phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục gồm có 3 chƣơng chính: Chƣơng I: Tổng quan về Áo dài và cắt may Áo dài Phụ nữ Việt Nam thế kỉ XX và khái quát chung về cữ gá. Chƣơng II: Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu và bàn luận. Học viên: Vũ Thị Thanh Huyền 13 Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn cao học Viện Dệt may – Da giầy và Thời trang Học viên: Vũ Thị Thanh Huyền 14 Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn cao học Viện Dệt may – Da giầy và Thời trang CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ÁO DÀI VÀ ÁO DÀI PHỤ NỮ VIỆT NAM THẾ KỈ XX VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CỮ GÁ 1.
Khái quát Áo dài Phụ Nữ Việt Nam 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài Áo dài : Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam1 là trang phục của cả nam và nữ, che thân từ cổ đến đầu gối hoặc quá đầu gối. Áo dài có thể có từ 2- 5 thân, mở cạnh hoặc giữa; cổ đứng cao, thấp hoặc cổ bẻ, cổ tròn, cổ chữ V, cổ hình bầu dục; vai liền, vai nối hoặc vai bồng; tay dài hoặc không tay; vạt có thể dài, ngắn, rộng, hẹp; gấu gập, vê, thẳng, lƣợn, góc vuông, góc tròn… Hay Áo dài gồm một chiếc Áo dài , cổ cao, bó sát thân, xẻ dọc hai bên lên tới eo, mặc bên ngoài một chiếc quần rộng. Áo dài Phụ nữ Việt Nam: Lịch sử Áo dài Phụ Nữ Việt Nam là Áo dài những năm 70 và thời kỳ sau này.
Sự nâng cao độ xẻ sƣờn, tay Raglan, mặc với quần ống, trên bó hông, dƣới xòe rộng hoặc hẹp, và đƣợc mặc mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh với sự thay đổi về độ rộng hẹp và mầu sắc, chất liệu đã khiến chiếc Áo dài Phụ Nữ Việt Nam mang tính khác biệt hẳn so với các trang phục truyền thống của phụ nữ các nƣớc khác. Bởi vậy, có thể lấy tên Áo dài Phụ Nữ Việt Nam từ thời gian này. Khái lược lịch sử Áo dài Phụ Nữ Việt Nam Có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc và lịch sử Áo dài Việt Nam, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này và sau khi tổng hợp tài liệu: Là một trong 1 Viện từ điển học và bách khoa toàn thƣ Việt Nam.vn 2 Dƣơng Thị Kim Đức. Lịch sử Áo dài phụ nữ.
Luận văn tiến sĩ, Đại học Đông Hoa, Thƣợng Hải, Trung Quố c, 2013. Học viên: Vũ Thị Thanh Huyền 15 Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn cao học Viện Dệt may – Da giầy và Thời trang những biểu tƣợng cho cái đẹp không chỉ của ngƣời phụ nữ mà của cả dân tộc Việt Nam, chiếc Áo dài đã ghi lại rất nhiều nét đan thanh không những qua ca dao, tục ngữ mà còn qua điêu khắc, hội họa, kịch nghệ, văn chƣơng và âm nhạc. Áo dài Việt Nam đã có một quá trình gắn bó với những thăng trầm của lịch sử dân tộc để rồi cái đẹp của nó toả sáng trong thời đại ngày nay. Trải qua cả mƣời thế kỉ bị phong kiến phƣơng Bắc đô hộ - đặc sắc về văn hóa, rồi ngót một thế kỉ dƣới ách thống trị của Thực dân Pháp, tà Áo dài Việt Nam vẫn uyển chuyển tung bay, thể hiện sáng ngời tinh thần bất khuất và khiếu thẩm mĩ của ngƣời Việt.
Ca ngợi, tôn vinh Áo dài nhƣng chắc rằng mấy ngƣời hiểu đƣợc tiền thân của nó. Đƣa hình ảnh Áo dài Việt Nam đến bạn bè năm Châu là một việc nên làm và đáng làm, bởi chiếc Áo dài truyền thống là một hình ảnh ấn tƣợng đã ăn sâu vào tiềm thức cho những ai hơn một lần diện kiến. 2: Hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ Cho đến ngày nay, vẫn chƣa ai biết rõ đƣợc nguồn gốc chính xác của chiếc Áo dài nhƣng trong cuộc sống từ ngàn năm, hình ảnh thấy hình ngƣời trong hoa văn trên mặt trống đồng: Ngƣời có thể đang mặc váy dài, có hai vạt tỏa ra hai phía, vừa đi vừa múa, có ngƣời tay cầm rìu, có ngƣời thổi kèn, có ngƣời cầm giáo, cán giáo có trang trí lông chim. Hoặc có thể ngƣời đang quay mặt về phía nhà cầu mùa, xõa tóc, mặc váy hay có đôi trai gái đang cầm chày giã vào một chiếc cối, đầu chày có trang trí lông Học viên: Vũ Thị Thanh Huyền 16 Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn cao học Viện Dệt may – Da giầy và Thời trang chim.
Theo nhà sử học Đào Duy Anh từ thời Văn Lang, trên trống đồng Ngọc Lũ của tổ tiên ta đã khắc trên mặt trống hình ngƣời phụ nữ trong trang phục áo có hai tà Áo dài.3 Theo truyền thuyết kể lại, khi cƣỡi ngựa trong trận đánh đuổi quân Hán, Hai Bà Trƣng đã mặc áo hai tà giáp vàng che lọng vàng. Sau đó theo sự tôn kính phụ nữ Việt tránh mặc áo hai tà mà thay bằng Áo dài Tứ thân. Hồi ấy, họ đã khéo léo sử dụng màu sắc tự nhiên từ củ nâu, lá bàng giã nhỏ hay bùn dẻo dƣới ao để làm màu nhuộm cho những trang phục, tạo ra nét “văn hóa mặc” đơn giản, tế nhị và kín đáo. Có thể nói chiếc Áo dài Tứ thân mà các mẹ, chị em vẫn mặc ở những vùng làng quê mộc mạc hay các lễ hội thủa xƣa chính là tiền thân của chiếc Áo dài.
Dƣới là tóm tắt sơ lƣợc quá trình hình thành và phát triển của Áo dài cho tới ngày nay. 3: Lễ Tƣởng Niệm Hai Bà Trƣng cƣỡi Voi trận chiến đấu với quân Nhà Hán (40 - 43 CN) cử hành ngày 3-03-1960 tại Sài Gòn 3 WIKIPEDIA (Bách Khoa Toàn Thƣ mở), Ngọc Lũ I Nguồn: https://vi.org/wiki/Ng%E1%BB%8Dc_L%C5%A9_I Học viên: Vũ Thị Thanh Huyền 17 Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn cao học Viện Dệt may – Da giầy và Thời trang Trƣớc thế kỉ XX (Áo dài giao lĩnh – Tứ thân – Ngũ thân). 4: Thói quen ăn mặc ở An Nam theo Vạn quốc nhân vật đồ do ngƣời Nhật Bản khắc in năm 1645 Kiểu sơ khai của chiếc Áo dài xƣa nhất là Áo dài Giao lĩnh. Áo dài Giao lĩnh là một trong những lối y phục lâu đời nhất trong tập quán Việt Nam, là tiền thân của Áo dài Tứ thân.
Kiểu áo này phổ biến vào thời Lý - Trần - Lê, nhƣng sang đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1744 4 thì có lệnh sửa đổi cách ăn mặc của ngƣời Đàng Trong, dùng áo cài khuy, bỏ váy mặc quần. Ở Đàng Ngoài áo cổ chéo tiếp tục có mặt cho đến khi nhà Nguyễn dẹp nhà Tây Sơn, thống nhất sơn hà. 5 Vua Minh Mạng đầu thế kỷ XIX ra lệnh dân Bắc Hà cũng phải thay đổi trang phục theo giống trong Nam. Thói quen mặc áo cổ chéo trong dân gian từ đó mờ dần, 4 Áo dài Việt: Từ năm thân tới hai thân , Tác giả Trịnh Bách 5 Trang phục cổ truyền các dân tộ c Việt Nam, Ngô Đức Thịnh ,Nhà xuấ t bản Văn hoá dân tộc, Hà N ội, 1994 Học viên: Vũ Thị Thanh Huyền 18 Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn cao học Viện Dệt may – Da giầy và Thời trang chỉ còn dùng nhƣ loại áo thụng trong lúc tế lễ.
Nam giới bắt đầu mặc Áo dài nhƣng nữ lƣu phía bắc sông Gianh vẫn nhất nhất theo lối cũ. Áo dài Tứ thân đƣợc xem là cách tân của áo cổ chéo, tiếp tục tồn tại đến đầu thế kỷ XX, chỉ khác ở chỗ tay Áo dài Tứ thân hẹp, không dài và rộng nhƣ áo cổ chéo cũ. Có lý giải cho rằng, bốn thân áo tƣợng trƣng cho Tứ thân phụ mẫu (cha mẹ vợ, cha mẹ chồng), hai tà áo trƣớc buộc lại với nhau lại tƣơng trƣng cho tình nghĩa vợ chồng khăng khít bên nhau. Hình ảnh một vạt cụt nhƣ cái yếm, bên ngoài là hai vạt lớn tựa nhƣ cha mẹ ôm ấp đứa con vào lòng.
Áo dài Tứ thân có cấu tạo giống áo cánh, gồm hai vạt trƣớc rộng nhƣ nhau, buông thả xuống, không cài khuy. Thân sau mép dọc hai khổ đƣợc khâu liền tạo thành sống lƣng áo (nối giữa sống lƣng) còn hai thân trƣớc là hai tà áo, khi mặc bỏ buông hay thắt hai Hình 1. 5: Hình ảnh ngƣời phụ nữ trong vạt vào nhau ở trƣớc bụng hay sau lƣng. trang phục Áo dài Tứ thân Với cách cấu tạo nhƣ vậy, Áo dài Tứ thân cho ta cảm giác cân đối, hoàn chỉnh khi nó đƣợc mặc trên ngƣời cụ thể.
Do mặc để làm việc, gồng gánh nên phần vai và khuỷu tay thƣờng bị rách trƣớc nhất, nhƣng phần vạt áo vẫn còn tốt “Ngƣời ta có sáng kiến thay thế phần vai bị rách bằng cách cắt nối vạt nhƣng hai bên hơi so le một chút tạo ra một kiểu áo đổi vai đổi vạt có hai loại cổ áo: cổ tròn, cổ thìa (hình chữ V)”. Hình thức này đã đƣợc tồn tại qua nhiều năm tháng, chủ nhân tấm áo nhận thấy vai áo đã sờn rách, vứt bỏ thì tiếc nên đã nghĩ ra cách cắt phần trên, thay không đều mà so le tạo ra Học viên: Vũ Thị Thanh Huyền 19 Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn cao học Viện Dệt may – Da giầy và Thời trang sự không nhàm chán, không cân đối nhƣng vẫn đối xứng. Khi thay không chênh nhau nhiều về màu vải. Phụ nữ thời xƣa đã sáng tạo ra loại Áo dài Tứ thân “mốt” thay vai đổi vạt, hấp dẫn thị giác của con ngƣời trở thành “mốt” một thời.
Ngƣời ta vẫn chắp vải khác màu cho hai vai, một phần ngực, lƣng liền với ống tay hoặc nối ở phần dƣới hai vạt áo. Màu đen dần dần đƣợc thay thế bằng màu nâu, nâu non, nâu cánh gián, bã trầu, củ nâu, da lƣơn, nâu đất và gần về sau này màu sắc càng phong phú hơn nhƣ màu xanh, đỏ, vàng, da cam, rơm, hoàng yến, mỡ gà… vị trí màu đậm nhạt tùy vào sở thích của từng ngƣời. Kiểu đổi vai, đổi vạt màu sắc khác nhau chứng tỏ trình độ thẩm mỹ của ngƣời Việt khá cao. Với bản chất kín đáo của ngƣời Việt xƣa, trang phục thời kỳ này đƣợc nghiên cứu, tìm tòi cách phối hợp những nguyên tắc thẩm mỹ với quy luật kín đáo và cố hữu của dân tộc vào việc may mặc.
Ngƣời ta truyền cho nhau những kinh nghiệm tằn tiện, khéo léo bởi cái sự quan trọng nhất “ăn lấy chắc, mặc lấy bền”. Chiếc Áo dài Tứ thân của cả nam và nữ đều có một vòng đệm cổ gọi là lá sen. Cổ áo dựng lên một đốt ngón tay. Mùa rét mặc 2 đến 3 lớp áo gọi là áo “mớ”.