CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cứu hộ và tái thả các loài Tê tê trên thế giới Tê tê, hay còn được gọi là thú ăn kiến có vảy, là động vật có vú và ăn thịt. Mặc dù cùng là thú ăn kiến và giáp xác thuộc bộ Xenarthra, nhưng Tê tê lại có khác biệt về mặt phân loại. Có tám loài Tê tê trên thế giới, tất cả đều thuộc lớp thú, bộ Pholidota, họ Manidae và chi Manis.
Tê tê phân bố chủ yếu ở phía Đông, Đông Nam và Đông Nam Á, và hầu hết ở châu Phi. Bốn loài Tê tê có nguồn gốc từ châu Phi bao gồm: Tê tê Cape (Manis temmincki), Tê tê khổng lồ (Manis gigantean), Tê tê đuôi dài (Manis tetradactyla) và Tê tê bụng trắng châu Phi (Manis tricuspis). Bốn loài Tê tê có nguồn gốc từ châu Á bao gồm: Tê tê Trung Quốc (Manis pentadactyla), Tê tê Ấn Độ (Manis crassicaudata), Tê tê java (Manis javanica) và Tê tê Palawan (Manis culionensis), một loài mới được xác định vào năm 2005 (Gaubert và Antunes, 2005). Vì giá trị kinh tế của Tê tê nên việc săn bắn và buôn bán trái phép thường xuyên diễn ra.
Ví dụ, khoảng 24 tấn và 14 tấn Tê tê đông lạnh đã bị bắt giữ lần lượt ở Việt Nam và Indonesia vào tháng 3 năm 2008 và tháng 7 năm 2008 (Shepherd, 2009); khoảng 9 tấn và 10 tấn Tê tê đông lạnh đã bị bắt giữ lần lượt ở Trung Quốc và Philippines vào tháng 12 năm 2012 và tháng 4 năm 2013 (Guangzhou Daily, 2012; Huanqiu Net, 2013). Vụ săn trộm lớn này đã nhanh chóng làm cạn kiệt quần thể Tê tê hoang dã. Bên cạnh nạn săn bắn trái phép, việc phá hủy môi trường sống cũng làm giảm mạnh các quần thể hoang dã (Wu và cộng sự, 2002). Với sự suy giảm của các quần thể hoang dã, nuôi nhốt đã trở thành một cách quan trọng để bảo vệ Tê tê khỏi nguy cơ tuyệt chủng, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều rào cản kỹ thuật đối với các chương trình nuôi nhốt vì Tê tê có tập tính riêng biệt và phụ thuộc vào hệ sinh thái tự nhiên.
Theo tài liệu, trong hơn 150 năm qua, hơn 100 vườn thú và tổ chức đã cố gắng duy trì Tê tê. Hầu hết Tê tê đều chết trong vòng 6 tháng, một số ít thì sống sót từ 2-3 năm, vài cá thể thì sống từ 12-19 năm. Hồ sơ về Tê tê trong điều kiện nuôi nhốt từ năm 1877 đến 3 năm 2001 được trích dẫn bởi Yang (Yang và cộng sự, 2007). Các trung tâm nghiên cứu về nuôi nhốt và nhân giống Tê tê trong thập kỷ qua được tóm tắt trong bảng 1.1: Các Trung tâm/ Chương trình nuôi nhốt và nhân giống Tê tê trên thế giới Trung tâm/ Chương trình Loài Trạng thái Họ đã cải thiện chế độ ăn uống nhân tạo, và có một ghi nhận mới Sở thú Đài Bắc Tê tê vàng sinh trong điều kiện nuôi nhốt (Yang và cộng sự, 2007) Cơ sở nghiên cứu về thuần Môi trường sống, chế độ ăn uống hóa và nhân giống Tê tê từ và quản lý Tê tê nuôi nhốt đã được Tê tê vàng, Đại học Sư phạm Nam cải thiện rất nhiều và có một số kỷ Tê tê java Trung Quốc, Trung Quốc lục về con mới sinh trong điều kiện nuôi nhốt (SCNU, 2011) Tê tê được nhân giống và sinh sản Công viên động vật hoang thành công trong điều kiện nuôi dã Vân Nam, Trung Quốc Tê tê vàng nhốt và có hồ sơ sơ sinh, nhưng con non chết trong vòng 3 ngày (YannanNet, 2008) Trung tâm cứu hộ động vật Cung cấp cho Tê tê môi trường hoang dã tỉnh Quảng sống tự nhiên, chế độ ăn nhân tạo Đông; Viện Động vật nguy Tê tê java được tối ưu hóa và nuôi Tê tê trong cấp Nam Trung Quốc, hơn 500 ngày Trung Quốc Có thể nhân giống và nuôi Tê tê java thành công trong điều kiện Vườn thú đêm Singapore Tê tê java nuôi nhốt (Vijayan và cộng sự, 2008) CI cùng với FA gần đây đã thành lập Trung tâm Phục hồi Tê tê, để Tổ chức Bảo tồn Quốc tế cung cấp dịch vụ chăm sóc và điều (CI); Cục Lâm nghiệp Tê tê java trị cho các động vật được giải cứu (FA), Campuchia khỏi nạn buôn bán động vật hoang dã (PangolinSG, 2013) Vườn quốc gia Cúc Tê tê java Trung tâm tại VQG Cúc Phương 4 Trung tâm/ Chương trình Loài Trạng thái Phương, Việt Nam; Vườn cứu hộ 113 cá thể Tê tê java từ quốc gia Cát Tiên / Chương huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
trình bảo tồn động vật ăn Ghi nhận là vụ cứu hộ với số lượng thịt & Tê tê (CPCP) Tê tê lớn nhất so với các vụ trước đó, có đến 90 cá thể được tái thả thành công về tự nhiên (Ghi nhận vào ngày 6 tháng 4 năm 2017) Một số con Tê tê đã sống sót sau hai năm và có hai ghi nhận về con Trạm cứu hộ động vật Tê tê java mới sinh trong điều kiện nuôi hoang dã Củ Chi, Việt Nam nhốt (ghi nhận vào tháng 11 năm 2011) ACCB là một chương trình bảo vệ Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Tê tê bắt đầu từ năm 2004. Họ có Sinh học Campuchia / Tê tê java con Tê tê Malayan sống lâu nhất Angkor (ACCB) từng được nuôi trong điều kiện nuôi nhốt (SavePangolins, 2013) LIPI đang tiến hành nghiên cứu Viện Khoa học Indonesia cứu hộ và nuôi nhốt Tê tê ngoài (LIPI), Indonesia Tê tê java việc thực hiện các nghiên cứu phân tử (SavePangolins, 2013) Chương trình đặc biệt này nhằm Trung tâm nhân giống Tê mục đích ghi lại các kiểu hành vi tê, Công viên động vật học Tê tê Ấn Độ và đặc tính sinh sản của Tê tê Ấn Nandan Kanan, Ấn Độ Độ. Họ có ghi nhận sinh sản vào năm 2007 (ZeeNews, 2007) Tikki Hywood Trust; Công viên Zimbabwe; Cơ quan Mục đích nhân giống nuôi nhốt Tê Tê tê Cape quản lý động vật hoang dã, tê Cape (PangolinSG, 2013) Zimbabwe Một cá thể Tê tê bụng trắng châu Vườn thú San Diego, Hoa Tê tê bụng Phi sống trong Vườn thú San Kỳ trắng châu Diego phục vụ mục đích tham quan Phi (SanDiegoZoo, 2013) 5 1. Hoạt động cứu hộ Tê tê tại Việt Nam Hoạt động cứu hộ Tê tê ở Việt Nam chưa thực sự được chú trọng.
Thực tế số lượng Trung tâm cứu hộ ở Việt Nam còn hạn chế. Hiện tại chỉ có một số Tổ chức, Trung tâm, Trạm cứu hộ tiêu biểu như: Trung tâm cứu hộ Tê tê và thú ăn thịt nhỏ VQG Cúc Phương (Phối hợp với chương trình CPCP); VQG Cát Tiên (Chương trình CPCP); Trạm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (TPHCM), Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội. Trong suốt quá trình hoạt động, các Trung tâm cứu hộ động vật đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, đóng góp lớn cho công tác cứu hộ và bảo tồn các loài động vật hoang dã quý hiếm: Trung tâm cứu hộ Tê tê và thú ăn thịt nhỏ, VQG Cúc Phương được thành lập vào năm 2002, đến nay đã cứu hộ, từ năm 2014 - 2021 đã chăm sóc hơn 1585 cá thể Tê tê, phục hồi và tái thả thành công >60% cá thể và trả về tự nhiên. Đồng thời nâng cao ý thức cộng đồng với những chương trình tham quan, giáo dục với nhiều hình ảnh, hiện vật, mẫu vật và thông tin, giúp người dân và du khách hiểu hơn về hiện trạng săn bắt và buôn bán trái phép các loài Tê tê và thú ăn thịt nhỏ.
Trạm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (TPHCM) được thành lập từ tháng 9 năm 2006. Từ năm 2007 đến này, Trạm đã cứu hộ, chăm sóc hơn 5500 cá thể thuộc hàng chục loài động vật hoang dã quí hiếm. Trong đó, hơn 5000 cá thể đã được thả về thiên nhiên. Nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ động vật hoang dã cũng là một trong những mục tiêu chính của Trạm.
Phòng Trưng bày Giáo dục Môi trường trong Trạm với nhiều hình ảnh, hiện vật, mẫu vật, thông tin sinh động, giúp du khách hiểu rõ hơn về hiện trạng săn bắt, buôn bán trái phép động vật hoang dã, cũng như những nỗ lực của Trạm trong việc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam. Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội được thành lập từ năm 1996 và được tổ chức lại vào năm 2013 của UBND thành phố Hà Nội, với chức năng và nhiệm vụ được giao, trong hơn 25 năm qua, Trung tâm đã tổ chức tiếp 6 nhận cứu hộ 1387 vụ với trên 100 loài bao gồm 32.397 cá thể động vật hoang dã và hơn 6000kg rắn các oại từ cơ quan chức năng trên cả nước trong quá trình bắt giữ cũng như do người dân tự nguyện trao nộp. Sau cứu hộ, Trung tâm đã thực hiện tái thả ĐVHD về với tự nhiên 164 lượt với 21.000 cá thể và hơn 2,500kg rắn các loại tại VQG Ba Vì (Hà Nội), VQG Cúc Phương (Ninh Bình), Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An), Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai). Trong đó, Trung tâm đã cứu hộ và tái thả thành công nhiều loài ĐVHD quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao như: Tê tê java, rùa đầu to, rắn hổ mang chúa.
Bên cạnh đó, Trung tâm đã nhân nuôi sinh sản được 91 cá thể ĐVHD, gồm: 29 cá thể hổ; 2 cá thể vượn đen má trắng; 2 cá thể hạc cổ trắng; 7 cá thể chim Công; 48 cá thể khỉ đuôi dài; 2 cá thể cầy vòi hương; 1 cá thể khỉ đuôi lợn. Những yêu cầu kỹ thuật trong cứu hộ và tái thả động vật hoang dã 1. Yêu cầu về kỹ thuật trong cứu hộ Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cứu hộ động vật rừng (Bộ NN&PTNT, 2009), các yêu cầu kỹ thuật về cứu hộ động vật rừng bao gồm các yêu cầu như sau: - Yêu cầu về an toàn - Yêu cầu về kiểm tra và phân loại ban đầu - Yêu cầu về cách ly - Yêu cầu về kiểm tra dịch bệnh và chấn thương - Yêu cầu về chữa trị - Yêu cầu về vệ sinh dịch bệnh - Các yêu cầu về cứu hộ với mốt số nhóm động vật rừng + Nhóm thú + Nhóm chim + Nhóm lưỡng cư và bò sát - Yêu cầu xử lý sau phân loại 1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái thả động vật rừng 7 Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái thả động vật rừng (Bộ NN&PTNT, 2009), các yêu cầu kỹ thuật về tái thả động vật rừng bao gồm các yêu cầu như sau: - Yêu cầu về an toàn - Yêu cầu về tái thả - Trình tự tái thả - Yêu cầu về giám sát sau tái thả 1.