phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm có 4 (bốn) chƣơng cụ thể nhƣ sau: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về định hƣớng thị trƣờng + Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu + Chƣơng 3: Phân tích kết quả nghiên cứu + Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị 6. Lịch sử hoạt động kinh doanh thế giới đã trãi qua giai đoạn định hƣớng sản xuất (production-oriented) khá lâu và lịch sử cũng đã khẳng định rằng định hƣớng thị trƣờng (market-oriented) là sự lựa chọn duy nhất giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn thông qua việc thấu hiểu và đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn. Vì thế, định hƣớng thị trƣờng là rất quan trọng đối Luan van 4 với tất cả các doanh nghiệp ở hầu hết lĩnh vực và đã có nhiều tác giả đã chứng minh khá thuyết phục về mối quan hệ ảnh hƣởng của MO lên kết quả kinh doanh. Ở các nƣớc đang phát triển hoặc nền kinh tế chuyển tiếp nhƣ Indonesia, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc,v.v…đã có nhiều tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa MO và kết quả kinh doanh thì hầu hết kết quả kiểm định trên thực tế đều có mối tƣơng quan dƣơng giữa mối quan hệ MO và kết quả kinh doanh.
Nhìn chung phát triển định hƣớng thị trƣờng là một sáng kiến tích cực đối với các công ty nói riêng và tất cả các ngành công nghiệp nói chung. Tuy nhiên, ở Việt Nam chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều, đặc biệt trong ngành thủy sản Việt Nam cũng nhƣ trên địa bàn miền Trung. Sơ lƣợc các nghiên cứu tiêu biểu nhất của các nhóm tác giả dƣới đây nhƣ sau: 6. Tổng quan nghiên cứu về định hƣớng thị trƣờng và các tiền tố của định hƣớng thị trƣờng + Nghiên cứu “Market Orientation: Antecedents and Consequences” của Bernard Jaworski và Ajay K.Kohli, 1993 đăng trong Journal of Marketing Vol.
57 (July 1993), 53-70 chỉ ra tác động của định hƣớng thị trƣờng lên kết quả kinh doanh và ngƣời lao động. Phát hiện từ mẫu ở 2 quốc gia cho rằng định hƣớng thị trƣờng liên quan tới chú trọng quản lý đứng đầu về định hƣớng, nguy cơ rủi ro của các nhà quản lý đứng đầu, xung đột giữa các ban ngành (interdepartmental conflict), sự liên quan (connectedness), tập trung và định hƣớng hệ thống khen thƣởng. Hơn thế nữa, những phát hiện thừa nhận định hƣớng thị trƣờng liên quan đến kết quả kinh doanh tổng thể (nhƣng không phải thị phần), cam kết của tổ chức đối với ngƣời lao động và tinh thần của tổ chức (esprit de corps). Cuối cùng là mối quan hệ giữa định hƣớng thị trƣờng và kết quả kinh doanh mạnh lên do cấp độ khác nhau của biến động thị trƣờng, cƣờng độ cạnh tranh và sự thay đổi công nghệ.
Luan van 5 + Nghiên cứu về “Các tiền tố của định hƣớng thị trƣờng: Một nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” của Phạm Ngọc Thúy, Lê Nguyễn Hậu, 2010) đăng trên Tạp chí phát triển KH&CN, tập 13, số Q1 – 2010 nhằm xác định những tiền tố chủ yếu có tác động đến mức độ định hƣớng thị trƣờng (MO) của doanh nghiệp. Khảo sát đƣợc thực hiện trên 300 doanh nghiệp hoạt động ở khu vực phía Nam Việt Nam. Kết quả cho thấy hai yếu tố: Năng lực lãnh đạo và Thách thức của môi trƣờng ảnh hƣởng đáng kể đến mức độ MO của doanh nghiệp. Hai yếu tố này giải thích đƣợc 74% phƣơng sai của MO.
Định hƣớng thị trƣờng là nguyên lý quản lý thể hiện việc triển khai tƣ tƣởng marketing vào quá trình quản lý doanh nghiệp. Nghiên cứu này cho thấy sự phát triển cao hay thấp của MO trong các doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa MO và kết quả kinh doanh (BP) + Nghiên cứu “A Comparative Analysis of Market Orientation in the Commercial Fish Processing Industries of Atlantic Canada and The New England States” của Reginald Sheppard (2011) đăng trên Journal of Marketing Development and Competitiveness vol. 5(6) 2011- Phân tích so sánh định hƣớng thị trƣờng trong công nghiệp chế biến thủy sản ở Atlantic Canada và các nƣớc Anh mới”: Kết quả nghiên cứu thừa nhận sự ảnh hƣởng của các thành phần Định hƣớng thị trƣờng lên kết quả kinh doanh ở 2 nƣớc này nhƣ nhau.
Nghiên cứu cho thấy mối tƣơng quan dƣơng của 4 thành phần MO tác động lên kết quả kinh doanh bao gồm (1) định hƣớng khách hàng; (2) định hƣớng cạnh tranh; (3) Phối hợp chức năng; và (4) định hƣớng lợi nhuận. Mối quan hệ này chịu ảnh hƣởng bởi mục tiêu khách quan và chủ quan của Doanh nghiệp. Các công ty phải đánh giá giá trị thực tế của việc phát triển định hƣớng thị trƣờng ở cấp công ty. Điều này phải đƣợc các học Luan van 6 giả và chuyên gia ngành công nghiệp thực hiện cũng nhƣ việc phát triển định hƣớng thị trƣờng là một công việc theo tiến trình (work-in-progress).
+ Nghiên cứu “Market Orientation in Indian Seafood Processing Firms của Smitha Nair (2007)- Định hƣớng thị trƣờng trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản ở Ấn Độ”. Nghiên cứu này chứng minh các phát hiện của Kohli và Jaworski (1990); Jaworski và Kohli (1993). Việc định hƣớng thị trƣờng của các công ty chế biến thủy sản Ấn Độ sẽ dẫn đến tăng kết quả kinh doanh cũng nhƣ gia tăng thỏa mãn nhu cầu khách hàng và khuyến khích việc mua lại sản phẩm cũng nhƣ lòng trung thành của khách hàng đối với công ty. Các biến kết quả kinh doanh đƣợc xác định dƣới 2 biến chính là hiệu quả kinh tế và phi kinh tế.
MO ở các công ty thủy sản Ấn Độ liên quan đến cả 2 biến này. Theo biến hiệu quả phi kinh tế thì gồm khách hàng và kết quả của nhân viên. Hơn nữa, MO đều có mối quan hệ dƣơng và đáng kể đối với 2 kết quả này. Thực hiện định hƣớng thị trƣờng sẽ giúp các doanh nghiệp thủy sản trong việc đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu.
Điều này sẽ dẫn đến xuất khẩu tăng và vị trí của hải sản Ấn Độ trên thị trƣờng toàn cầu sẽ đƣợc khẳng định. Nghiên cứu cũng chỉ ra tác động của các tiền tố lên MO, là tiền tố đối với việc áp dụng các nguyên tắc MO gồm tập trung quản lý hàng đầu, xung đột và hệ thống khen thƣởng. + Nghiên cứu của Kohli và Jaworski (1990) cho rằng định hƣớng thị trƣờng là quá trình tạo ra thông tin thị trƣờng có liên quan đến nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của khách hàng; tổng hợp và phổ biến các thông tin đó đến các bộ phận chức năng hoạch định và triển khai với sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận chức năng đó trong doanh nghiệp nhằm ứng phó với những cơ hội thị trƣờng. Do đó, định hƣớng thị trƣờng gồm: Tạo lập thông tin; Phổ biến thông tin và Khả năng ứng phó của doanh nghiệp với thông tin.
Luan van 7 + Nghiên cứu “The Effect of a Market Orientation on Business Profitability” của John C.Narver và Stanley F.Slater (1990) đăng trên Journal of Marketing, October 1990 cho rằng định hƣớng thị trƣờng là nền tảng cho các hoạt động cần thiết và hiệu quả nhằm tạo ra giá trị tốt hơn cho khách hàng và thông qua đó tạo nên sự thành công cho doanh nghiệp. Nội dung của định hƣớng thị trƣờng gồm: Định hƣớng khách hàng; Định hƣớng cạnh tranh và Phối hợp chức năng. Mô hình nghiên cứu của John C.Narver và Stanley F.Slater nhƣ sau: Định hƣớng khách hàng Lợi nhuận dài hạn Định hƣớng Phối hợp cạnh tranh chức năng Thị trƣờng mục tiêu Bổ sung thêm quan điểm trên, tác giả Deng và Dart (1994) ở Canada đã đƣa thêm 01 thành phần nữa là định hƣớng lợi nhuận. Gray và cộng sự (1998) đã xây dựng thang đo tổng quát với 5 thành phần là 4 thành phần nêu trên và 01 thành phần mới : “Ứng phó nhạy bén”.
+ Nghiên cứu “Market Orientation and Company Performance: A study of Selected Japanese and Srilankan Companies” của Kanagasabai, 2008 cho thấy có mối tƣơng quan dƣơng giữa hai biến này ở cả hai nƣớc. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng để duy trì ở mức độ cao về định hƣớng thị trƣờng thì Luan van 8 các công ty Nhật và Srilanka đều quan tâm nhiều hơn đến tầm quan trọng quản lý hàng đầu về định hƣớng thị trƣờng và mối quan hệ giữa các phòng ban. Đáng chú ý là các công ty Srilanka nên giảm mức độ tập trung bên trong mà có khả năng tăng định hƣớng thị trƣờng. + Nghiên cứu “Synthesised Model of Market Orientation – Business Performance Relationship”, Acta Commercial 2006 của G Nwokah.
Nghiên cứu theo phƣơng pháp định tính và định lƣợng, sử dụng phần mềm SPSS 10. Nghiên cứu đánh giá các thang đo nhƣng không tìm thấy mối quan hệ chặt nào giữa định hƣớng thị trƣờng và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh thức ăn và nƣớc giải khát ở Nigeria. Các lý do làm mối quan hệ này không chặt là do chính sách của chính phủ, phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa, đổi mới và mất giá của đồng tiền Nigeria. Một phát hiện quan trọng của nghiên cứu là định hƣớng thị trƣờng dẫn kết quả kinh doanh thông qua các biến điều hòa (moderating variables).
Mô hình nghiên cứu của tác giả nhƣ sau: Định hƣớng thị trƣờng Kết quả kinh doanh (MO) (BP) Định hƣớng khách hàng Doanh thu Định hƣớng cạnh tranh Lợi nhuận Phối hợp chức năng Thị phần Luan van 9 + Nghiên cứu “Quản lý theo định hướng thị trường – một nghiên cứu trong ngành cơ khí Thành phố Hồ Chí Minh” của Bùi Huy Hải Bích và Võ Thị Thanh Nhàn đăng trên Tạp chí phát triển KH&CN, Tập 10, số 08-2007. Nghiên cứu này nhằm xác định mức độ áp dụng nguyên lý quản lý theo định hƣớng thị trƣờng trong các doanh nghiệp thuộc ngành Cơ khí tại Tp. HCM, đồng thời tìm hiểu tác động của năm thành phần định hƣớng thị trƣờng lên kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp này. Kết quả thống kê cho thấy mức độ áp dụng nguyên lý quản lý theo định hƣớng thị trƣờng tại các doanh nghiệp trong ngành cơ khí Tp.HCM hiện nay khá tốt, cao nhất là thành phần Định hƣớng khách hàng và thấp nhất là thành phần Định hƣớng cạnh tranh.
Phân tích hồi quy cho thấy trong năm thành phần của nguyên lý quản lý theo định hƣớng thị trƣờng thì bốn thành phần có ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là Định hƣớng khách hàng, Định hƣớng cạnh tranh, Ứng phó nhạy bén và Phối hợp chức năng.