Chương 1: Tong quan van dé nghiên cứu: tong quan các nghiên cứu về LĐGVGĐ trên thé giới và tại Việt Nam; rà soát đóng góp của các nghiên cứu trước đây và xác định khoảng trống nghiên cứu, từ đó định hướng về mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án. + Chương 2: Cơ sở ly luận và phương pháp nghiên cứu: Luận án làm rõ một số khái niệm công cụ, phân tích một số quan điểm lý thuyết Xã hội học có liên quan và ứng dụng quan điểm của lý thuyết Xã hội học đó để giải thích vấn đề nghiên cứu; mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. + Chương 3: Thực trạng điều kiện làm việc của lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội: Chương nay phân tích và làm rõ một số điều kiện làm việc của LĐGVGĐ tại thành phố Hà Nội như tiền lương, thời gian làm việc, hợp đồng lao động, bảo hiểm và an toản tại nơi làm việc. Đồng thời, so sánh sự khác biệt về điều kiện làm việc căn cứ theo một số đặc điểm nhân khẩu - xã hội của người lao động giúp việc gia đình và gia đình đang thuê người giup VIỆC.
+ Chương 4: Các yếu tô ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của lao động giúp việc gia đình tại thành phố Hà Nội: Chương này tập trung phân tích và chỉ rõ một số yếu tố có ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của LDGVGD tai thành phố Hà Nội. Trong đó, phân tích và làm rõ các yếu tô có ảnh hưởng tới việc đảm bảo điều kiện làm việc cho người LDGVGD. Hạn chế của luận án Hạn chế của luận án đó là tác giả luận án không phân tích điều kiện làm việc theo đặc điểm giới của người LĐGVGĐ, do không tiếp cận được lao động giúp việc gia đình là nam giới. Toàn bộ 314 mẫu khảo sát với người LDGVGD đều là nữ.
Vi thế, các kết quả phân tích liên quan đến điều kiện làm việc và các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của lao động giúp việc gia đình sẽ không phân tích và mô tả được dưới lăng kính giới. TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CUU Nghiên cứu về LDGVGD nói chung và những van dé liên quan đến điều kiện làm việc của LDGVGD đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới và tại Việt Nam. Chương này cung cấp thông tin tổng quan các nghiên cứu về LĐGVGĐ, trong đó bao gồm các phát hiện, giá trị đóng góp về lý luận và thực tiễn của các nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam trong khoảng 20 năm trở lại đây. Kết quả rà soát tổng quan được nhóm theo các chủ đề chính có liên quan đến luận án này bao gồm: i) đặc điểm nhân khâu, xã hội của LĐGVGĐ; ii) điều kiện làm việc của LĐGVGĐ; iii) các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện làm việc của LĐGVGĐ.
Trên cơ sở đó, xác định rõ những đóng góp của nghiên cứu trước đây và gợi ý định hướng nghiên cứu cho luận án này. Một số nghiên cứu về đặc điểm xã hội của lao động giúp việc gia đình Các nghiên cứu thực hiện ở một sỐ quốc gia đã phát hiện một số đặc điểm xã hội của LDGVGD trong làn sóng di cư từ các nước nghéo sang các nước đang phát triển. Theo phát hiện của các nghiên cứu đã thực hiện trước đây: Phụ nữ nghèo đến làm giúp việc gia đình cho các gia đình có điều kiện kinh tế khá gia là hình ảnh nỗi bật trong làn sóng di cư đó. Xu hướng này đã và đang trở thành một nghề khá phô biến ở các nước khi thực hiện công nghiệp hóa.
Theo kết quả nghiên cứu của Parrenas (năm 2001) về dòng di cư của LDGVGD cho thấy Philippines là quốc gia đứng đầu về cung cấp nguồn LĐGVGĐ cho các quốc gia khác. Ước tính có khoảng hon 2,2 triệu người trong tổng số hơn 6,5 triệu người Philippines làm việc ở hơn 100 quốc gia trên thế giới đang làm công việc GVGD. Đặc biệt, đa số phụ nữ người Philippines ra nước ngoài làm LĐGVGĐ đều tốt nghiệp phổ thông, đã qua dao tạo nghề và thông thạo tiếng Anh. Đây chính là thế mạnh cạnh tranh của lực lượng LĐGVGĐ từ Philippine so với các quốc gia khác.
Mặt khác, việc 19 xuất khâu LDGVGD cũng đã được Chính phủ Philippines coi là một ngành kinh tế quan trong của đất nước. Nguồn tiền do phụ nữ đi làn LDGVGD ở nước ngoài gửi về cho gia đình ước tính đạt khoảng từ 14 - 16 tỉ đô la Mỹ [Parrenas, 2001]. Theo nghiên cứu của Hye-kyung Lee (Đại học Pai Chai, Hàn Quốc), từ cuối thập kỉ 1980, làn sóng di cư của người Châu Á đã dần chuyên hướng từ các nước Trung Đông, châu Âu, Mỹ, và Canada sang các nước phát triển trong khu vực Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Điểm giống nhau của làn sóng di cư đó là phụ nữ vẫn chiếm đa số, với khoảng 60% dòng người nhập cư tại Singapore và Đài Loan, và khoảng 45% tại Nhật Bản và Hàn Quốc.
Trong đó, LDGVGD là một trong ba nhóm của dòng người di cư [Ngô Thi Ngọc Anh, 2010]. Tại Đài Loan, theo kết quả nghiên cứu về người lao động di cư của các tác giả Hong-zen Wang, Meiyao Wu, Daniele Belanger, tính đến tháng 12 năm 2007, số lao động di cư đến Đài Loan là 357.937 người, trong đó người Việt Nam chiếm 19%. Ngoài ra, số còn lại đến từ các quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Người lao động di cư đến Dai Loan thường làm hai nhóm nghề chính đó là công nhân nhà máy và giúp việc gia đình.
Trong nhóm nghề GVGD, người LDGVGD thường làm hai công việc chính đó là làm việc nhà và chăm sóc người cao tuôi [Ngô Thị Ngọc Anh, 2010]. Theo nghiên cứu được thực hiện bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2003 cho thay LDGVGD thường là người nghèo của xã hội. Nhiều người di cư từ nước của họ và nhiều người di cư từ các nước khác vì lý do nghèo đói. Trung tâm di cư Châu Á ước tính có ít nhất hai triệu lao động trong nước di cư ở Châu A và hau hết là phụ nữ, họ đến từ Indonesia, Philippines và Sri Lanka.
Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đã chỉ ra lao động giúp việc là trẻ em đang tràn lan ở những nước có hệ thống pháp luật về độ tuổi lao động tối 20 thiểu chưa chặt chẽ. Thông thường, các nhóm phụ nữ và các tổ chức của người giúp việc gia đình thường là người bênh vực và bảo vệ quyền cho người lao động giúp việc gia đình [GFCD, 2018]. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Tersia S. Wessels, năm 2006, đề cập trong báo cáo “Đánh giá tác động phát triển các kỹ năng cho giúp việc gia đình”, công bỗ bởi Khoa nghiên cứu phát triển, Trường dai học Nam Phi cho thấy: ở một số nước, LDGVGD được coi là công việc thấp hèn và thường chi có những người sống ở nông thôn và có trình độ học vấn thấp làm công việc này [Wessels, 2006].
Bài viết có tiêu đề “Phu nữ và quyén lao động tại Trung Quốc”, đăng trên Tạp chí quốc tế về sáng tạo và phát triển bền vững, số 4, trang 186 — 194, năm 2009, trong đó khang định do những quan niệm về GVGD chỉ đành cho người nông thôn và có học vấn thấp nên người dân sống ở thành thị không muốn làm công việc này. Học vấn thấp và kỹ năng giao tiếp hạn chế là những điểm khá đặc trưng của phần lớn người LDGVGD. Phát hiện của Shu-Ju Ada Cheng (2004) một lần nữa cho thấy ở Dai Loan, phan lớn LDGVGD là người nước ngoài, họ đến từ các nước kém phát triển hơn như Philippines, Việt Nam, và một số nước Nam Á [Shu-Ju Ada Cheng, 2004]. Báo cáo “Tớm tắt chính sách về giúp việc gia đình”, của hai tác giả Simonovsky và Y.
Luebker, năm 2011, cung cấp các thông tin ước tính về số lượng người GVGD trong khu vực và toàn cầu. Báo cáo cho thấy ở Châu Mỹ La-tinh và vùng biển Caribe, tỷ trọng LDGVGD trong cơ cầu ngành nghề chiếm tới 92%, trong khi đó ở Châu A là 82%, Châu Phi là 73% và Trung Đông là 64%, trong đó ở một số nước lao động là trẻ em gái cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ. Báo cáo cũng cho thấy việc chăm sóc trẻ em và làm công việc nhà chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm trong khi đó các công việc phục vụ thì chủ yếu là nam giới và lau dọn nhà cửa thì cả nam và nữ cùng tham gia [Simonovsky and Y. 21 Hiện tại, Việt Nam chưa có số liệu thống kê chính thức về số lượng người LDGVGD trên toàn quốc.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, quý 1 năm 2019, toàn quốc có 222.400 người lao động đang làm thuê trong các hộ gia đình, trong đó có 206.500 lao động nữ (chiếm 92,8%). Tuy nhiên, Tổng cục thống kê gộp chung những người giúp việc gia đình vào nhóm nghề lao động làm thuê các công việc trong hộ gia đình nên số liệu trên bao gồm cả những người tham gia sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ của hộ gia đình, chứ không hoản toàn chỉ có người làm lao động giúp việc gia đình theo định nghĩa về người lao động giúp việc gia đình tại Bộ Luật lao động 2019 [Tông cục thống kê, 2019]. LDGVGD ở Việt Nam cũng có đặc điểm xã hội khá tương đồng với LDGVGD ở một số nước trên thế giới. LĐGVGĐ ở Việt Nam hiện nay cũng chủ yếu là nữ, đa phần thỏa thuận về điều kiện lao động băng miệng, chưa qua đảo tạo nghề và không có bảo hiểm xã hội (BHXH).
Đặc biệt, xu hướng di biến động của LĐGVGĐ ở Việt Nam cũng giống xu hướng chung trên toàn cầu đó là việc dịch chuyền của dòng di cư từ nông thôn ra đô thị đang diễn ra mạnh mẽ [Ngô Thị Ngọc Anh, 2010]. Nghiên cứu “Tre em làm thuê giúp việc gia đình ở Ha Noi” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh thực hiện (năm 2000) đã làm rõ một số vấn đề chung liên quan đến trẻ em làm giúp việc gia đình. Nhóm nghiên cứu đã mô tả các đặc điểm về gia đình, phẩm chat tâm lý, lứa tuổi trình độ học van của trẻ em đang làm GVGD. Nhóm nghiên cứu cũng đã phân tích những khía cạnh về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, quyền học tập của trẻ em giúp việc để làm căn cứ đưa ra một số giải pháp kiến nghị đối với việc nâng cao nhận thức về quyên trẻ em [Nguyễn Thị Vân Anh, 2000, tr.