Nghiên cứu thành phần loài mối và biện pháp phòng trừ tại di tích cố đô Huế

Luận văn thạc sĩ phân tích hus nghiên cứu thành phần loài mối insecta isoptera và đề xuất biện pháp phòng trừ loài gây hại, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu mối trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình và đặc điểm tự nhiên khu di tích Cố đô Huế

2.1.1.1. Vị trí địa lý
2.1.1.2. Đặc điểm địa hình
2.1.1.3. Tiềm năng du lịch

2.2. Thời gian nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp khảo sát, điều tra, thu thập, xử lý và bảo quản mẫu vật

2.4.2. Phương pháp phân tích, định loại mẫu vật

2.4.3. Phương pháp đánh giá mức độ gây hại của mối và xác định loài gây hại chính

2.4.4. Một số phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của mối Coptotermes

2.4.5. Phương pháp nghiên cứu cấu trúc tổ mối Coptotermes

2.4.6. Phương pháp xác định tỉ lệ đẳng cấp quần tộc mối Coptotermes kiếm thức ăn

2.4.7. Phương pháp nghiên cứu quá trình lan truyền thức ăn trong quần tộc mối Coptotermes

2.4.8. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm thành phần loài và phân bố của mối trong khu di tích Cố đô Huế

3.1.1. Thành phần loài mối trong khu di tích Cố đô Huế

3.1.2. Đặc điểm phân bố của mối trong khu di tích Cố đô Huế

3.1.2.1. Đặc điểm phân bố của mối theo điểm nghiên cứu
3.1.2.2. Đặc điểm phân bố của mối theo sinh cảnh

3.2. Xác định loài mối gây hại chính cho khu di tích Cố đô Huế

3.3. Đặc điểm sinh học, sinh thái học loài Coptotermes gestroi

3.3.1. Đặc điểm hình thái của Coptotermes gestroi

3.3.2. Đặc điểm bay phân đàn của Coptotermes gestroi

3.3.3. Cấu trúc tổ của loài mối Coptotermes gestroi

3.3.4. Tỉ lệ đẳng cấp trong quần tộc Coptotermes gestroi kiếm ăn

3.3.5. Quá trình lan truyền thức ăn trong quần tộc Coptotermes gestroi

3.4. Đề xuất biện pháp phòng trừ mối cho các công trình di tích trong khu di tích Cố đô Huế

3.4.1. Cơ sở khoa học của biện pháp đề xuất

3.4.2. Xu hướng phòng trừ mối cho công trình kiến trúc ở Việt Nam và Thế giới

3.4.3. Các biện pháp phòng trừ mối Coptotermes đã áp dụng cho các công trình di tích thuộc khu di tích Cố đô Huế

3.4.4. Những ưu, nhược điểm của các biện pháp phòng trừ mối cho các công trình di tích thuộc khu di tích Cố đô Huế

3.4.5. Biện pháp đề xuất phòng trừ mối Coptotermes gestroi cho các công trình di tích trong khu di tích Cố đô Huế

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu loài mối tại di tích cố đô Huế

Nghiên cứu về loài mối tại di tích cố đô Huế là một lĩnh vực quan trọng nhằm bảo tồn các di sản văn hóa. Mối là một trong những loài côn trùng gây hại chính cho các công trình kiến trúc, đặc biệt là những công trình có cấu trúc bằng gỗ. Việc hiểu rõ về thành phần loài mối và tác hại của chúng sẽ giúp đưa ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng khu di tích cố đô Huế có sự đa dạng về loài mối, trong đó loài Coptotermes gestroi là loài gây hại chính.

1.1. Tình hình nghiên cứu loài mối trên thế giới

Nghiên cứu về loài mối đã được thực hiện từ lâu trên toàn thế giới. Các công trình nghiên cứu đầu tiên tập trung vào phân loại học và sinh học của mối. Các tác giả như Hagen, Holmgren và Snyder đã đóng góp nhiều vào việc xác định các loài mối và phân loại chúng. Hiện nay, có khoảng 2.858 loài mối được phát hiện, trong đó nhiều loài có ý nghĩa kinh tế lớn.

1.2. Tình hình nghiên cứu loài mối ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về loài mối chủ yếu tập trung vào các khu vực tự nhiên và các công trình kiến trúc. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mối gây hại cho nhiều loại công trình, từ nhà ở đến di tích lịch sử. Tuy nhiên, thông tin về thành phần loài mối tại các khu di tích lịch sử như cố đô Huế vẫn còn hạn chế.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phòng trừ mối tại di tích cố đô Huế

Mối gây hại cho các công trình kiến trúc tại di tích cố đô Huế, dẫn đến nhiều thách thức trong việc bảo tồn. Các công trình này thường được xây dựng bằng gỗ và các vật liệu có nguồn gốc xenlulose, tạo điều kiện thuận lợi cho mối phát triển. Việc xác định loài mối gây hại chính và mức độ gây hại của chúng là rất cần thiết để đưa ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

2.1. Tác hại của mối đối với di tích lịch sử

Mối có khả năng phá hủy các cấu kiện gỗ trong các công trình di tích, gây thiệt hại lớn về kinh tế và văn hóa. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng loài Coptotermes gestroi là loài gây hại chính, với khả năng tấn công mạnh mẽ vào các cấu trúc gỗ.

2.2. Những thách thức trong việc kiểm soát mối

Việc kiểm soát mối tại di tích cố đô Huế gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng về loài và môi trường sống của chúng. Các biện pháp phòng trừ hiện tại chưa đủ hiệu quả và cần được cải tiến để phù hợp với điều kiện cụ thể của khu di tích.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp phòng trừ mối hiệu quả

Để nghiên cứu và phòng trừ mối tại di tích cố đô Huế, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc khảo sát, điều tra thành phần loài mối và đánh giá mức độ gây hại là rất quan trọng. Các biện pháp phòng trừ cần được đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn.

3.1. Phương pháp khảo sát và điều tra loài mối

Khảo sát và điều tra loài mối được thực hiện thông qua việc thu thập mẫu và phân tích thành phần loài. Các phương pháp này giúp xác định loài mối gây hại chính và mức độ gây hại của chúng đối với các công trình di tích.

3.2. Đề xuất biện pháp phòng trừ mối hiệu quả

Các biện pháp phòng trừ mối cần được áp dụng đồng bộ, bao gồm việc sử dụng hóa chất, bả độc và các phương pháp sinh học. Việc kết hợp các biện pháp này sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng trừ mối tại di tích cố đô Huế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về loài mối

Kết quả nghiên cứu về loài mối tại di tích cố đô Huế đã chỉ ra rằng việc kiểm soát mối là cần thiết để bảo tồn các di sản văn hóa. Các biện pháp phòng trừ đã được áp dụng và cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm thiểu thiệt hại do mối gây ra. Việc theo dõi và đánh giá thường xuyên là cần thiết để đảm bảo hiệu quả lâu dài.

4.1. Kết quả điều tra thành phần loài mối

Kết quả điều tra cho thấy có nhiều loài mối khác nhau tại khu di tích cố đô Huế, trong đó loài Coptotermes gestroi chiếm ưu thế. Việc xác định thành phần loài giúp đưa ra các biện pháp phòng trừ phù hợp.

4.2. Ứng dụng các biện pháp phòng trừ mối

Các biện pháp phòng trừ mối đã được áp dụng tại các công trình di tích và cho thấy hiệu quả trong việc giảm thiểu thiệt hại. Việc sử dụng hóa chất và bả độc đã giúp kiểm soát số lượng mối gây hại.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về loài mối tại di tích cố đô Huế

Nghiên cứu về loài mối tại di tích cố đô Huế là một lĩnh vực quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kiểm soát mối là cần thiết để bảo vệ các công trình kiến trúc. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được phát triển để tìm ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả hơn.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu loài mối

Nghiên cứu loài mối không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững các công trình kiến trúc. Việc hiểu rõ về loài mối và tác hại của chúng là rất cần thiết.

5.2. Hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu về loài mối và các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Việc áp dụng công nghệ mới và các phương pháp sinh học sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc kiểm soát mối.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu thành phần loài mối insecta isoptera và đề xuất biện pháp phòng trừ loài gây hại chính cho di tích cố đô huế tỉnh thừa thiên huế 03

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Mối là côn trùng xã hội, có sự phân hóa hình thái và chức năng giữa các nhóm cá thể trong quần tộc. Trong một quần tộc mối có các đẳng cấp khác nhau: mối vua, mối chúa, mối cánh, mối thợ, mối lính, mối non … Với khả năng phân giải các sản phẩm có nguồn gốc từ xenlulose và là nguồn thức ăn cho động vật hoang dã nên mối có vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái tự nhiên. Với con người, mối được xếp vào nhóm côn trùng gây hại. Do thức ăn của mối là các vật liệu có nguồn gốc xenlulose nên đối tượng gây hại của mối là các công trình kiến trúc (nhà cửa, kho tàng, di tích lịch sử, văn hóa v.); các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện (đê, đập đất); các loại cây trồng (cây nông nghiệp, cây công nghiệp, cây cổ thụ, cây xanh đường phố)….

Mỗi đối tượng có một loài hay một nhóm loài gây hại chính. Ví dụ: giống mối Coptotermes gây hại chủ yếu cho công trình kiến trúc, giống mối Odontotermes gây hại trên các công trình thủy lợi hoặc cây trồng. Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các nghiên cứu về mối tập trung chủ yếu theo hai hướng chính: điều tra đa dạng sinh học của mối và nghiên cứu các giải pháp phòng trừ các loài mối gây hại trên các đối tượng cụ thể. Đã có nhiều nghiên cứu về điều tra đa dạng sinh học mối được tiến hành như: Nguyễn Đức Khảm (1976) [10], Lê Trọng Sơn (1996) [23], Nguyễn Tân Vương (1997) [40], Nguyễn Văn Quảng (2003) [18], Ngô Trường Sơn (2009) [28], Nguyễn Quốc Huy (2010) [8], v.

Các nghiên cứu thường tập trung vào môi trường tự nhiên như vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Những dẫn liệu về thành phần loài mối vùng đồng bằng, thành phố đặc biệt là tại các khu di tích lịch sử, văn hóa còn ít và tản mạn. Theo hướng nghiên cứu giải 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp phòng trừ mối trên các đối tượng ở Việt Nam có thể kể đến những công trình của Trịnh Văn Hạnh (2002, 2005, 2008, 2011) [3, 4, 5, 6], Ngô Trường Sơn (2009) [28], Nguyễn Quốc Huy (2010) [8], Nguyễn Tân Vương (2005, 2008, 2010) [41, 42, 43] v. Trong đó, biện pháp lây nhiễm sử dụng bả độc được áp dụng có hiệu quả cao đối với giống mối Coptotermes gây hại công trình kiến trúc.

Khu di tích Cố đô Huế bao gồm một quần thể các di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Phần lớn các di tích thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Hiện tại, Cố đô Huế đã được Thủ tướng Chính phủ đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích Quốc gia đặc biệt. Quần thể di tích Cố đô Huế được phân chia thành các cụm công trình bao gồm các cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và các cụm công trình trong Kinh thành Huế.

Trong Kinh thành Huế bao gồm Đại Nội và Thành Nội. Các di tích trong khu di tích Cố đô Huế được cấu thành từ rất nhiều cấu kiện bằng gỗ và các vật liệu có nguồn gốc xenlulose nên thường xuyên bị mối xâm nhập gây hại. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần loài mối trong khu di tích Cố đô Huế. Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn nhiều hạn chế như chưa điều tra đầy đủ thành phần loài trong các công trình thuộc khu di tích Cố đô Huế, chưa xác định được loài gây hại chính cũng như chưa đánh giá được mức độ gây hại của chúng đối với các công trình trong khu di tích Cố đô Huế… 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với nhận thức đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài mối (Insecta: Isoptera) và đề xuất biện pháp phòng trừ loài gây hại chính cho di tích Cố đô Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” với nội dung chủ yếu điều tra, khảo sát thành phần loài mối tại khu di tích Cố đô Huế, xác định các loài mối gây hại chính và lựa chọn biện pháp phù hợp, có hiệu quả để phòng trừ các loài mối gây hại chính cho khu di tích Cố đô Huế.

Vì điều kiện thời gian và khả năng hạn chế nên chắc chắn luận văn còn nhiều điểm khiếm khuyết, rất mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu mối trên thế giới Công trình nghiên cứu của Hagen (1858) được coi là công trình đầu tiên có tính hệ thống học về mối trên thế giới. Kể từ đó bắt đầu thời kỳ phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu về phân loại học hình thái mối.

Holmgren (1912, 1913) đã nghiên cứu phân loại và một phần sinh học mối khu hệ Ấn Độ. Müller (1915, 1921) mô tả một số giống mối, trong đó tập trung chủ yếu về các loài thuộc giống Anoplotermes. Oshima (1919) đã nghiên cứu khu hệ mối Đài Loan và Philippin. John (1913, 1925) đã tiến hành nghiên cứu phân loại và sinh học mối ở Ceylon, Malaysia và Indonesia.

Muộn hơn có Light và Wilson với các nghiên cứu về mối ở Trung Quốc và Philippin (Light, 1929, 1931, 1934 và Light et al. Kalshoven đã đầu tư một thời gian khá dài cho việc điều tra và nghiên cứu mối ở Java, các công bố của ông được đăng tải trong những năm 1930, 1941, 1950, 1952 đến 1960 (dẫn theo Nguyễn Quốc Huy, 2010) [8]. Giai đoạn nửa sau của thế kỷ 20 đến nay, các công trình nghiên cứu hệ thống học về mối đã phát triển khá mạnh mẽ dựa trên các công trình cơ bản của Snyder, Holmgren và Emerson. Năm 1949, Snyder liệt kê tổng cộng 1.745 loài mối trên toàn thế giới và đã cho xuất bản cuốn “Danh lục về mối trên thế giới”, trong đó ông lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ (Mastotermitidae, Kalotermitidae, Hodotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae) với 130 giống, bao gồm cả những loài hoá thạch [78].

Constantinho (2007), tổng hợp lại và công bố tổng 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com số loài mối được phát hiện trên toàn thế giới là 2.858 loài, thuộc 286 giống [57].000 loài mối được phát hiện thì các loài mối thuộc giống Coptotermes trong phân họ Coptotermitinae và các giống Macrotermes, Odontotermes và Hypotermes trong phân họ Macrotermitinae là các taxon quan trọng, có ý nghĩa kinh tế lớn trong đời sống. Các danh mục thành phần loài của bộ Cánh đều hoặc của một họ mối cho từng khu vực cũng lần lượt được công bố, phần lớn các công trình này đều kèm theo khoá định loại riêng và mô tả cho từng loài. Tuy nhiên, đến 2004, Yupaporn Sornnuwat đã tổng hợp các nghiên cứu về thành phần loài mối ở Thái Lan và công bố có 199 loài [83]. Krishna (1965) [64] công bố thành phần loài mối tại Burma gồm 103 loài.

Sen-Sarma (1974) [77] đã mô tả và ghi chú về phân bố địa lý của 20 loài mối ở Pradesh, Ấn Độ. Thapa (1981) [82] đã tiến hành nghiên cứu mối ở Malaysia. Những nghiên cứu mối ở khu vực Đông Phương về sau tập trung vào các vấn đề phân loại học, địa động vật học cũng như vai trò đối với kinh tế của từng họ hoặc phân họ, cụ thể như Thakur (1979, 1980) [80, 81] , tiến hành nghiên cứu về mối gây hại cho cây rừng và các vườn ươm ở Ấn Độ. Những nghiên cứu về phân loại cũng được tiến hành ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu.

Gần đây nhất, Huang Fu Sheng và cs. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu về phân loại mối chủ yếu dựa trên những đặc điểm về hình thái ngoài của mối lính và mối cánh. Tuy nhiên, mối thợ cũng đã được nghiên cứu sử dụng trong phân loại như ở trong công trình nghiên cứu của Ahmad (1950) [46]. Trong nghiên cứu này ông đã sử dụng đặc điểm hàm trên của mối thợ làm đặc điểm chẩn loại, theo ông đây là một đặc điểm khá tốt khi sử dụng phân loại đến giống.

Quy cách chuẩn đo các chỉ số hình thái ngoài của mối để phục vụ công tác mô tả và định loại đã được Roonwal (1969) [70] đưa ra. Cho đến nay, phương pháp định loại mối đựa trên các đặc điểm hình thái ngoài vẫn là phương pháp phổ biến. Một số nghiên cứu về sự biến đổi hình thái của mối đã được thực hiện bởi Akhtar (1974) [50], Chootani và Das (1979) [55], Akhtar và Ahmad (1991) [51] v.v dựa trên những nghiên cứu về vị trí và góc của răng hàm trên bên trái mối lính và hình dạng của đầu như chỉ số giữa chiều rộng nhất của đầu và chiều rộng đầu ở gốc hàm (ở mối lính), số đo của chiều dài và rộng của môi trên (ở mối cánh). Một công trình tiêu biểu khác về phân loại học mối phải kể đến là của Manzoor Farkhanda (2002).

Tác giả đã nghiên cứu về sự biến đổi hình thái giữa 52 loài mối thuộc giống Odontotermes từ những nước như Bangladesh, Burma, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan…. Tác giả đã lựa chọn đo đạc và thống kê 10 thông số hình thái của 52 loài mối này [66]. Sự biến thiên về kích thước của mỗi loài đã được tác giả mô tả khá rõ. Tuy nhiên, có những loài mối có tập tính sinh học khác nhau nhưng hình thái rất giống nhau, như các loài thuộc giống Coptotermes.

Các đặc điểm này là nguyên nhân gây khó khăn và nhầm lẫn cho công tác phân loại dựa vào hình thái. Do đó cần phải có các phương pháp chính xác để bổ trợ. Sands (1998) [75] đã sử dụng các đặc điểm hình thái của ruột như cấu tạo của van 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ruột sau, cấu tạo của hệ thống ống Malpighi để phân loại đến giống và lập cây chủng loại phát sinh của chúng. Tài liệu này là công cụ hữu ích để giải quyết một số trường hợp các mẫu phân loại có đặc điểm hình thái ngoài phân biệt không rõ ràng.

Belyaeva (2006) [53] sử dụng hình thái cấu tạo cơ quan sinh dục ngoài của mối cái để phân biệt các loài thuộc họ Kalotermitidae, Hodotermitidae và Termitidae. Schefffrahn và Nan-Yao Su (2011) [76] đưa ra một số đặc điểm hình thái đặc trưng của mối lính và mối cánh để phân biệt 2 loài mối Coptotermes formosanus và Coptotermes gestroi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu loài mối và biện pháp phòng trừ tại di tích cố đô Huế" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự ảnh hưởng của loài mối đối với các di tích lịch sử tại Huế, một trong những di sản văn hóa quan trọng của Việt Nam. Nghiên cứu không chỉ phân tích các loại mối phổ biến mà còn đề xuất các biện pháp hiệu quả để phòng trừ, bảo vệ các công trình kiến trúc cổ. Điều này không chỉ giúp bảo tồn giá trị văn hóa mà còn nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ di sản.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến di sản văn hóa, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghệ thuật sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí quần thể di tích cố đô Huế, nơi khám phá các phương pháp trang trí truyền thống tại di tích này. Ngoài ra, tài liệu Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng Nghệ An (2006-2015) cũng cung cấp những chiến lược bảo tồn di sản văn hóa có thể áp dụng cho các di tích khác. Cuối cùng, tài liệu Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tại TP.HCM (1998-2014) sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Việt Nam.