CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUY HOẠCH 1. Xu hướng quy hoạch giao thông vận tải 1. Quan điểm chung: Xu hướng phát triển của các đô thị trên thế giới hiện nay rất đa dạng và theo nhiều phương thức khác nhau do sự khác biệt về kinh tế, chính trị, văn hóa, địa lý, cũng như nền tảng và tính chất đô thị hiện hữu quyết định cách thức phát triển của đô thị trong tương lai. Mục đích chính trong chiến lược của các thành phố hiện nay đó là: 1.
Sự hoàn thiện tính chất đô thị: mỗi đô thị đều có một vai trò riêng trong tổng thể của một khu vực, quốc gia, hay thế giới, tính chất của đô thị có thể là tổng hợp hay một phần thuộc các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong định hướng quy hoạch của mỗi thành phố luôn thể hiện những ưu tiên phát triển về kinh tế, thương mại, du lịch, công nghiệp. Phục vụ con người: Các thành phố ngày nay luôn phải tự điều chỉnh từ không gian công cộng đến hệ thống giao thông, từ nơi làm việc đến nơi cư trú, để tạo điều kiện và môi trường sống tốt nhất cho người dân đô thị. Tính bền vững: là sự phát triển có tính đến các thế hệ sau, các thành phố ngày nay đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ tài nguyên, môi trường, cảnh quan thiên nhiên, sự phát triển cân đối giữa kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong đó bản chất giao thông tác động mạnh mẽ đến môi trường sinh thái. Bảo tồn bản sắc: Là một mục đích quan trọng và không phải đô thị nào cũng gìn giữ hoặc có được. Nó được thể hiện qua hình ảnh, không gian đô thị, văn hóa đô thị được kết tinh qua thời gian.1: Thành phố Singapore – Mô hình giao thông xanh -8- Luận án thạc sỹ kỹ thuật Thành phố Cần Thơ là một trong các đô thị lớn trong hệ thống đô thị Việt Nam trực thuộc trung ương. So với các đô thị khác cùng loại, thu ngân sách thành phố Hồ Chí Minh 128.477 tỷ đồng, Hà Nội 66.000 tỷ đồng, Hải Phòng 28.483 tỷ đồng, Đà nẵng 6.969 tỷ đồng, Cần Thơ 6.579 tỷ đồng (thu ngân sách nhà nước năm 2009 ước 390.
Cần Thơ có những lợi thế về mặt địa lý tự nhiên, nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối giao thông thuỷ bộ, có cảng hàng không quốc tế, cảng nước sâu, và đầy đủ các công trình hạ tầng kinh tế xã hội qui mô cấp vùng như nhà máy điện Ô Môn, khu văn hóa Tây Đô, Trung tâm Văn hóa Khơme Nam bộ… Cần Thơ hiện tại là trung văn hóa, giáo dục - đào tạo, đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tiềm năng nguồn nhân lực sử dụng cho phát triển Thành phố Cần Thơ là rất lớn, nhưng vẫn chưa được khai thác sử dụng hợp lý. Phát triển thành phố Cần Thơ thành một hành phố hiện đại trong giai đoạn hiện nay (có hệ thống hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội hiện đại; hệ thống các chức năng, phương thức hoạt động của đô thị, nhanh nhạy, hiệu lực, hiệu quả; kiểm soát được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, môi trường, dân số; thu ngân sách đô thị ngày càng tăng, đảm bảo tính ổn định động hệ thống của đô thị) là một việc làm vừa mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược (đảm bảo cho việc phát triển nhanh và bền vững) xứng đáng trọng trách vai trò là của một đô thị trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước. Với vai trò là trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ đã nỗ lực thực hiện một qui hoạch, kế hoạch có tầm chiến lược để cải tạo và xây dựng đô thị Cần Thơ để làm cơ sở cho việc phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa, đảm bảo cho việc đô thị hóa được bền vững.
Quá trình đô thị hoá thúc đẩy tạo động lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu thế tất yếu và là hệ quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo cơ sở vững chắc cho quá trình đô thị hóa. Chính vì vậy, Cần Thơ đang đảm nhận vai trò trung tâm phát triển công nghiệp, các ngành nghề mới, chuyển giao công nghệ trong vùng, là trung tâm giao lưu trong nước và ngoài nước, thu hút các dự án đầu tư, phát triển kinh tế đối ngoại, trung tâm văn hoá, giáo dục nâng cao dân trí và phát triển nguồn lực, tăng thu ngân sách nhà nước, đảm bảo an ninh quốc phòng, Cần Thơ đã và đang xây dựng một chiến lược toàn diện xây dựng đô thị với tầm nhìn 20-25 năm cho Cần Thơ và cho chính khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước, phải đạt được tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85% trở lên, có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh, mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên. Các công trình kiến trúc, cảnh quan hiện đại, mang bản sắc văn hoá của đồng bằng sông nước.
-9- Luận án thạc sỹ kỹ thuật 1. Cấu trúc hệ thống giao thông Cấu trúc giao thông trong các đô thị rất đa dạng phù hợp với điều kiện từng địa phương. Các đô thị lớn trên thế giới đang có xu hướng ưu tiên phát triển giao thông công cộng có tốc độ cao, tiện nghi và an toàn. Phương tiện giao thông Các phương tiện giao thông thải nhiều khí CO2 như ô tô, xe máy.
sử dụng xăng, dầu diesel như hiện nay sẽ dần được thay thế bằng các loại phương tiện sử dụng nhiên liệu sạch như các các loại xe chạy bằng khí, gas. Hệ thống xe điện công cộng cũng được xem xét phát triển như xe điện, tàu điện, monorail. để thay thế các loại xe buýt sử dụng xăng, dầu diesel.2: Thành phố Kuala Lumpur – Malaysia – Phát triển giao thông công cộng 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch giao thông vận tải: 1.
Quy hoạch kinh tế - xã hội: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nước. Là luận chứng phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội hợp lý trên lãnh thổ quốc gia trong một thời gian xác định. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, Vùng kinh tế trọng điểm; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp huyện. Trong đó: - Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ là luận chứng phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội hợp lý trên lãnh thổ nhất định trong một thời gian xác định.
- 10 - Luận án thạc sỹ kỹ thuật - Vùng kinh tế - xã hội là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, gồm một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các hoạt động kinh tế - xã hội tương đối độc lập, thực hiện sự phân công lao động xã hội của cả nước. Đây là loại vùng phục vụ việc hoạch định chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng của đất nước. - Vùng kinh tế trọng điểm là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực, đầu tàu thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước. Quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực cấp quốc gia; quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực cấp tỉnh; quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ yếu cấp quốc gia; quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ yếu cấp tỉnh.
Trong đó: - Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực là luận chứng, lựa chọn phương án phát triển và phân bố ngành, lĩnh vực hợp lý trong thời kỳ dài hạn trên phạm vi cả nước và trên các vùng, lãnh thổ. Sản phẩm chủ yếu là những sản phẩm có ý nghĩa quyết định lớn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thời kỳ lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lập cho thời kỳ 10 năm, có tầm nhìn từ 15 - 20 năm và thể hiện cho từng thời kỳ 5 năm. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội được rà soát, điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội.
Nguyên tắc chung trong việc lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội: Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội với quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai; cụ thể hóa mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong không gian lãnh thổ cả nước, vùng, làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực phải đi trước một bước làm căn cứ cho lập quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch đất đai; đồng thời, quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch đất đai giai đoạn trước làm căn cứ cho lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn sau. Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nước với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, phù hợp giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội với quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực. Quy hoạch cả nước phải đi trước một bước làm căn cứ cho lập quy hoạch vùng và các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, đồng thời các quy hoạch vùng và ngành, lĩnh vực giai đoạn trước làm căn cứ để lập quy hoạch cả nước cho giai đoạn sau.