng ĐĐKD cho -5- Luan van doanh nghiệp, ông ủng hộ quan điểm cho rằng, ĐĐKD cần được dạy cho thế hệ trẻ, những người đang theo đuổi công việc kinh doanh, để họ có khả năng đưa ra những quyết định có tính đạo đức khi tham gia vào hoạt động kinh doanh. Gần đây nhất là đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ ngành quản trị kinh doanh: “The Impact of Business Ethics Education on Student’s Attitudes towards Ethical Behavior” (tạm dịch là tác động của giáo dục ĐĐKD lên quan điểm của SV đối với hành vi đạo đức) của tác giả Ivy Kit Fan Ngan bảo vệ tại trường Đại học Newcastle Australia [16]. Trong nghiên cứu của mình, ngoài việc nêu lên những mô hình lý thuyết về ĐĐKD, những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về lập trường ủng hộ và phản đối việc giảng dạy ĐĐKD cho SV.
Những người không ủng hộ giảng dạy ĐĐKD cho rằng, đạo đức đã hình thành ở mỗi người ngay từ thời thơ bé, đến tuổi SV, quan điểm đạo đức đã hình thành và ổn định nên việc dạy đạo đức sẽ không mang lại tác dụng gì đối với người học. Nhưng theo nhóm nghiên cứu ủng hộ được tác giả đồng tình, quan điểm đạo đức thay đổi qua từng lứa tuổi tùy theo trải nghiệm và nhận thức của từng cá nhân. Đáng chú ý là tác giả đã tổng hợp được quan điểm của các nhà nghiên cứu về mục tiêu của giáo dục ĐĐKD: giúp SV xác định những vấn đề đạo đức, tăng khả năng đưa ra các quyết định có tính đạo đức của người học và giúp người học có khả năng giải quyết tình trạng khó xử về mặt đạo đức. Richardson khẳng định, “Chúng ta đã nhìn thấy kết quả của việc không dạy tốt đạo đức trong các trường kinh doanh.
Nếu chúng ta tiếp tục lơ là việc giảng dạy những nguyên tắc đạo đức tốt trên diện rộng, tất cả chúng ta lại thu về kết quả xấu”. [18] Tóm lại, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt ra vấn đề cần phải giáo dục ĐĐKD cho SV ngành quản trị kinh doanh. Vấn đề còn lại là tổ chức giáo dục như thế nào để đạt được mục tiêu mong đợi, đó là vấn đề cần nghiên cứu thêm. Tình hình nghiên cứu trong nước Khi nghiên cứu về nhân cách doanh nhân và văn hóa doanh nhân xuất bản năm 2010, tác giả Đỗ Minh Cương cho rằng xã hội còn tồn tại nhiều rào cản trong việc phát triển nhân cách doanh nhân.
Một trong những giải pháp được ông đề xuất là “cần -6- Luan van giáo dục, phát triển một cách toàn diện con người làm nghề kinh doanh, nhất là các nhà quản trị doanh nghiệp, bao gồm thái độ, kiến thức, kỹ năng, đạo đức và hành vi văn hóa [3, tr. Tác phẩm nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh do tác giả Phùng Xuân Nhạ chủ biên (2011) là đề tài khoa học nghiên cứu về nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh. Đề tài nghiên cứu đã xây dựng được mô hình nhân cách doanh nhân gồm bốn yếu tố Đức – Trí – Thể – Lợi và mô hình văn hóa kinh doanh được cấu thành từ bốn thành tố: triết lý kinh doanh, ĐĐKD, văn hóa doanh nhân và văn hóa kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, văn hóa kinh doanh nước ta đang được hình thành mặc dù còn nhiều rào cản bất lợi.
Nhóm tác giả cho rằng, GD là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách doanh nhân. Thế nhưng các trường đại học hiện chưa chú trọng đến vấn đề này. Chính vì thế, một trong những giải pháp chủ yếu được nhóm tác giả đề xuất là “văn hóa kinh doanh và nhân cách doanh nhân phải được xây dựng thành môn học được giảng dạy cho các SV ngành quản trị kinh doanh. Đối với SV ngành quản trị kinh doanh thì đây là môn học bắt buộc.
Điều này giúp SV hình thành các chuẩn mực và công cụ quản trị mang chất lượng văn hóa kinh doanh khi nhóm đối tượng này ra trường”.252] Bài viết Tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, SV đăng trên tạp chí tâm lý học số 12 (93) tháng 12/2006, tác giả Trần Đình Tuấn đã nêu lên thực trạng suy thoái đạo đức trong xã hội hiện nay, đồng thời đề ra những nội dung đạo đức cần GD cho học sinh SV, đó là những chuẩn mực giá trị đạo đức mới, trong đó có những giá trị đạo đức nghề nghiệp cho SV. Nhiệm vụ của GD đạo đức là phải hình thành cảm xúc, tình cảm đạo đức, niềm tin đạo đức, nhu cầu tự hoàn thiện đạo đức và thói quen hành vi đạo đức cho học sinh, SV. Trong đó GD nhà trường giữ vai trò chủ yếu kết hợp với GD trong gia đình và GD từ môi trường xã hội. Giáo dục xã hội là GD bằng cơ chế chính sách quản lý xã hội, bằng kỷ cương pháp luật, bằng hoạt động của các tổ chức xã hội.
Giáo dục luôn chịu sự tác động của xã hội. Do đó, trách nhiệm của nhà GD là phải biết làm thế nào để định hướng sự tác động của xã hội phù hợp với chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội. -7- Luan van Bài nghiên cứu về “Thực trạng nhận thức ĐĐKD của SV chuyên ngành kinh tế tại khoa kinh tế & quản trị kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ của tác giả Châu Thị Lệ Duyên, đăng trên tạp chí khoa học số 2012:21a 190-197 [19]. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số SV (95%) đã từng nghe nói đến khái niệm ĐĐKD, tuy nhiên chưa có nhận thức đầy đủ về những vấn đề của đạo đức trong kinh doanh mà nhận thức của họ chỉ dừng lại ở mức độ tuân thủ pháp luật.
Theo tác giả kết luận, có hơn 50% SV chưa có nhận thức đúng mức đối với vấn đề đạo đức trong kinh doanh và chỉ có khoảng 20% SV có nhận thức rất đúng mực trong các phương diện về ĐĐKD. Bài viết “ĐĐKD ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Hữu Đễ [20], đăng trên Tạp chí triết học, số 12 (271), tháng 12/2013. Ngoài việc nêu lên những vấn đề đang đặt ra đối với ĐĐKD cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Tác giả cũng đề ra yêu cầu đối với GD là “phải làm thế nào để các doanh nghiệp tự ý thức được rằng, thực hiện ĐĐKD chính là đầu tư cho tương lai và cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp”, “cần có sự GD các doanh nghiệp và cho cả cộng đồng ý thức rõ về vai trò của ĐĐKD trong hoạt động kinh doanh”.
Hơn nữa, “các chuẩn mực ĐĐKD không chỉ có các doanh nghiệp cần nắm được và tuân thủ, mà còn phải GD cho cả cộng đồng hiểu được những chuẩn mực này để có dư luận kịp thời ngăn chặn những hoạt động kinh doanh nào vi phạm nó”. Đó là những chuẩn mực: tính trung thực, tôn trọng con người, gắn lợi ích của doanh nghiệp với trách nhiệm xã hội: bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, nhân đạo chiến lược, sự khiêm tốn và lòng dũng cảm, tôn trọng bí mật thương mại. Những chuẩn mực này đã được nhiều tác giả công nhận và nội dung của -8- Luan van nó cũng được đề cập trong giáo trình giảng dạy ĐĐKD của Trường Đại học Tài chính – Marketing. Nhìn chung các đề tài nghiên cứu đã đề xuất và xây dựng được những chuẩn ĐĐKD được xã hội chấp nhận.
Tuy nhiên, những đề tài về GD ĐĐKD ở nước ta đến thời điểm này còn khiêm tốn. Trong lĩnh vực GD, một số đề tài nghiên cứu về GD đạo đức mới cho học sinh, SV cũng có đặt ra yêu cầu về việc GD những chuẩn mực ĐĐKD cho học sinh, SV để góp phần hạn chế những mặt trái của nền kinh tế thị trường. Các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục ĐĐKD, như là một lĩnh vực đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành quản trị kinh doanh vẫn chưa được tìm thấy. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những tác giả đi trước, đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động giáo dục ĐĐKD cho SV ngành quản trị kinh doanh, hay còn gọi là GD đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành quản trị kinh doanh, những SV sẽ tham gia vào hoạt động kinh doanh như là một nghề nghiệp tương lai của mình.