Đặt vấn đề Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong khu vực điểm nóng đa dạng sinh học Indo-Buma (Indo-Miến Điện), là một trong 36 điểm nóng đa dạng sinh học trên thế giới. Xét về tính đa dạng loài và tính đặc hữu, điểm nóng đa dạng sinh học Indo-Miến Điện bao gồm hơn 2 triệu km2 vùng nhiệt đới châu Á - là một trong những khu vực quan trọng nhất về mặt sinh học trên hành tinh. Đây cũng là một trong những nơi bị đe dọa nhiều nhất: Chỉ 5% môi trường sống tự nhiên của điểm nóng còn ở tình trạng tương đối nguyên sơ. Việt Nam có khu hệ động vật rất đa dạng và phong phú.
Tại Việt Nam đã thông kê và ghi nhận có 322 loài (340 loài và phân loài), 155 giống, 43 họ, 15 bộ. Trong đó, thú biển có 24 loài, thú nội địa có 298 loài (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009), 887 loài chim (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011), 39 loài bò sát và 176 loài ếch nhái (Nguyen Van Sang et., 2009), trong đó có nhiều loài là đặc hữu chỉ có ở Việt Nam. Hiện nay do nhiều lý do mà nguồn tài nguyên động vật suy giảm nghiêm trọng. Số loài được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007) là: 94 loài thú, 76 loài chim, 40 loài bò sát và 14 loài ếch nhái ở các mức độ đe dọa khác nhau.
Trong số đó, có nhiều loài ở mức đe doạ cao, đang đứng trước nguy cơbị tuyệt chủng. Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Hữu Liên được ghi nhận trong hệ thống các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học của quốc gia. Khu BTTN Hữu Liên được thành lập theo Quyết định số 186/UB-QĐ-TC, ngày 10/6/1989 của ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc thành lập Ban quản lý rừng cấm Hữu Liên (Nay là Khu BTTN Hữu Liên do Ban quản lý RĐD Hữu Liên đang trực tiếp quản lý). Khu bảo tồn hiện nay có diện tích 8.293,4 ha nằm toàn bộ trên xã Hữu Liên, một phần xã Yên Thịnh, một phần Xã Hòa Bình (huyện Hữu Lũng); một phần xã Trấn Yên, xã Nhất Tiến của 2 huyện Bắc Sơn; một phần xã Hữu Lễ huyện Văn Quan và một phần xã Vạn Linh huyện Chi Lăng.
Khu bảo tồn được thành lập nhằm bảo tồn các hệ sinh thái rừng tự nhiên trên núi đá điển hình cho vùng núi phía Đông Bắc nước ta. Khu BTTN Hữu Liên có chức năng rất quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH, góp phần giảm thiểu đáng kể tác động tiêu cực của con người đến các loài động, thực vật. Nhiệm vụ chủ yếu của Khu BTTN Hữu Liên là bảo vệ sinh cảnh sống cho cho những loài quý hiếm có giá trị bảo tồn gen như: Hươu xạ, Voọc đen má trắng, Vượn đen Đông Bắc., đồng thời bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm khác, đặc biệt là Gấu, Hoàng Đàn. Khu bảo tồn còn có giá trị phòng hộ, bảo vệ thượng nguồn của một số con suối cung cấp nước sinh hoạt, phục vụ nông nghiệp và cuộc sống hàng ngày cho người dân ở khu vực xung quanh và các xã lân cận.
Thời gian qua, mặc dù đã được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng các hoạt động khai thác trái phép (gỗ, củi và lâm sản) vẫn diễn ra. Những hoạt động này của người dân địa phương đã tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học, nhất là đối với các loài quý hiếm và các loài có vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi trong Khu bảo tồn. Bên cạnh đó, các nghiên cứu khoa học về tài nguyên của khu vực còn nhiều hạn chế, chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ về sự đang dạng của khu hệ động vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên. Những năm gần đây, Ban quản lý rừng đặc dụng Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn mới có cuộc điều tra rà soát hiện trạng các loài bị đe dọa trong Khu bảo tồn; thông tin về các loài động vật phổ biến chưa được quan tâm nhiều trong nghiên cứu này.
Bên cạnh đó, số liệu đã được công bố khá lâu nên việc cập nhật thêm thông tin về tình trạng của các loài động vật hoang dã tại khu bảo tồn là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm bảo tồn hệ động vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn” nhằm góp phần bổ sung cơsở dữ liệu phục vụ công tác bảo tồn bền vững tài nguyên tại Khu BTTN Hữu Liên. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Để góp phần xây dựng cơsở khoa học phục vụ công tác bảo tồn động vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Hữu Liên. Đề tài đề ra một số mục tiêu cụ thể như sau: - Đánh giá được đa dạng sinh cảnh Khu BTTN Hữu Liên.
- Đánh giá được thành phần loài động vật và hiện trạng các loài nguy cấp quý hiếm tại Khu BTTN Hữu Liên. - Xác định được các mối đe dọa chủ yếu đến khu hệ động vật tại Khu BTTN Hữu Liên. - Đề xuất được các giải pháp bảo tồn động vật tại Khu BTTN Hữu Liên. Ý nghĩa của đề tài 3.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu của sinh viên, học viên cao học, giảng viên về những vấn đề nghiên cứu có liên quan. Đây là cơhội để học viên được học, được trải nghiệm với công tác nghiên cứu, biết gắn giữa lý luận với thực tiễn nghiên cứu. Biết xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tiếp cận với cộng đồng và hoàn thiện kỹ năng làm việc tại cộng đồng. Ý nghĩa trong thực tiễn Nghiên cứu đặc điểm khu hệ động vật nhằm góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu phục vụ công tác bảo tồn bền vững tài nguyên thiên nhiên tại khu bảo tồn, là cơ sở khoa học để Khu bảo tồn xây dựng kế hoạch bảo tồn, định hướng nghiên cứu tiếp theo.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về bảo tồn đa dạng sinh học Đa dạng sinh học là một thuật ngữ bao trùm toàn diện cho mức độ đa dạng hoặc biến đổi của tự nhiên trong hệ thống tự nhiên; cả về số lượng và tần suất. Nó thường được hiểu theo nghĩa đa dạng của thực vật, động vật và vi sinh vật, các gen chứa chúng và hệ sinh thái mà chúng hình thành. Đa dạng sinh học mà chúng ta thấy ngày nay là kết quả của hàng tỷ năm tiến hóa, được định hình bởi các quá trình tự nhiên và ngày càng tăng bởi ảnh hưởng của con người.
Nó tạo thành mạng lưới sự sống mà chúng ta là một phần không thể thiếu và chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào đó. Cho đến nay, khoảng 2,1 triệu loài đã được xác định, chủ yếu là các loài nhỏ sinh vật như côn trùng. Các nhà khoa học tin rằng thực tế có khoảng 13 triệu loài, mặc dù theo ước tính của UNEP có từ 9,0 đến 52 triệu loài tồn tại trên trái đất (Mora et al. Đa dạng sinh học theo đó được xem xét ở 3 cấp độ chính: Đa dạng di truyền: Đây là sự đa dạng của thông tin di truyền có trong tất cả các loài thực vật, động vật và vi sinh vật riêng lẻ xuất hiện trong quần thể của loài.
Đơn giản đó là sự biến đổi gen trong loài và quần thể. Đa dạng loài: Đây là sự đa dạng của các loài hoặc các sinh vật sống. Nó được đo bằng - Độ phong phú của loài - Điều này đề cập đến tổng số loài trong một khu vực xác định. Sự phong phú của loài - Điều này đề cập đến số lượng tương đối giữa các loài.
Nếu tất cả các loài có cùng mức độ phong phú như nhau, điều này có nghĩa là sự thay đổi cao do đó tính đa dạng cao, tuy nhiên nếu một loài được đại diện bởi 96 cá thể, trong khi phần còn lại được đại diện bởi 1 loài, thì đây là mức độ đa dạng thấp. Trong tự nhiên, không phải tất cả các loài trong quần xã đều khác nhau như nhau. Có thể phân loại các loài trên cơsở chức năng của chúng a) Kiểu chức năng: Kiểu chức năng là những loài thực hiện các chức năng sinh thái khác nhau. 5 b) Các dạng tương tự về chức năng: Các dạng tương tự về chức năng đại diện cho các đơn vị phân loại riêng biệt thực hiện các chức năng sinh thái giống nhau hoặc rất giống nhau.
Đa dạng hệ sinh thái: Điều này liên quan đến sự đa dạng của môi trường sống, cộng đồng sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển. Đa dạng sinh học không phân bố đều trên Trái đất. Nó giàu có nhất ở vùng nhiệt đới. Đa dạng sinh học trên cạn có xu hướng cao nhất ở gần xích đạo (Gaston, 2000), điều này dường như là kết quả của khí hậu ấm áp và năng suất sơ cấp cao (Field et al.
Đa dạng sinh học biển có xu hướng cao nhất dọc theo các bờ biển ở Tây Thái Bình Dương, nơi có nhiệt độ mặt nước biển cao nhất và ở dải vĩ độ trung bình trong tất cả các đại dương. Mất đa dạng sinh học Mất đa dạng sinh học và những thay đổi liên quan trong môi trường bây giờ nhanh hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người và không có dấu hiệu của quá trình này chậm lại. Hầu như tất cả các hệ sinh thái của Trái đất đã bị biến dạng và thay đổi đáng kể bởi các hoạt động của con người và liên tục được chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp và sử dụng khác. Nhiều quần thể động vật và thực vật có nguy cơ suy giảm về số lượng và lan rộng về mặt địa lý.
Tuy nhiên, sự tuyệt chủng của loài là một phần tự nhiên của lịch sử Trái đất nhưng hoạt động của con người đã làm gia tăng sự tuyệt chủng, tăng ít nhất 100 lần so với tỷ lệ tự nhiên. Mất đa dạng sinh học là do một loạt các yếu tố tác động. Một yếu tố tác động là bất kỳ yếu tố tự nhiên hoặc do con người gây ra có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra sự thay đổi trong một hệ sinh thái. Một yếu tố tác động trực tiếp rõ ràng ảnh hưởng đến các quá trình của hệ sinh thái.
Yếu tố tác động gián tiếp có ảnh hưởng rộng hơn bằng cách thay đổi một hoặc nhiều yếu tố tác động trực tiếp.