Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG THEN TÀY VĂN QUAN, LẠNG SƠN 1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu 1. Khái lược về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội a, Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Văn Quan ngày nay là một huyện vùng núi nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, có huyện lỵ cách thành phố Lạng Sơn 45km. Huyện có vị trí từ vĩ tuyến 21 044 đến 220 vĩ Bắc và 106024 đến 106043 kinh Đông.
Phía Bắc giáp huyện Văn Lãng và huyện Bình Gia, Phía Nam giáp huyện Chi Lăng và Hữu Lũng Phía Đông giáp thành phố Lạng Sơn và huyện Cao Lộc, Phía Tây giáp huyện Bắc Sơn và Bình Gia Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 55.066,97 ha, bao gồm 23 xã và 1 thị trấn [46]. Huyện Văn Quan nằm trên vị trí trung tâm của tỉnh, có hai quốc lộ lớn chạy qua. Đó là quốc lộ 1B chạy từ Đông sang Tây, nối liền với vùng kinh tế mở Đồng Đăng – Lạng Sơn và huyện Bình Gia, Bắc Sơn. Còn quốc lộ 279 từ Bắc xuống Nam là tuyến đường giao lưu với Đồng Mỏ - Chi Lăng, các tỉnh miền xuôi và vùng kinh tế cửa khẩu Na Sầm – Tân Thanh – Văn Lãng.
Với vị trí địa lý như vậy người dân nơi đây có điều kiện thuận lợi để giao lưu trao đổi hàng hóa, buôn bán với các nơi khác. Đồng thời cũng là vùng trọng tâm từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây thuận lợi cho các luồng giao lưu văn hóa giữa các vùng cũng như với khu vực phụ cận. * Địa hình và khí hậu Văn Quan là một huyện thuộc vùng giữa của Lạng Sơn, địa hình phức tạp, núi đất và núi đá vôi xen kẽ, có những thung lũng thuận lợi cho việc làm ruộng và nương rẫy. Huyện có độ cao 400m so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc.
Núi đá tập trung chủ yếu ở phía Tây của huyện. Địa hình vùng núi đá bị cắt xẻ vô định hình, dọc thung lũng và khe lạch cũng như những triền núi đất là đất lateritich hóa của núi trẻ được hình thành từ kỷ đệ tứ chủ yếu trên thềm đá 11 z bazan rất tốt cho trồng trọt và phát triển các loại cây lấy gỗ, cây công nghiệp dài ngày đặc biệt là hồi và cây ăn quả. Do vậy mà một trong những đặc sản của vùng chính là hồi, sản phẩm hồi Văn Quan có lượng tinh dầu lớn. Xen kẽ giữa các vùng núi đá và núi đất, một số đỉnh núi cao đã tạo cho địa hình Văn Quan thêm phong phú, đỉnh cao nhất ở Văn Quan là đỉnh Khau Ràng, cao 768m, tiếp đến là các đỉnh Khau Piêu, Khau Đăng, Khau Thán,… Với địa hình khá phức tạp như vậy việc đi lại của nhân dân trong vùng gặp khá nhiều khó khăn, thường phải vượt qua nhiều suối, lắm đèo như đèo Lũng Pha, Hin Lăn, Kéo Đeng,… Tuy nhiên hiện nay do kinh tế phát triển và nhà nước cũng có các chính sách hỗ trợ đồng bào miền núi thì điều kiện giao thông trong vùng cũng có nhiều chuyển biển.
* Hệ thống sông suối Sông suối ở Văn Quan là một bộ phận của sông Kỳ Cùng, sông này bắt nguồn từ Đình Lập – Lộc Bình qua thành phố Lạng Sơn vào địa phận Văn Quan và chảy qua năm xã: Đông Giáp, Khánh Khê, Văn An, Song Giang, Trấn Ninh và từ đó qua huyện Văn Lãng, Tràng định rồi đổ sang Trung Quốc. Chi lưu của sông Kỳ Cùng ở Văn Quan là sông Tu Đồn (hay còn gọi là Mỏ Phia hoặc Mỏ Pia). Sông Tu Đồn có hai nhánh chính, một nhánh bắt nguồn từ xã Tri Lễ, Lương Năng, Tú Xuyên và một phần của xã Hòa Bình; một nhánh bắt nguồn từ xã Yên Phúc, Bình Phúc rồi hợp lưu ở xã Đức Hinh chảy qua bản Lải, xã Vĩnh Lại, sông này gọi là sông Tà Lải hay sông Lải, rồi đổ vào sông Kỳ Cùng ở địa phận xã Song Giang. Ngoài ra còn có hệ thống khe suối ở khắp các xã….
Mật độ sông suối ở Văn Quan là 0,6 – 1,2 km/km2. Lượng mưa trung bình năm là 1500mm, tháng 7 thường có lượng mưa cao nhất 280mm và tháng 12 có lượng mưa thấp nhất 24mm. Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 và chiếm tới 8% lượng mưa cả năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 6,7,8.
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, với lượng mưa khoảng 20% lượng mưa cả năm. Do mưa ít và lại chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên Văn Quan thường có sương muối vào tháng 12 z 12 và tháng giêng. Độ ẩm tương đối bình quân năm là 82,5%, cao nhất vào tháng 8 là 86% và thấp nhất là vào tháng 11 khoảng 77%. * Khí hậu Về mặt điều kiện khí hậu huyện Văn Quan nói riêng cũng như Lạng Sơn nói chung đều chịu ảnh hưởng của khí hậu miền Bắc nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều.
Nhiệt độ không khí trung bình năm là 21,20C, tháng 6 thường có nhiệt độ cao nhất (trung bình là 28,40C) và tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 150C. Điều kiện vị trí địa lý và địa hình khí hậu của Văn Quan tương đối tiêu biểu cho khí hậu khu vực miền núi phía Bắc. Địa hình gồm nhiều dạng phức tạp từ đồi núi, thung lũng xen kẽ các núi đá, hệ thống sông và các khe suối chảy từ trên núi thuận lợi cho việc canh tác nương rẫy và ruộng chờ mưa của khu vực này. Về mặt khí hậu nhìn chung tương đối thuận lợi, không lạnh quá vào mùa đông như các khu vực khác của Lạng Sơn và không nóng quá vào mùa hè (do có độ cao vừa phải).
Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho sự sinh sống cũng như canh tác, phát triển kinh tế của cư dân trong vùng. Và một trong những loại cây lâm sản nổi tiếng được trồng trên mảnh đất này chính là hồi Lạng Sơn. b, Kinh tế - xã hội * Dân số Văn Quan là địa bàn sinh sống lâu đời của đồng bào Tày, Nùng, Kinh,… Trong đó tộc người chủ đạo là người Tày. Năm 2009, dân số của huyện Văn Quan là 54.141 người, trong đó nhân khẩu nông nghiệp có 48.953 người, chiếm 90,4% dân số, còn lại là nhân khẩu phi nông nghiệp.
Điều đó chứng tỏ số lượng cư dân làm nông nghiệp ở Văn Quan còn rất đông, kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn và trình độ dân trí còn kém phát triển. Dù có nhiều tộc người cùng định cư nhưng các tộc người trên địa bàn huyện sinh sống với nhau hòa bình. Họ sống xen kẽ hoặc trong các bản độc lập cạnh nhau nhưng giữa họ vẫn có sự giao lưu với nhau cả về mặt kinh tế, kỹ thuật cũng như đời sống tinh thần và các sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt là trong chế độ hôn nhân. Cư 13 z dân trong vùng thực hiện chế độ hôn nhân ngoại tộc và cho phép những người không cùng tộc người có thể kết hôn với nhau.
Đây cũng là một điều kiện thuận lợi để trao đổi văn hóa giữa các tộc người, đồng thời chế độ hôn nhân này cũng làm giảm sự kỳ thị tộc người trong cùng cộng đồng. Do đặc điểm tự nhiên của huyện khá phức tạp, chia cắt nhiều nên đặc điểm dân cư thường có quy mô nhỏ (làng, bản), mật độ dân cư thấp. Dân cư tập chung chủ yếu theo các trục đường giao thông, thị trấn, thị tứ,… ngoài ra trong các bản xa xôi, dân cư tập trung tụ cư ở các cánh đồng để tiện cho việc sản xuất nông nghiệp. Về mặt lao động xã hội trong các ngành kinh tế Văn Quan có tổng hơn 32.106 lao động (2009) chiếm gần 59,3% tổng số nhân khẩu trong huyện.
Lao động có việc làm là 29.837 người, trong đó có tới 87,47% lao động được phân bố trong các ngành nông - lâm nghiệp. Lao động trong huyện chủ yếu là lao động theo mùa vụ, lao động sau mùa vụ hiện vẫn chưa được bố trí một cách hợp lý do điều kiện kinh tế trong huyện còn kém phát triển, chưa có sự đa dạng về loại hình ngành nghề.29] Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực Văn Quan còn thấp, số lao động qua đào tạo còn rất hạn chế, tỷ lệ lao động có trình độ Đại học, cao đẳng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số lao động. Đây là một cản trở không nhỏ cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật trong sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội. * Kinh tế Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên và điều kiện sản xuất khác nhau huyện phân ra thành ba tiểu vùng kinh tế chính.
Đặc điểm kinh tế của Văn Quan là nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc, chậm phát triển. Nguồn sống chính của cư dân trong huyện vẫn là nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, một phần lúa nương và các loại ngô, sắn, đậu tương. Thế mạnh lớn nhất của Văn Quan chính là cây hồi, đây là nguồn thu chính của nền kinh tế Văn Quan. Sản lượng hồi khô hàng năm khoảng vài trăm tấn, hoa hồi Văn Quan có lượng tinh dầu lớn.
Từ hàng trăm năm nay hồi đã được các gia đình đặc biệt chú trọng phát triển. Theo thống kê năm 2005, diện tích hồi trên toàn 14 z huyện là 8.396ha, sản lượng tươi đạt 4.758 tạ, đến năm 2009, diện tích hồi là 8.819ha, sản lượng tươi đạt 5. 12] Tính từ năm 2001 – 2010, nền kinh tế của Văn Quan có nhiều bước phát triển nhanh và mạnh. Với những thuận lợi về vị trí địa lý lại nằm trên con đường giao lưu buôn bán gần khu vực cửa khẩu nên kinh tế cũng có nhiều điều kiện để phát triển.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) huyện Văn Quan thời kỳ 2001-2010 có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 10,51%. GDP bình quân đầu người (giá thực tế) năm 2000 đạt 3,09 triệu đồng/người/năm; năm 2005 là 5,18 triệu đồng/người/năm; năm 2010 là 8,04 triệu đồng/người/năm. 12] Cơ cấu kinh tế của huyện cũng có những chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Tỷ trọng các ngành Nông - lâm - ngư nghiệp có xu hướng giảm, ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ có dấu hiệu tăng.
* Y tế và giáo dục Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân được quan tâm và có nhiều bước tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh từng bước được cải thiện, cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh được đầu tư.