Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng là đô thị loại I trực thuộc Trung ương, giữ vai trò hạt nhân kinh tế, công nghiệp, thương mại và du lịch của khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân đạt 13%/năm trong giai đoạn 2000-2010 và thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt gần 1.280 USD, Đà Nẵng đối mặt với áp lực đô thị hóa mạnh mẽ. Dân số toàn thành phố năm 2011 đạt 822.178 người, trong đó khu vực nội thành chiếm đến 86,83%. Sự gia tăng dân số cơ học và quá trình dịch chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp đã kích hoạt sự bùng nổ của phương tiện giao thông cá nhân. Khảo sát thực tế trên cầu Sông Hàn ghi nhận lưu lượng giao thông lên tới gần 70.000 lượt xe/ngày đêm, trong đó xe máy chiếm xấp xỉ 90%, dẫn đến nguy cơ ùn tắc cục bộ, ô nhiễm môi trường và gia tăng tai nạn giao thông.

Trước thực trạng đó, Quyết định số 524/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xác định vận tải khách công cộng bằng xe buýt là phương thức chủ đạo, đặt chỉ tiêu đáp ứng 10% nhu cầu đi lại vào năm 2010 và nâng lên 25% (tương đương 95.760 lượt khách/năm) vào năm 2020. Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, hệ thống xe buýt vẫn chưa đạt được các chỉ tiêu đề ra do mạng lưới tuyến chưa tối ưu và thiếu cơ chế điều hành đồng bộ. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng, dự báo nhu cầu đi lại và thiết lập phương án hoàn thiện mạng lưới vận tải khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn lớn khi chi phí xã hội cho một chuyến đi bằng xe buýt chỉ khoảng 1.134 đồng, thấp hơn 3,3 lần so với xe máy (3.774 đồng) và 23 lần so với xe ô tô con cá nhân (26.000 đồng), tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế vận tải và quy hoạch giao thông đô thị hiện đại. Khung lý thuyết tích hợp hai mô hình phân tích chủ đạo: mô hình dự báo nhu cầu vận tải 4 bước cổ điển (Four-Step Travel Demand Model) và lý thuyết mạng lưới tuyến vận tải đô thị. Mô hình 4 bước bao gồm: phát sinh chuyến đi (Trip Generation), phân bố chuyến đi (Trip Distribution), phân chia phương thức (Mode Choice) và phân bổ mạng lưới (Traffic Assignment).

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Mạng lưới vận tải khách công cộng: tập hợp các tuyến vận tải hoạt động ổn định trên kết cấu hạ tầng giao thông đô thị nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển số đông.
  • Hệ số chiếm dụng mặt đường: diện tích chiếm dụng động của phương tiện theo dải vận tốc (xe buýt đạt từ 0,41 đến 3,47 m2/hành khách, trong khi ô tô con cá nhân chiếm từ 10,7 đến 169,0 m2/hành khách).
  • Hệ số trùng lặp tuyến: mật độ các tuyến cùng khai thác trên một đoạn đường, với ngưỡng kỹ thuật cho phép không vượt quá 6.
  • Vận tốc lữ hành và thời gian một vòng luân chuyển: chỉ số chất lượng dịch vụ yêu cầu vận tốc lữ hành tối thiểu phải đạt trên 20 km/h.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng năm 2011, các báo cáo chuyên ngành của Sở Giao thông vận tải Đà Nẵng, kết hợp với các dữ liệu đếm xe tại các cây cầu trọng yếu thực hiện vào tháng 8/2011. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát xã hội học với cỡ mẫu 2.500 phiếu phỏng vấn người dân, công nhân tại 6 khu công nghiệp và sinh viên tại hơn 10 trường đại học, cao đẳng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo vị trí địa lý được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả 6 quận nội thành và huyện ngoại thành Hòa Vang.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích hồi quy tương quan và mô hình hóa mạng lưới giao thông trên phần mềm chuyên dụng VISUM. Lý do lựa chọn phần mềm VISUM là khả năng số hóa 310,9 km mạng lưới đường đô thị Đà Nẵng, mô phỏng chính xác sự tương tác giữa lưu lượng phương tiện và năng lực thông hành của các trục đường chính. Nghiên cứu thực hiện đánh giá dữ liệu hiện trạng giai đoạn 2008-2011, thiết lập các tham số dự báo cho giai đoạn 2012-2015 và xây dựng phương án quy hoạch hoàn chỉnh với tầm nhìn đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự phân bổ lưu lượng giao thông mất cân đối nghiêm trọng trên các trục kết nối qua sông Hàn. Lưu lượng qua cầu Sông Hàn đạt gần 70.000 xe/ngày đêm và cầu Nguyễn Văn Trỗi đạt 29.518 xe/hướng/ngày đêm, trong đó phương tiện cá nhân hai bánh chiếm từ 88% đến 90%. Áp lực giao thông tập trung cao độ tại quận Hải Châu (mật độ 9.180 người/km2) và quận Thanh Khê (mật độ 17.126 người/km2).

Thứ hai, tiềm năng hành khách của vận tải công cộng rất lớn nhưng chưa được khai thác. Số liệu điều tra cho thấy nguồn cầu tiềm năng tập trung tại 6 khu công nghiệp tập trung với quy mô gần 60.000 công nhân khi lấp đầy (tiêu biểu như KCN Hòa Khánh với 22.000 công nhân, KCN Liên Chiểu với 14.000 công nhân) và hơn 100.000 học sinh, sinh viên (trong đó Đại học Đà Nẵng đóng góp hơn 60.000 sinh viên phân bố dọc các trục Nguyễn Lương Bằng, Tôn Đức Thắng, Ngũ Hành Sơn).

Thứ ba, kết cấu hạ tầng đường bộ đô thị của Đà Nẵng có chất lượng vượt trội so với các đô thị cùng cấp. Tổng chiều dài đường bộ đạt 310,9 km với mật độ 1,3 km/km2, tỷ lệ mặt đường bê tông nhựa và bê tông xi măng đạt 95%. Tuy nhiên, mức độ bao phủ của mạng lưới xe buýt hiện hữu còn rất thấp, tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đi lại thực tế dưới 1%, chênh lệch xa so với mục tiêu 10% đề ra trong các văn bản quy hoạch.

Thứ tư, tính ưu việt về mặt kinh tế và môi trường của xe buýt chưa được chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh. Diện tích chiếm dụng tĩnh của xe buýt chỉ là 1,5 m2/chuyến đi, thấp hơn nhiều so với xe máy (3,0 m2/chuyến đi) và xe con (8-10 m2/chuyến đi). Về môi trường, lượng phát thải khí xả của xe buýt trên mỗi hành khách thấp hơn đáng kể so với phương tiện cơ giới cá nhân.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến hệ thống vận tải công cộng chưa phát triển tương xứng với hạ tầng nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch tuyến và các điểm thu hút chuyến đi. Các tuyến buýt hiện hành chưa bao phủ trực tiếp tới các cổng trường đại học và khu công nghiệp ngoại vi. Thói quen sử dụng phương tiện cá nhân tiện lợi ăn sâu trong nếp sống đô thị, kết hợp với cơ chế trợ giá, bù lỗ cho doanh nghiệp khai thác chưa minh bạch, dẫn đến việc doanh nghiệp thiếu động lực đầu tư phương tiện mới.

Trong báo cáo nghiên cứu, dữ liệu phân vùng giao thông và ma trận luồng hành khách xuất phát - đích đến (O-D matrix) được trực quan hóa thông qua bảng tổng hợp nhu cầu liên vùng và biểu đồ phân chia phương thức vận tải. Các kết quả này chứng minh rằng nếu tổ chức mạng lưới dạng xuyên tâm kết hợp vành đai khép kín, xe buýt có thể rút ngắn thời gian chuyến đi từ 15% đến 20%. So sánh với các bài học kinh nghiệm từ Singapore và các nghiên cứu tại Hà Nội, Đà Nẵng đang ở trong "giai đoạn vàng" khi mạng lưới đường chưa bị quá tải trầm trọng, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi mô hình đi lại nếu triển khai các chính sách ưu tiên kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc mạng lưới tuyến xe buýt theo hai giai đoạn chiến lược. Giai đoạn 2012-2015, Sở Giao thông vận tải Đà Nẵng cần điều chỉnh và vận hành 8 tuyến buýt nội đô then chốt, kết nối bến xe trung tâm, quận trung tâm Hải Châu, Thanh Khê với KCN Hòa Khánh, KCN Liên Chiểu và cụm các trường đại học. Giai đoạn 2016-2020, mở rộng mạng lưới đạt 12-14 tuyến, bổ sung các tuyến vành đai (chiều dài khoảng 44,7 km) và tuyến tiếp tuyến kết nối ngoại thành Hòa Vang. Mục tiêu nâng tỷ lệ đảm nhận của xe buýt lên 10% vào năm 2015 và đạt 25% nhu cầu đi lại vào năm 2020.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông tĩnh và các điểm trung chuyển. Ban Quản lý Dự án Giao thông thành phố cần quy hoạch và xây dựng từ 5 đến 7 điểm trung chuyển chính tại Bến xe trung tâm, Cảng Tiên Sa, khu vực Ngũ Hành Sơn và Hòa Khánh. Thiết lập hệ thống điểm dừng, nhà chờ đạt chuẩn với khoảng cách bình quân 400 - 500m trong nội thành và dưới 1.000m tại ngoại thành, bố trí cách nút giao thông 20 - 25m để đảm bảo khả năng thông hành và mỹ quan đô thị.

Thứ ba, cải cách cơ chế tài chính và phương thức trợ giá vận tải. Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng cần chuyển từ cơ chế bao cấp bù lỗ thụ động sang cơ chế đấu thầu quyền khai thác tuyến có trợ giá gắn với chất lượng dịch vụ (Km lăn bánh thực tế và tỷ lệ đúng giờ). Thành phố cần áp dụng chính sách miễn giảm thuế đất cho bến bãi, hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư xe mới, và áp dụng chính sách giảm giá vé tháng cho học sinh, sinh viên và công nhân.

Thứ tư, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành và đổi mới phương tiện. Các doanh nghiệp khai thác vận tải cần trang bị 100% hệ thống định vị GPS giám sát hành trình, số hóa hệ thống vé thông minh liên tuyến và kiểm soát sai số biểu đồ chạy xe dưới 2 phút. Lộ trình đầu tư phương tiện cần ưu tiên xe buýt sàn thấp, có điều hòa không khí và đạt tiêu chuẩn khí thải Euro III trở lên, đảm bảo duy trì vận tốc lữ hành trên 20 km/h.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách đô thị (Sở Giao thông vận tải, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng): Luận văn cung cấp cơ sở khoa học từ mô hình VISUM và hệ thống chỉ tiêu định lượng, hỗ trợ trực tiếp cho công tác thẩm định quy hoạch giao thông công cộng và xây dựng chính sách trợ giá vận tải giai đoạn đến năm 2020.

Nhóm doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng và đơn vị khai thác bến bãi: Tài liệu cung cấp phương pháp xác định biểu đồ vận hành tối ưu, tiêu chuẩn kỹ thuật trạm dừng và phương án phân bổ phương tiện theo từng khung giờ, giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí vận hành từ 10% đến 15% và nâng cao hiệu quả khai thác đoàn xe.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Quy hoạch đô thị, Kinh tế vận tải, Kỹ thuật giao thông: Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về quy trình dự báo nhu cầu 4 bước, kỹ thuật phân vùng giao thông và phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của mạng lưới xe buýt đô thị loại I.

Nhóm các tổ chức tài chính quốc tế và đối tác phát triển hạ tầng (như Ngân hàng Tái thiết Đức, JICA): Dữ liệu phân tích lưu lượng, mức độ chiếm dụng đường và tác động giảm thiểu phát thải khí CO2 trong luận văn là nguồn dẫn chứng xác đáng để thẩm định tính khả thi của các dự án vay vốn ODA phát triển giao thông xanh tại miền Trung Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao xe buýt là phương thức vận tải công cộng phù hợp nhất với Đà Nẵng giai đoạn đến năm 2020? Do đặc thù địa hình hẹp, sông ngòi ngắn và ngân sách đô thị có hạn, các phương thức như đường sắt đô thị hay tàu điện ngầm đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu quá lớn. Xe buýt tận dụng trực tiếp 310,9 km đường bộ chất lượng cao hiện có, sở hữu tính cơ động cao, chi phí đầu tư phương tiện hợp lý và dễ dàng điều chỉnh mạng lưới theo quy hoạch mở rộng đô thị.

Mô hình dự báo nhu cầu vận tải 4 bước trong luận văn được vận hành như thế nào? Mô hình vận hành thông qua 4 bước liên hoàn: tính toán lượng chuyến đi phát sinh từ dữ liệu 822.178 dân cư, phân bố chuyến đi giữa các phân vùng TAZ, phân chia phương thức dựa trên chi phí và thời gian đi lại, cuối cùng là mô phỏng gán luồng giao thông lên mạng lưới đường bằng phần mềm VISUM để xác định chính xác lưu lượng trên từng tuyến.

Làm thế nào để giải quyết bài toán bù lỗ cho doanh nghiệp khai thác xe buýt tại Đà Nẵng? Cần chuyển đổi sang mô hình quản trị theo hợp đồng dịch vụ công (Gross Cost Contract), nơi chính quyền đấu thầu quyền khai thác tuyến và thanh toán theo chỉ số chất lượng hoạt động. Đồng thời, thành phố cần trợ giá gián tiếp qua việc miễn tiền thuê đất bến bãi, hỗ trợ lãi suất mua sắm xe và khai thác quảng cáo thương mại tại trạm dừng để bù đắp chi phí.

Mạng lưới tuyến đề xuất phục vụ nhu cầu của công nhân và sinh viên ra sao? Mạng lưới tuyến mới thiết kế các tuyến xuyên tâm và tiếp tuyến chạy thẳng qua các hành lang trọng điểm như Nguyễn Lương Bằng, Tôn Đức Thắng và Ngũ Hành Sơn. Điều này kết nối trực tiếp hơn 60.000 sinh viên Đại học Đà Nẵng và gần 60.000 công nhân tại các KCN Hòa Khánh, Liên Chiểu về trung tâm đô thị mà không cần chuyển tuyến quá 1 lần.

Phát triển vận tải hành khách bằng xe buýt mang lại lợi ích kinh tế - xã hội gì cho người dân? Chi phí đi lại bình quân bằng xe buýt chỉ 1.134 đồng/chuyến, giúp tiết kiệm chi phí tài chính gấp 3,3 lần so với xe máy và 23 lần so với ô tô con. Ngoài ra, xe buýt giảm thiểu tai nạn giao thông, hạ thấp hệ số chiếm dụng lòng đường xuống 0,41 m2/khách và cắt giảm đáng kể lượng phát thải khí xả độc hại ra môi trường đô thị.

Kết luận

  • Mạng lưới vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là giải pháp then chốt giúp Đà Nẵng giải quyết nguy cơ ùn tắc, tai nạn giao thông và giảm thiểu ô nhiễm môi trường khi đô thị hóa.
  • Hạ tầng giao thông đường bộ đô thị với 310,9 km đạt chuẩn là nền tảng thuận lợi để phát triển hệ thống xe buýt nhanh chóng mà không đòi hỏi chi phí giải phóng mặt bằng quá lớn.
  • Khảo sát khẳng định nguồn cầu tiềm năng lớn với hơn 100.000 học sinh, sinh viên và gần 60.000 công nhân cần được ưu tiên kết nối qua mạng lưới tuyến mới.
  • Phương án quy hoạch điều chỉnh đề xuất lộ trình mở rộng tuyến rõ ràng theo 2 giai đoạn (2012-2015 và 2016-2020), hướng tới mục tiêu đáp ứng 25% nhu cầu đi lại của đô thị.
  • Hoàn thiện mạng lưới phải đi đôi với cải cách cơ chế trợ giá, ứng dụng công nghệ giám sát hành trình GPS và nâng cao chất lượng phục vụ để thay đổi thói quen của người dân.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp vận tải cần khẩn trương phối hợp triển khai các bước thí điểm tuyến buýt trục, nâng cấp điểm dừng và số hóa hệ thống vé trong giai đoạn ngay trước mắt.