Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số: 62 31 03 01) với đề tài "Lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội: Điều kiện làm việc và các yếu tố ảnh hưởng" được nghiên cứu sinh Lê Văn Sơn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Bá Thịnh, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giúp việc gia đình (GVGĐ) là một dạng lao động dịch vụ có lịch sử lâu đời và ngày càng gia tăng về quy mô do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và phân công lao động xã hội. Theo số liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2015), toàn cầu có khoảng 67 triệu lao động giúp việc gia đình (LĐGVGĐ), tăng 19 triệu người so với giai đoạn giữa thập niên 1990 đến năm 2010. Mặc dù chiếm tỷ trọng đáng kể trong lực lượng lao động tại nhiều quốc gia, nhóm lao động này thường bị xếp vào khu vực phi chính thức và chưa được bảo đảm quyền lợi bình đẳng (GFCD, 2018).

Tại Việt Nam, công việc GVGĐ được đề cập trong Bộ luật Lao động năm 1994, Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề này chưa được ban hành; người lao động chủ yếu làm việc dựa vào kinh nghiệm tự tích lũy mà chưa qua đào tạo chính quy. Môi trường làm việc của LĐGVGĐ mang tính chất khép kín trong không gian gia đình của người thuê mướn, khiến nơi làm việc đồng thời là nơi sinh hoạt, nghỉ ngơi. Các khảo sát trước đây ghi nhận LĐGVGĐ đối mặt với nhiều rủi ro: phần lớn không có hợp đồng lao động (HĐLĐ) bằng văn bản, không tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), thời gian làm việc kéo dài và dễ chịu tổn thương về thể chất, tâm lý. Theo báo cáo của ILO (2011), trong số các LĐGVGĐ được khảo sát tại Việt Nam, có 20,2% từng bị mắng chửi; 2,4% bị đánh đập/xô ngã; 0,8% bị đe dọa hoặc đập phá đồ dùng cá nhân; 7,8% bị giữ giấy tờ tùy thân; 4% bị cấm tiếp xúc bên ngoài; 1,8% bị giữ lương; 2% không được cho về thăm nhà và 16% đối mặt nguy cơ bị lạm dụng tình dục.

Về phía người sử dụng lao động, các hộ gia đình cũng gặp rủi ro như người giúp việc nghỉ việc đột xuất không báo trước, thiếu hụt kỹ năng xử lý việc nhà hoặc các vấn đề liên quan đến an toàn tài sản. Quan hệ lao động chủ yếu dựa trên sự giới thiệu từ mạng lưới thân quen và thỏa thuận miệng. Bối cảnh đại dịch COVID-19 (theo báo cáo đầu năm 2021 của ILO) cho thấy hơn 55 triệu LĐGVGĐ trên thế giới (trong đó có 37 triệu lao động nữ) chịu ảnh hưởng nặng nề bởi mất việc và giảm thu nhập, đặc biệt khu vực Đông Nam Á có tới 76% LĐGVGĐ bị ảnh hưởng.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: các công trình trong nước trước đây chủ yếu tập trung mô tả chân dung nhân khẩu - xã hội hoặc tiếp cận nhóm đối tượng chuyên biệt như trẻ em làm GVGĐ; thiếu vắng các nghiên cứu định lượng phân tích sâu về thực trạng điều kiện làm việc cũng như các mô hình lượng hóa các yếu tố tác động trực tiếp đến điều kiện làm việc của LĐGVGĐ tại các đô thị lớn như Hà Nội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ thực trạng điều kiện làm việc và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của người LĐGVGĐ tại thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các khuyến nghị chính sách an sinh xã hội và giải pháp quản lý nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hộ gia đình thuê mướn.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 5 nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến LĐGVGĐ.
  2. Tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu – xã hội của người LĐGVGĐ tại thành phố Hà Nội.
  3. Phân tích và đánh giá thực trạng điều kiện làm việc của LĐGVGĐ tại thành phố Hà Nội.
  4. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của LĐGVGĐ tại địa bàn nghiên cứu.
  5. Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho LĐGVGĐ và bảo vệ quyền lợi cho gia đình thuê LĐGVGĐ.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Chân dung xã hội của người lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội hiện nay có diện mạo như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Người lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội hiện nay đang làm việc trong điều kiện như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Có những yếu tố nào ảnh hưởng tới điều kiện làm việc của người lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội hiện nay?

Tương ứng với 3 câu hỏi là 3 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Chân dung xã hội của người LĐGVGĐ tại thành phố Hà Nội mang đặc trưng về giới và xã hội. Đa phần người giúp việc gia đình là phụ nữ, có trình độ học vấn thấp, xuất thân từ các vùng nông thôn; lý do đi làm chủ yếu nhằm gia tăng thu nhập cho bản thân và gia đình.
  • Giả thuyết 2: Người LĐGVGĐ tại thành phố Hà Nội đang làm việc trong điều kiện chưa được bảo đảm đầy đủ; nơi làm việc đồng thời là nơi nghỉ ngơi. Một số điều kiện đã được đáp ứng tương đối như tiền lương và bảo hiểm y tế, song các khía cạnh về hợp đồng lao động và thời gian nghỉ ngơi vẫn còn nhiều hạn chế.
  • Giả thuyết 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của LĐGVGĐ bao gồm: đặc điểm nhân khẩu – xã hội; mức độ hiểu biết quy định pháp luật về GVGĐ; định hướng nghề nghiệp; mối quan hệ giữa người lao động và gia chủ; số lượng và loại hình công việc thực tế thực hiện.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Điều kiện làm việc và các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của người lao động giúp việc gia đình.
  • Khách thể nghiên cứu: Gồm hai nhóm: (1) Người LĐGVGĐ làm việc toàn thời gian (sống cùng hoặc không sống cùng gia chủ); (2) Người thuê LĐGVGĐ (đại diện các hộ gia đình thuê mướn toàn thời gian).
  • Phạm vi không gian: Thu thập dữ liệu thực nghiệm tại 03 quận thuộc thành phố Hà Nội: Cầu Giấy, Thanh Xuân và Hai Bà Trưng.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai từ đầu năm 2019 đến cuối năm 2020; trong đó giai đoạn điều tra thu thập thông tin thực địa diễn ra từ tháng 01/2020 đến tháng 04/2020. Dữ liệu tổng quan tài liệu rà soát trong khoảng 20 năm trở lại đây.
  • Giới hạn nội dung: Luận án không khảo sát nhóm lao động giúp việc theo giờ và không xem xét những người làm công việc gia đình có gắn liền với hoạt động kinh doanh, thương mại của hộ gia đình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba hướng tiếp cận chính:

                                  TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội     Điều kiện làm việc của LĐGVGĐ     Các yếu tố tác động đến LĐGVGĐ
  • Parrenas (2001)               • ILO (2003, 2010, 2013)          • Philip N. Cohen (1993)
  • Hye-kyung Lee (2010)          • Suguna Papachan (2009)          • Viện Dân số & XH Mahidol (2007)
  • Hong-zen Wang et al. (2007)   • V. Boontinand (2010)            • Mai Huy Bích (2004)
  • Wessels (2006); Cheng (2004)  • Elsabe Huysamen (2011)          • Lê Việt Nga (2006)
  • Simonovsky & Luebker (2011)   • Nagel (2003); Arat-Koc          • Viện KH Dân số, GĐ & TE (2005)
  • Tổng cục Thống kê (2019)      • Đặng Bích Thủy (2001)           • Cứu trợ Trẻ em Thụy Điển (2004)
  • Nguyễn Thị Vân Anh (2000)     • Đào Bích Hà (2009)              • GFCD (2013a, 2013b)
  • Chu Mạnh Hùng (2005)          • GFCD (2013b, 2014)              • Chu Mạnh Hùng (2005)
  • Ngô Thị Ngọc Anh (2010)
  • GFCD (2013, 2018)

1. Các nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu – xã hội của LĐGVGĐ

Trên phạm vi quốc tế, Parrenas (2001) phân tích dòng di cư của hơn 2,2 triệu LĐGVGĐ Philippines làm việc tại hơn 100 quốc gia, đóng góp từ 14 đến 16 tỷ USD kiều hối hàng năm, với đặc trưng trình độ học vấn phổ thông, có đào tạo nghề và thông thạo tiếng Anh. Nghiên cứu của Hye-kyung Lee (dẫn qua Ngô Thị Ngọc Anh, 2010) chỉ ra sự dịch chuyển của luồng di cư phụ nữ châu Á sang Singapore, Đài Loan (nữ chiếm 60%), Nhật Bản và Hàn Quốc (nữ chiếm 45%). Tại Đài Loan, Hong-zen Wang, Meiyao Wu và Daniele Belanger (2007) ghi nhận có 357.937 lao động di cư, trong đó người Việt Nam chiếm 19%, chủ yếu làm việc nhà và chăm sóc người cao tuổi.

Shu-Ju Ada Cheng (2004) và Tersia S. Wessels (2006) chỉ rõ định kiến xã hội coi GVGĐ là công việc có vị thế thấp, thường do phụ nữ nghèo, cư dân nông thôn có học vấn hạn chế đảm nhận. Simonovsky và Y. Luebker (2011) thống kê tỷ trọng LĐGVGĐ trong cơ cấu ngành nghề: Châu Mỹ Latinh và Caribe chiếm 92%, Châu Á 82%, Châu Phi 73%, Trung Đông 64%.

Tại Việt Nam, số liệu Tổng cục Thống kê quý 1 năm 2019 ghi nhận 222.400 lao động làm thuê các công việc trong hộ gia đình, trong đó nữ giới chiếm 92,8% (206.500 người). Khảo sát của GFCD (2013) cho thấy 98,7% LĐGVGĐ là nữ, độ tuổi trung bình 44,8 tuổi (nhóm 36–65 tuổi chiếm 61,5%), tỷ lệ có học vấn tiểu học hoặc không biết chữ dao động từ 22,0% đến 31,8%, và 98% chưa từng qua đào tạo nghề. Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh (2000), Chu Mạnh Hùng (2005), Ngô Thị Ngọc Anh (2010), cùng báo cáo liên tịch của ILO, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (2011) đều chỉ ra đặc trưng di cư nông thôn ra thành thị, tìm việc qua quan hệ quen biết và chủ yếu dựa vào thỏa thuận miệng.

2. Các nghiên cứu về điều kiện làm việc của LĐGVGĐ

Các báo cáo của ILO (2003, 2010, 2013) xác định LĐGVGĐ trên thế giới thường không có giờ làm việc cố định, thiếu ngày nghỉ tuần, tiền lương thấp và không được hệ thống pháp luật bảo hộ đầy đủ: hơn 50% không có giới hạn trần giờ làm việc hàng tuần, hơn 40% không có lương tối thiểu và hơn 33% không có chế độ thai sản.

Suguna Papachan (2009) phản ánh sự hình thành Mạng lưới người giúp việc gia đình châu Á (ADWN) từ năm 2004 nhằm vận động chính sách. Vachararutai Boontinand (2010) phân tích tình trạng LĐGVGĐ tại Thái Lan, nơi trẻ em làm GVGĐ phải làm việc trên 8 giờ/ngày và lao động nhập cư từ Myanmar, Lào, Campuchia đối mặt nguy cơ bạo lực bằng lời nói hoặc lạm dụng. Elsabe Huysamen (2011) tại Nam Phi, Nagel J. (2003) và Arat-Koc S. cùng phân tích tính chất khép kín của không gian gia đình khiến ranh giới giữa làm việc và nghỉ ngơi bị xóa nhòa, khiến người lao động rơi vào tình thế "chẳng phải là vợ cũng chẳng phải là người lao động".

Tại Việt Nam, Đặng Bích Thủy (2001) ghi nhận trẻ em gái làm GVGĐ tại Hà Nội phải làm việc từ 12 đến 14 tiếng/ngày. Đào Bích Hà (2009) thực hiện 15 phỏng vấn sâu tại TP.HCM, chỉ ra cảm giác gò bó, chịu kiểm soát và thiếu tự do. Khảo sát của GFCD (2013b, 2014) tái khẳng định tình trạng thiếu HĐLĐ bằng văn bản, không có BHXH, BHYT và xảy ra các vi phạm thỏa thuận ban đầu.

3. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng

Philip N. Cohen (1993) tại Mỹ chứng minh địa vị kinh tế – xã hội của gia đình và vị thế của phụ nữ trong hôn nhân quyết định nhu cầu thuê mướn dịch vụ GVGĐ. Tại Thái Lan, Viện Nghiên cứu Dân số và Xã hội – Đại học Mahidol (2007) chỉ rõ tăng trưởng kinh tế tạo việc làm tại các nhà máy, làm suy giảm nguồn cung LĐGVGĐ nội địa và gia tăng dòng lao động nhập cư.

Ở trong nước, Mai Huy Bích (2004) phân tích quan hệ cung – cầu và giá trị kinh tế của công việc nội trợ. Lê Việt Nga (2006) khảo sát tại phường Kim Liên (quận Đống Đa, Hà Nội) với quy mô 20 người giúp việc, 20 chủ hộ và 5 cán bộ môi giới. Nghiên cứu của Tổ chức Cứu trợ Trẻ em Thụy Điển và Viện Gia đình và Giới (2004–2005) ghi nhận gần 70% gia đình không định hướng cho con làm GVGĐ lâu dài. Báo cáo của GFCD (2013a) chỉ ra các lỗ hổng quản lý nhà nước, tình trạng không đăng ký tạm trú và thiếu vắng tổ chức bảo vệ quyền lợi LĐGVGĐ tại Việt Nam.

Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây về chân dung xã hội và môi trường lao động, luận án tập trung lấp đầy khoảng trống thực chứng tại Hà Nội thông qua việc đo lường, kiểm định thống kê và phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến 5 khía cạnh điều kiện làm việc cụ thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và thao tác hóa thuật ngữ

  • Lao động giúp việc gia đình: Luận án vận dụng định nghĩa tại Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2019 và Công ước số 189 năm 2011 của ILO: LĐGVGĐ là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình, bao gồm nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác không liên quan đến hoạt động thương mại. Luận án giới hạn vào nhóm LĐGVGĐ làm việc toàn thời gian (ở cùng hoặc không ở cùng gia chủ).
  • Điều kiện làm việc: Dựa trên các tiêu chuẩn của Công ước số 189 (Điều 7, Điều 10–14) và pháp luật lao động Việt Nam, điều kiện làm việc trong luận án được thao tác hóa qua 5 nhóm chỉ báo:
    1. Tiền lương và quyền lợi: Mức thu nhập cố định hàng tháng và mức độ hài lòng về tiền lương.
    2. Thời gian làm việc và nghỉ ngơi: Số giờ làm việc trung bình trong ngày, số ngày làm việc trong tháng và thỏa thuận ngày nghỉ.
    3. Hợp đồng lao động: Tình trạng xác lập HĐLĐ bằng văn bản hoặc thỏa thuận miệng.
    4. An toàn tại nơi làm việc: Môi trường làm việc, điều kiện ăn ở và đánh giá mức độ an toàn.
    5. Bảo hiểm y tế (BHYT): Tình trạng tham gia và sở hữu thẻ BHYT.

Khung lý thuyết tiếp cận

Luận án vận dụng 3 lý thuyết xã hội học:

  1. Lý thuyết cung – cầu lao động: Giải thích sự hình thành và vận hành của thị trường LĐGVGĐ tại đô thị dưới tác động của phân công lao động xã hội, sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị, cùng nhu cầu giải phóng sức lao động nội trợ của các gia đình đô thị.
  2. Lý thuyết lựa chọn duy lý: Phân tích hành vi của người lao động và người thuê lao động dựa trên sự cân nhắc chi phí – lợi ích. Người lao động chấp nhận công việc giúp việc nhằm tối đa hóa thu nhập gửi về quê; người thuê tối ưu hóa chi phí chăm sóc gia đình để tham gia thị trường lao động chính thức.
  3. Lý thuyết phân công lao động xã hội theo giới: Giải thích tính chất định kiến giới trong nghề GVGĐ, sự gán ghép thiên chức nội trợ cho phụ nữ và vị thế của lao động nữ trong không gian việc làm gia đình.

Khung phân tích của luận án

Khung phân tích được thiết kế dựa trên mối quan hệ giữa ba nhóm biến số:

Nhóm biến số Các chỉ báo / Biến số cụ thể trong mô hình
Biến độc lập • Nhân khẩu – xã hội: Tuổi (5 nhóm: 18 đến <50; 50–54; 55–59; 60–64; trên 65); Trình độ học vấn (Tiểu học, THCS, THPT, Trung cấp/CĐ/ĐH); Nơi cư trú trước khi đi làm (Nông thôn/miền núi, Thành thị); Thâm niên kinh nghiệm (<2 năm, 2–5 năm, >5–10 năm, >10 năm).
• Định hướng nghề nghiệp: Tiêu chí chọn việc, Lý do đi làm.
• Quan hệ lao động: Mức độ hài lòng với gia chủ, Tình trạng phát sinh mâu thuẫn.
• Hiểu biết pháp luật: Mức độ nhận thức các quy định pháp luật về GVGĐ.
• Đặc thù công việc: Số lượng và loại hình việc nhà/chăm sóc thực tế.
Biến can thiệp • Bối cảnh văn hóa – xã hội.
• Hệ thống chính sách, pháp luật lao động hiện hành (Bộ luật Lao động, Nghị định hướng dẫn).
Biến phụ thuộc • Mức tiền lương hàng tháng và Mức độ hài lòng về lương.
• Thời gian làm việc trung bình (giờ/ngày, ngày/tháng).
• Tình trạng ký kết HĐLĐ bằng văn bản.
• Mức độ an toàn tại nơi làm việc và nơi ở.
• Tình trạng có thẻ Bảo hiểm y tế.

Địa bàn và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Địa bàn nghiên cứu: Chọn mẫu khảo sát tại 03 quận đại diện của Hà Nội gồm quận Cầu Giấy, quận Hai Bà Trưng và quận Thanh Xuân.
  • Phương pháp định lượng: Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu $N = 314$ người LĐGVGĐ (100% là nữ giới) làm việc toàn thời gian, cùng bảng hỏi đối với người thuê lao động. Kỹ thuật phân tích gồm thống kê mô tả, kiểm định tương quan bảng chéo ($\chi^2$) và phân tích mô hình hồi quy đa biến (hồi quy tuyến tính OLS và hồi quy Logistic) nhằm xác định các yếu tố tác động đến sự hài lòng về lương, giờ làm việc, tình trạng có BHYT và việc ký kết HĐLĐ.
  • Phương pháp định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu đối với người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động nhằm thu thập dữ liệu định tính về bối cảnh sinh hoạt, quan hệ ứng xử và tâm lý lao động.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước theo 3 mảng chủ đề: chân dung xã hội, điều kiện làm việc và các yếu tố ảnh hưởng đến LĐGVGĐ. Nội dung phân tích làm rõ:

  • Tính phổ quát của hiện tượng nữ hóa lao động giúp việc gia đình trong các dòng di cư nội địa và quốc tế.
  • Sự bất cập mang tính cấu trúc về điều kiện làm việc: thiếu hợp đồng bằng văn bản, thời gian làm việc không giới hạn, không có chế độ an sinh bắt buộc và đối mặt nguy cơ bạo lực, lạm dụng.
  • Xác lập khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại địa bàn Hà Nội, đặt cơ sở định hướng cho mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 hoàn thiện khung khái niệm và thiết kế nghiên cứu:

  • Chuẩn hóa các khái niệm: lao động giúp việc gia đình, điều kiện làm việc, hợp đồng lao động, an toàn lao động, an sinh xã hội dựa trên chuẩn mực của ILO (Công ước 189) và pháp luật Việt Nam (Bộ luật Lao động các năm 1994, 2012, 2019).
  • Trình bày 3 lý thuyết nền tảng (Cung cầu lao động, Lựa chọn duy lý, Phân công lao động theo giới).
  • Thao tác hóa các biến số trong khung phân tích; mô tả phương pháp chọn mẫu khảo sát 314 LĐGVGĐ tại 3 quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hai Bà Trưng; chuẩn bị công cụ xử lý dữ liệu định lượng và định tính.

Chương 3: THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chương 3 trình bày các kết quả mô tả thực trạng điều kiện làm việc của LĐGVGĐ tại Hà Nội qua các nhóm dữ liệu chính:

Nhóm nội dung Dữ liệu và phát hiện chính từ khảo sát
Chân dung nhân khẩu – xã hội • Giới tính: 100% mẫu khảo sát là nữ giới ($N=314$).
• Độ tuổi: Chủ yếu là lao động trung niên và cao tuổi (từ 50 tuổi trở lên chiếm tỷ trọng lớn).
• Xuất thân: Đa phần di cư từ khu vực nông thôn, miền núi.
• Học vấn: Trình độ phổ biến ở bậc THCS và tiểu học; tỷ lệ có trình độ chuyên môn kỹ thuật rất thấp.
• Đào tạo nghề: Đại đa số chưa từng qua các khóa đào tạo kỹ năng GVGĐ bài bản.
Tiền lương và thu nhập • Thu nhập cố định hàng tháng được chi trả bằng tiền mặt.
• Tiền lương có sự phân hóa theo độ tuổi, kinh nghiệm và tính chất phức tạp của công việc (chăm sóc người già/người bệnh/trẻ sơ sinh có mức thù lao cao hơn việc dọn dẹp đơn thuần).
• Tỷ lệ hài lòng với mức lương đang nhận tương đối khả quan do không phải chi trả chi phí ăn, ở.
Thời gian làm việc & nghỉ ngơi • Số giờ làm việc trung bình trong ngày kéo dài (nhiều trường hợp trên 10–12 giờ/ngày).
• Thời gian biểu phân tán, thường phụ thuộc vào sinh hoạt của gia chủ.
• Số ngày nghỉ trong tháng rất ít; phần lớn người lao động không có ngày nghỉ cố định hàng tuần mà gộp ngày nghỉ về thăm gia đình.
Hợp đồng lao động • Hình thức giao kết: Tuyệt đại đa số xác lập quan hệ lao động thông qua thỏa thuận miệng.
• Tỷ lệ ký kết HĐLĐ bằng văn bản đạt mức rất thấp.
• Nguyên nhân chính: Cả người lao động và gia chủ đều ngại ràng buộc pháp lý, thiếu hiểu biết pháp luật lao động và tin tưởng vào sự giới thiệu quen biết.
An toàn lao động & Chỗ ở • Phần lớn LĐGVGĐ ăn ở tại nhà gia chủ; điều kiện sinh hoạt phụ thuộc vào diện tích nhà ở và sự sắp xếp của chủ nhà.
• Đánh giá mức độ an toàn thể chất ở mức tương đối an tâm, tuy nhiên vẫn tồn tại các áp lực tâm lý, sự kiểm soát sinh hoạt và nguy cơ tai nạn lao động khi sử dụng thiết bị gia dụng.
Bảo hiểm y tế • Tỷ lệ tham gia BHYT tự nguyện hoặc diện hộ gia đình/chính sách tại địa phương tương đối cao, song hầu như không có người lao động nào được gia chủ đóng BHXH theo đúng quy định.

Chương 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI HÀ NỘI

Chương 4 kiểm định các mối tương quan và phân tích 4 mô hình hồi quy giải thích các yếu tố tác động đến điều kiện làm việc:

                               CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG (CHƯƠNG 4)
Đặc điểm nhân khẩu   Định hướng nghề     Mối quan hệ với    Hiểu biết pháp luật   Loại hình và khối
   • Nhóm tuổi         • Tiêu chí chọn        gia chủ        • Mức độ hiểu luật     lượng công việc
   • Học vấn             công việc       • Sự hài lòng       • Kênh tiếp cận      • Việc nhà đơn thuần
   • Kinh nghiệm       • Lý do đi làm    • Tình trạng              thông tin      • Chăm sóc người già,
   • Nơi xuất thân         kiếm sống       mâu thuẫn                                trẻ em, người ốm
                             KẾT QUẢ CÁC MÔ HÌNH HỒI QUY (BẢNG 4.10 - 4.13)
Mô hình 1 (Bảng 4.10)   Mô hình 2 (Bảng 4.11)         Mô hình 3 (Bảng 4.12)   Mô hình 4 (Bảng 4.13)
Hài lòng về tiền lương  Thời gian làm việc/ngày       Tình trạng có BHYT      Tình trạng ký HĐLĐ
  1. Yếu tố nhân khẩu – xã hội: Độ tuổi và số năm kinh nghiệm có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến mức lương nhận được. Lao động có thâm niên trên 5 năm có khả năng thỏa thuận mức lương tốt hơn. Trình độ học vấn cao hơn có tương quan thuận với nhận thức an toàn lao động và nhu cầu ký hợp đồng bằng văn bản.
  2. Định hướng về nghề GVGĐ: Người lao động xác định đi làm vì mục tiêu tích lũy tài chính ngắn hạn thường chấp nhận làm thêm giờ và ít đòi hỏi ngày nghỉ hơn nhóm lao động đi làm vì nhu cầu ổn định dài hạn.
  3. Mối quan hệ giữa người giúp việc và gia chủ: Tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ sinh hoạt tác động tiêu cực đến mức độ hài lòng về công việc và thời gian nghỉ ngơi. Sự hòa hợp và tin cậy giữa hai bên giúp cải thiện điều kiện ăn ở và linh hoạt thời gian làm việc.
  4. Hiểu biết pháp luật: Người lao động có nhận thức về các quy định của Bộ luật Lao động có xác suất tham gia BHYT và mong muốn ký HĐLĐ bằng văn bản cao hơn rõ rệt so với nhóm không nắm rõ quy định.
  5. Loại công việc thực hiện: Nhóm làm công việc chăm sóc đặc thù (người già yếu, trẻ nhỏ, người bệnh) có thời gian làm việc trong ngày dài hơn và cường độ lao động cao hơn nhóm chỉ làm công việc dọn dẹp nội trợ thông thường, nhưng nhận được mức thù lao hàng tháng cao hơn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án vận dụng kết hợp ba lý thuyết xã hội học (Cung – cầu lao động, Lựa chọn duy lý, Phân công lao động theo giới) để giải thích cơ chế hình thành, vận hành và các rào cản trong việc chuẩn hóa quan hệ lao động giúp việc gia đình tại đô thị Việt Nam.
  • Hệ thống hóa và hoàn thiện khung phân tích điều kiện làm việc trong khu vực phi chính thức, cung cấp bộ chỉ báo thực nghiệm gồm 5 nhóm điều kiện làm việc cụ thể phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm gồm 314 LĐGVGĐ tại 3 quận nội thành Hà Nội trong năm 2020, phản ánh diện mạo chân dung xã hội và thực trạng việc làm của nhóm lao động này.
  • Phân tích và chỉ rõ những điều kiện làm việc đã được đáp ứng bước đầu (tiền lương cơ bản, BHYT) và những điểm nghẽn nghiêm trọng (thiếu HĐLĐ văn bản, thời gian làm việc kéo dài, thiếu BHXH bắt buộc).
  • Đo lường và xác định chiều hướng tác động của các yếu tố nhân khẩu, quan hệ lao động, nhận thức pháp luật và tính chất công việc tới điều kiện làm việc thông qua các mô hình hồi quy thực chứng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Hoàn thiện chính sách, pháp luật: Tăng cường cơ chế giám sát thực thi các quy định về LĐGVGĐ trong Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP; ban hành mẫu hợp đồng lao động chuẩn hóa, đơn giản hóa thủ tục giao kết cho hộ gia đình.
  • Phát triển đào tạo nghề: Xây dựng khung tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho nghề giúp việc gia đình; mở các lớp đào tạo ngắn hạn về kỹ năng việc nhà, chăm sóc y tế cơ bản và sử dụng thiết bị gia dụng an toàn.
  • Bảo đảm an sinh xã hội: Thiết lập cơ chế hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện và BHYT linh hoạt cho LĐGVGĐ với sự đồng chi trả giữa gia chủ và người lao động.
  • Tăng cường quản lý và truyền thông: Nâng cao hiệu quả đăng ký tạm trú tại cơ sở; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Trung tâm giới thiệu việc làm) trong việc tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi người lao động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Hạn chế lớn nhất được tác giả nêu rõ là không thể tiếp cận và thu thập được mẫu khảo sát đối với lao động giúp việc gia đình là nam giới tại địa bàn thực địa. Toàn bộ 314 người tham gia khảo sát định lượng đều là phụ nữ. Do đó, các phân tích về điều kiện làm việc và các yếu tố ảnh hưởng không thể so sánh, đối chiếu dưới lăng kính khác biệt giới tính.
  • Khảo sát giới hạn tại 03 quận nội thành thuộc thành phố Hà Nội và chỉ tập trung vào nhóm lao động toàn thời gian, chưa khảo sát nhóm lao động giúp việc theo giờ hoặc khoán việc.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đô thị lớn khác và các vùng phụ cận nhằm so sánh sự khác biệt vùng miền.
  • Khảo sát bổ sung nhóm đối tượng LĐGVGĐ làm việc theo giờ, giúp việc thông qua các ứng dụng công nghệ trực tuyến.
  • Tiếp cận và nghiên cứu nhóm lao động nam giới làm các công việc gia đình (lái xe, làm vườn, quản gia) để hoàn thiện phân tích so sánh giới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên: Chuyên ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Luật Lao động, Nghiên cứu Giới và Phát triển, Quản lý An sinh xã hội có thể tham khảo khung phân tích biến số, phương pháp thiết kế bảng hỏi và kỹ thuật phân tích dữ liệu kết hợp định tính – định lượng.
  • Các nhà hoạch định chính sách: Cán bộ tại Bộ LĐTB&XH, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có cơ sở thực chứng để xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động, thiết kế chính sách an sinh xã hội và tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho lao động gia đình.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị cung ứng dịch vụ: Tham khảo dữ liệu thực tế về nhu cầu, tiêu chí tuyển chọn và các rủi ro phát sinh trong quan hệ lao động để xây dựng quy trình đào tạo và môi giới lao động hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng quy mô mẫu và địa bàn nghiên cứu cụ thể nào?

Luận án thực hiện điều tra định lượng trên mẫu khảo sát gồm 314 người lao động giúp việc gia đình toàn thời gian (100% là nữ giới), kết hợp phỏng vấn đại diện các hộ gia đình thuê mướn tại 03 quận thuộc thành phố Hà Nội: Cầu Giấy, Hai Bà Trưng và Thanh Xuân. Thời gian thu thập thông tin diễn ra từ tháng 01/2020 đến tháng 04/2020.

2. Ba lý thuyết xã hội học được tác giả vận dụng trong luận án là gì?

Tác giả vận dụng 3 lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết cung – cầu lao động: Giải thích sự hình thành thị trường dịch vụ việc nhà đô thị.
  2. Lý thuyết lựa chọn duy lý: Phân tích động cơ tối ưu hóa lợi ích kinh tế của người lao động và người thuê.
  3. Lý thuyết phân công lao động xã hội theo giới: Phân tích tính chất định kiến giới và sự tập trung của phụ nữ trong nghề GVGĐ.

3. Những biến phụ thuộc nào được đưa vào các mô hình hồi quy ở Chương 4?

Chương 4 thực hiện 4 mô hình hồi quy (Bảng 4.10, 4.11, 4.12, 4.13) để giải thích 4 biến phụ thuộc:

  • Mức độ hài lòng với mức lương hàng tháng.
  • Thời gian làm việc trung bình trong ngày.
  • Tình trạng có Bảo hiểm y tế.
  • Tình trạng ký kết Hợp đồng lao động bằng văn bản.

4. Thực trạng giao kết hợp đồng lao động của LĐGVGĐ tại Hà Nội ra sao?

Khảo sát chỉ ra tuyệt đại đa số quan hệ lao động giữa người giúp việc và gia chủ được thiết lập qua thỏa thuận miệng, tỷ lệ ký HĐLĐ bằng văn bản rất thấp. Nguyên nhân là do thói quen dựa vào sự quen biết, tâm lý ngại ràng buộc thủ tục pháp lý và sự thiếu hiểu biết về quy định của Bộ luật Lao động từ cả hai phía.

5. Vì sao luận án không phân tích so sánh điều kiện làm việc theo giới tính?

Trong quá trình điều tra thực địa tại Hà Nội, tác giả không tiếp cận được lao động giúp việc gia đình là nam giới; toàn bộ 314 phiếu khảo sát thu về đều thuộc về lao động nữ. Do đó, luận án không đủ dữ liệu thực chứng để phân tích so sánh điều kiện làm việc giữa hai giới.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Sơn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về điều kiện làm việc của lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội trong năm 2020. Kết quả nghiên cứu xác nhận tính chất phi chính thức cao của nghề GVGĐ với tình trạng phổ biến là thỏa thuận miệng, thời gian làm việc kéo dài và thiếu vắng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Bằng việc phân tích định lượng các mô hình hồi quy, luận án đã làm rõ vai trò tác động của đặc điểm nhân khẩu, quan hệ lao động, nhận thức pháp luật và tính chất công việc đến các khía cạnh điều kiện làm việc, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách an sinh và quản lý lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam.