MỞ ĐẦU. 18 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT TỈNH. PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT TỈNH. Khái niệm và các đặc trưng của ngành nông nghiệp.
Nội dung của phát triển nông nghiệp. Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển nông nghiệp. Nguồn vốn và các lĩnh vực đầu tư trong nông nghiệp. MÔI TRƢỜNG ĐẦU TƢ VÀ SỰ HẤP DẪN ĐỐI VỚI VỐN ĐẦU TƢ TRONG NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH.
Lý thuyết đầu tư và sự hấp dẫn đối với vốn đầu tư. Môi trường đầu tư trong nông nghiệp của một tỉnh. Ảnh hưởng của môi trường đầu tư đến sự hấp dẫn vốn đầu tư. NỘI DUNG CỦA THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT TỈNH.
Đặc điểm và sự cần thiết của thu hút vốn đầu tư để PTNN của một tỉnh. Các phương thức thu hút vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp. Đánh giá kết quả thu hút vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp. KINH NGHIỆM THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP.
Kinh nghiệm của các tỉnh trong thu hút vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp. Bài học rút ra đối với tỉnh Hải Dương. 64 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƢƠNG GIAI ĐOẠN 2007 - 2012. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ NHU CẦU VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƢƠNG GIAI ĐOẠN 2007 - 2012.
Vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp tỉnh Hải Dương. Một số đặc điểm cơ bản của ngành nông nghiệp tỉnh Hải Dương. Các nhu cầu về vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2007 - 2012. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC BIỆN PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÃ ĐƯỢC TỈNH HẢI DƯƠNG THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2007 – 2012.
Đặc điểm môi trường đầu tư trong nông nghiệp tỉnh Hải Dương và các yếu tố ảnh hưởng. Các biện pháp thu hút vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp đã được tỉnh Hải Dương triển khai trong giai đoạn 2007 - 2012. Tổng hợp ý kiến điều tra đánh giá tác động của các biện pháp thu hút vốn đầu tư đến cải thiện MTĐT và mức độ hấp dẫn đầu tư trong nông nghiệp của tỉnh. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong thu hút vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2007 - 2012.
KẾT QUẢ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƢƠNG GIAI ĐOẠN 2007 - 2012. Kết quả đầu tư vào ngành nông nghiệp của tỉnh Hải Dương. Đóng góp của vốn đầu tư đối với phát triển nông nghiệp của tỉnh Hải Dương. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƢƠNG.
Những thành công chủ yếu. Những hạn chế và nguyên nhân. 121 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƢƠNG. 121 TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƢƠNG ĐẾN NĂM 2020 VÀ CÁC NĂM TIẾP THEO. Định hướng và mục tiêu tiêu phát triển nông nghiệp của tỉnh Hải Dương. Quan điểm định hướng thu hút vốn đầu tư để PTNN tỉnh Hải Dương. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƢƠNG.
Hoàn thiện quy hoạch phát triển nông nghiệp của tỉnh. Hoàn thiện các chính sách cải thiện môi trường đầu tư và khuyến khích đầu tư trong nông nghiệp của tỉnh. Cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong nông nghiệp.
Thúc đẩy xúc tiến đầu tư vào ngành nông nghiệp của tỉnh. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN MÔI TRƢỜNG VÀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ CHO THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP. Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường pháp luật. Hoàn thiện các quy hoạch phát triển nông nghiệp và định hướng thu hút vốn đầu tư vào ngành nông nghiệp quốc gia.
Bổ sung và hoàn thiện chính sách quốc gia về đầu tư trong nông nghiệp. Một số kiến nghị khác. Tính cấp thiết của đề tài Ở nước ta, ngành nông nghiệp luôn giữ một vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Kinh tế nông nghiệp góp phần tạo ra sản lượng, việc làm, thu nhập, đóng góp vào ổn định xã hội và phát triển bền vững của quốc gia.
Vì thế, phát triển nông nghiệp (PTNN) có ý nghĩa to lớn đối với phát triển KT-XH của quốc gia. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao” [9, tr. Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 năm 2008 tiếp tục khẳng định: "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển KT-XH bền vững" [10, tr. Để phát triển một nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, có sức cạnh tranh cao, sẽ không thể chỉ dựa vào nguồn lao động dồi dào, đất đai phong phú hay các lợi thế tự nhiên mà còn cần phải có vốn đầu tư (VĐT).
Nhận thức được vấn đề này, trong những năm gần đây Nhà nước đã có chủ trương và ban hành các chính sách nhằm thu hút VĐT vào nông nghiệp. Cụ thể là: Nghị quyết 26/2008/NQ-TƯ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ PTNN, nông thôn; Nghị định 61/2010/NĐ-CP về chính sách khuyến khích đầu tư trong nông nghiệp; Chương trình phát triển nông thôn mới giúp cải thiện điều kiện về cơ sở hạ tầng (CSHT) nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số 80/2010/QĐ-TTg về phát triển thị trường nông sản; Quyết định số 63/2010/QĐ- TTg; 315/2010/QĐ-TTg; và Quyết định số 497/2009/QĐ-TTg… Các chủ trương chính sách này đã và đang được triển khai thực hiện, đồng thời được bổ sung hoàn thiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp (SXNN) và thu hút VĐT vào nông nghiệp. Tuy nhiên, mức đầu tư trong nông nghiệp của nước ta vẫn rất thấp. Năm 2011, tổng VĐT trực tiếp vào ngành nông nghiệp của cả nước chỉ chiếm 5,98% tổng VĐT toàn xã hội [50] và với mức đầu tư này chỉ đáp ứng được từ 50% đến 60% nhu cầu về vốn để phát triển ngành.
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, mặc dù Nhà nước đã chú trọng đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng nhu cầu thực tế rất lớn, vì vậy chưa phát huy hết tiềm năng trong nông nghiệp, nông thôn, chưa 2 tương xứng với tỷ lệ dân số Việt Nam gắn với nông nghiệp, nông thôn, chưa có chính sách, giải pháp hữu hiệu để huy động được nhiều nguồn lực đầu tư của doanh nghiệp và toàn xã hội cho khu vực này. Sở dĩ các chính sách đầu tư trong nông nghiệp của nước ta chưa phát huy hiệu quả là do các chính đầu tư trong nông nghiệp chưa đúng và chưa trúng [14]. Thực tế này chứng tỏ các biện pháp thu hút VĐT của Nhà nước chưa đạt được hiệu quả cao. Cần phải nhận thức được rằng, nông nghiệp là một ngành đặc thù, SXNN ngoài tính đặc thù chung của ngành còn có đặc thù riêng theo từng vùng, từng địa phương (tỉnh).
Vì thế, thu hút VĐT để PTNN không chỉ là các giải pháp ở cấp độ quốc gia mà còn đòi hỏi sự tích cực, chủ động của mỗi địa phương. Để thu hút VĐT hiệu quả thì mỗi địa phương ngoài việc triển khai tốt các chính sách chung của Nhà nước còn cần phải đưa ra những giải pháp, chính sách thu hút riêng của mình cho phù hợp với điều kiện thực tế. Nghĩa là, ở cấp độ vùng, địa phương cũng cần phải có các giải pháp cụ thể, đặc thù để thu hút VĐT vào ngành nông nghiệp. Nếu xét ở cấp độ địa phương cho thấy, trong khi đã có nhiều tỉnh thành công trong thu hút VĐT để phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ (như Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đà Nẵng…) thì phần lớn các tỉnh trong cả nước vẫn chưa thành công trong thu hút các nguồn VĐT vào nông nghiệp.
Điều này chứng tỏ rằng các giải pháp thu hút VĐT vào nông nghiệp của các tỉnh cũng chưa hiệu quả. Vậy nếu các giải pháp thu hút VĐT của tỉnh chưa hiệu quả thì có phải do chúng được xây dựng thiếu căn cứ khoa học và thiếu tính thực tiễn? Về lý luận, đã có những nghiên cứu về lý thuyết thu hút VĐT nói chung nhưng lý thuyết về thu hút VĐT để PTNN của một tỉnh thì chưa thấy có nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống. Vì vậy, cần thiết phải hoàn thiện một khung lý thuyết về thu hút VĐT để PTNN của một tỉnh trên cơ sở xem xét những đặc thù của ngành, vùng và địa phương. Về góc độ thực tiễn, cần phải nghiên cứu đánh giá thực trạng thu hút VĐT để PTNN của mỗi địa phương, qua đó tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế trong thu hút VĐT làm cơ sở để đưa ra các giải pháp thu hút VĐT hiệu quả ở cấp độ địa phương, vùng cũng như quốc gia.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm khu vực trọng điểm kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), là địa phương có tiềm năng PTNN mang tính đặc trưng của vùng. Thế nhưng SXNN của tỉnh vẫn chủ yếu là quy mô nhỏ, phân tán, việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp chưa gắn với thị trường, kỹ thuật sản xuất lạc hậu, năng suất lao động trong khu vực nông nghiệp thấp, chỉ bằng 38% so với năng suất 3 trung bình của lao động trong tỉnh [37]. Trong những năm qua, cùng với việc triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước về thu hút VĐT cho nông nghiệp nói chung, tỉnh Hải Dương cũng đã ban hành và thực thi các biện pháp thu hút VĐT riêng của tỉnh vào nông nghiệp.