CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MẠNG LƯỚI VẬN TẢI KHÁCH CÔNG CỘNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH 1. Đô thị hoá và quá trình đô thị hoá Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian.
Quá trình đô thị hoá ra đời vào lúc nền canh tác nông nghiệp đã ở trình độ khá cao như đã có thuỷ lợi, thành lập kho tàng lưu trữ và phân bố lương thực. tức là vào khoảng 2.000 năm trước công nguyên. Các khu vực đô thị lúc đầu thường mọc lên ở dọc bờ sông thuận tiện giao thông, nguồn nước. Sự hình thành các đô thị gia tăng mạnh mẽ nhờ các tiến bộ về công nghiệp của thế kỷ trước và hiện nay.
Các đô thị là thị trường lao động rộng lớn của dân cư có mức sống cao với điều kiện giao thông và dịch vụ thuận lợi. Ngày nay, quá trình đô thị hoá đã và đang phát triển mạnh ở nhiều quốc gia nói chung và ở nhiều tỉnh thành của Việt Nam nói riêng. Đô thị hoá đã làm phát sinh vô vàn vấn đề về kinh tế xã hội chính trị và môi trường như cung cấp nhà ở, cung cấp nước, vệ sinh môi trường, tạo công ăn việc làm.Và đặc biệt, đó là sự gia tăng nhu cầu đi lại và sức ép từ việc giải quyết vấn đề đi lại của người dân đô thị. Theo Luật quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành Luan van 10 phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.
Nước ta đô thị được chia thành 6 loại gồm loại đặc biệt, loại I, II, III, IV và V theo các tiêu chí cơ bản sau đây a) Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; b) Quy mô dân số; c) Mật độ dân số; d) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; đ) Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng. Nhằm phục vụ cho công tác quản lý hành chính về đô thị cũng như để xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị, đô thị được phân chia thành nhiều loại khác nhau. Việc phân loại đô thị dựa theo tính chất quy mô và vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia, theo quy định của Chính phủ tại Nghị định 42/2009/NĐ-CP như trong Bảng 1 Luan van 11 Bảng 1.1 Phân loại đô thị Việt Nam Loại đô thị Đặc điểm Dân số/lao động Mật độ dân cư Thủ đô hoặc đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, đào tạo, đầu mối Đô thị giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, cơ sở hạ ≥ 5 triệu người ≥ 15.000 loại đăc tầng được xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh, trong nội thành 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng Tỷ lệ lao động PNN người/km2 biệt phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường; 60% ≥ 90% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị… Trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu ≥1triệu người, (thuộc ≥12.000 mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh ≥500.000 người) người/km2 Đô thị một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước; trong nội thành 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng Tỷ lệ lao động phi (thuộc tỉnh loại I phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường; 50% nông nghiệp (PNN) ≥ ≥10.000 các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị…. 85% người/km2 ) ≥ 800.000 người, Trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu (thuộc tỉnh ≥300.000 mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội người) người/km2 Đô thị của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh.
; trong nội thành 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng (thuộc tỉnh loại II Tỷ lệ lao động PNN phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường; 40% ≥8.000 ≥ 80% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị (Đô thị lớn) người/km2) Đô thị Trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu ≥150.000 loại III mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Tỷ lệ lao động PNN người/km2 của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh. ≥ 75% Đô thị trung bình – nhỏ, là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào ≥ 50.000 Đô thị người/km2 tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh. Có vai trò Tỷ lệ lao động PNN loại IV thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh.000 loại V Đô thị nhỏ, trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, người/km2 du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã.
Tỷ lệ lao động PNN ≥ 65% Luan van 12 1. Vai trò của VTKCC trong đô thị a. Khái niệm VTKCC Hệ thống giao thông vận tải đô thị là tập hợp hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đô thị và hệ thống vận tải đô thị (phương tiện giao thông) nhằm đảm bảo sự liên hệ giao lưu giữa các khu vực khác nhau của đô thị. Hệ thống vận tải đô thị là tập hợp các phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy… phục vụ vận chuyển hàng hóa và hành khách trong thành phố.
Hoạt động chính của hệ thống giao thông vận tải là quá trình di chuyển của phương tiện nhằm vận chuyển hàng hóa và hành khách theo không gian và thời gian. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là hệ thống nhằm phục vụ hoạt động di chuyển của người và hàng hóa. Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị bao gồm Hệ thống giao thông động là đường giao thông và các công trình trên đường - Hệ thống đường giao thông động là một phần của hệ thống giao thông có chức năng đảm bảo cho phương tiện và người di chuyển giữa các khu vực trong đô thị cũng như giữa đô thị với các khu vực khác. - Hệ thống giao thông động là tập hợp các con đường, các tuyến vận chuyển, các công trình trên tuyến vận chuyển, các công trình khác.
Đó là mạng lưới đường sá, các công trình trên đường và các công trình khác. - Các mô hình mạng lưới đường giao thông thường có ở các đô thị gồm hướng tâm, xuyên tâm, bàn cờ, dây cung, vành đai, tự do và sơ đồ hỗn hợp. - Đường đô thị được chia thành nhiều loại tùy theo chức năng, quy mô, đặc điểm đi lại và tổ chức giao thông. Thông thường, căn cứ vào đặc điểm liên hệ giao thông, loại phương tiện di chuyển, thành phần của dòng giao thông, tốc độ giao thông trong đô thị, có những loại đường sau Đường cao tốc thành phố, đại lộ, đường giao thông chính thành phố, đường giao thông khu vực, đường phố thương mại, đường phi cơ giới, đường nội bộ, đường phố khu công nghiệp, kho tàng, đường đi bộ.
Luan van 13 Hệ thống giao thông tĩnh là các công trình giao thông phục vụ phương tiện trong quá trình di chuyển bao gồm - Gara, bãi đỗ xe các gara dùng để giữ gìn, bảo quản phương tiện vận tải, bao gồm các công việc giữ gìn, bảo quản, đồng thời có thể thực hiện bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa thường xuyên phương tiện vận tải. Các gara có thể phục vụ nhiều loại phương tiện khác nhau và có thể thực hiện các công việc ở các mức khác nhau. Chế độ làm việc của gara phụ thuộc vào phương tiện vận tải mà chúng phục vụ. Một cách chung nhất chức năng chính của gara là giữ gìn và bảo quản phương tiện.
Bãi đỗ xe thường chia làm hai loại Bãi đỗ xe trong đường phố là loại bãi đỗ xe tận dụng ngay phần xe chạy hoặc lề đường của đường trong đô thị làm vị trí dừng, đỗ xe và bãi đỗ xe ở ngoài đường phố. Bãi đỗ xe là một dạng giao thông tĩnh phổ biến nhất ở bất cứ đô thị nào trên thế giới, với xu hướng cơ giới hoá phương tiện đi lại của người dân đô thị, bãi đỗ xe càng trở nên quan trọng và bức xúc. - Các điểm đầu cuối điểm đầu cuối là nơi thực hiện tác nghiệp đầu cuối trong quy trình vận tải hành khách, hàng hoá. Thông thường các điểm đầu cuối được phân thành hai loại Các điểm đầu cuối phục vụ vận tải liên tỉnh.
(Các điểm này được xây dựng với số lượng hạn chế và quy mô tương đối lớn để phục vụ các phương tiện vận tải liên tỉnh. Nó bao gồm sân bay, ga tàu, bến cảng, bến xe ôtô.) và các điểm đầu cuối phục vụ vận tải nội đô. Các điểm đầu cuối trong vận tải nội đô được bố trí tại đầu và cuối tuyến vận tải hàng hoá, hành khách nhằm phục vụ hành khách đi xe. - Các điểm trung chuyển hàng hoá, hành khách điểm trung chuyển là nơi dùng để chuyển tải hàng hoá và hành khách trong cùng một phương thức vận tải hoặc giữa các phương thức vận tải trong quá trình vận chuyển đa phương thức.
- Các điểm dừng dọc tuyến.