Chương 1. Tổng quan tài liệu - Chương 2. Đối tượng, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Kết quả và bàn luận - Kết luận và kiến nghị.
4 CHƯƠNG TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về loài Chà vá chân xám Chà vá chân xám có tên khoa học là Pygathix cinerea. Theo Jablonski năm 1998, CVCX thuộc nhóm khỉ ăn lá (Colobinae), giống – Pygathrix, một trong trong 4 giống của khỉ mũi hếch châu Á gồm: Rhinopithicus, Pygathrix, Nasalis và Simias. Trong đó giống Pygathrix gồm có 3 loài chà vá: Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) và Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea).
Ngoài có phân bố ở Việt Nam, cả 2 loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) đều có phân bố ở Lào hoặc Campuchia. Riêng Chà vá chân xám là loài đặc hữu của Việt Nam và chỉ phân bố duy nhất ở 06 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Bình Định, Kon Tum và Phú Yên. Chúng được phát hiện năm 1995 và được mô tả sau đó hai năm bởi Tilo Nadler. Chà vá chân xám thường được tìm thấy trong rừng nhiệt đới ở độ cao từ 900 – 1300m (IUCN, 2020).
Về tình trạng bảo tồn, số lượng cá thể loài này đang bị suy giảm từ những năm 2000 và chúng nằm trong danh sách “25 loài linh trưởng bị đe dọa nhất trên thế giới”. Trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, loài CVCX được xếp vào nhóm IB thuộc nhóm động vật nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Ngoài ra, CVCX còn được xếp vào phụ lục I công ước CITES (gồm các loài bị de dọa tuyệt chủng, tuyệt đối nghiêm cấm buôn bán), xếp ở bậc cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Sách Đỏ thế giới (IUCN-Red List) năm 2018. Tình hình nghiên cứu, quản lý loài Chà vá chân xám 1.
Các nghiên cứu tại Việt Nam Việt Nam là một trong 16 quốc gia có độ đa dạng sinh học hàng đầu thế giới với hệ động thực vật, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, đa dạng sinh học nói riêng và tài nguyên thiên nhiên của nước ta nói chung đã bị xuống cấp, suy thoái đến mức độ đáng báo động do nhiều lý do khác nhau, trong đó khâu quản lý có tầm quan trọng đặc biệt. Việc quản lý đến nay hầu như vẫn chưa có được những tiến bộ mang tính đột phá là do chưa có sự tham gia tích cực của nhân dân nói chung và các cộng đồng địa phương nói riêng. Hay nói một cách khác là cần có một sự thay đổi trong toàn bộ xã hội về quản lý bảo vệ đa dạng sinh học và thiên nhiên.
Bảo tồn dựa vào cộng đồng không mới ở Việt Nam. Bảo tồn dựa vào cộng đồng đa số được ứng dụng trong quản lý, bảo tồn rừng cộng đồng, rừng ngập mặn, giao 5 khoán bảo vệ rừng, bảo tồn tài nguyên nước, tài nguyên biển, bảo tồn dựa vào cộng đồng ở các khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn. Mỗi nơi có các mô hình khác nhau, với vai trò tham gia của các cấp cộng đồng cũng khác nhau. Nhiều mô hình thành công như bảo vệ và khai thác bền vững cua Đá (Gecarcoidea lalandii) dựa vào cộng đồng – Mô hình đồng quản lý tài nguyên và môi trường ở Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam; thành lập các Tổ Tuần tra thôn bản ở các địa phương thuộc huyện Đông Giang, Tây Giang, Nông Sơn, Quế Sơn tỉnh Quảng Nam; mô hình Tổ tự quản bảo vệ Tài nguyên và môi trường biển thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghiên cứu quản lý động vật hoang dã nói chung, thú linh trưởng nói riêng dựa vào cộng đồng đã có nhiều nghiên cứu, mô hình triển khai ở các khu bảo tồn, vườn quốc gia trên cả nước. Điển hình trong số đó: mô hình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), tỉnh Hà Giang (Nguyễn Thế Phương, 2012); đánh giá vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn loài Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus) ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (Bế Thị Ngọc Anh, 2012); đánh giá vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý và bảo tồn Vườn Quốc gia Cúc Phương (Lưu Hoàng Yến, 2008), Nghiên cứu tác động của cộng đồng bản địa đến loài Voọc chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai của Trần Thị Kim Ly năm 2015. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào về quản lý loài Chà vá chân xám dựa vào cộng đồng tại Việt Nam. Các nghiên cứu về CVCX đa số tập trung vào số lượng, cấu trúc quần thể, đặc điểm sinh thái, thành phần thức ăn và tập tính.
Cụ thể như, nghiên cứu ngắn hạn về số lượng quần thể Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) ở núi Hòn Mỏ, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam (2009) [9]. Những nghiên cứu dài hạn bao gồm: nghiên cứu dài hạn của Hà Thăng Long về đặc điểm sinh thái và tình trạng loài và nghiên cứu của Nguyễn Thị Tịnh về Sinh thái dinh dưỡng của Voọc CVCX tại VQG Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai [10], [19]. Tại Quảng Nam, loài này có phân bố ở các huyện phía Trung và phía Nam: Nam Trà My, Bắc Trà My, Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn, Nam Giang, Phước Sơn…Quần thể có kích thước lớn nhất khoảng 200 cá thể tại Hòn Mỏ thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi, huyện Nông Sơn [9]. Các nghiên cứu tại Tam Mỹ Tây Với diện tích khu vực bảo tồn nhỏ (hiện tại chỉ 30ha) so với các khu vực bảo tồn có Voọc Chà vá chân xám đang sinh sống khác như vườn quốc gia Kon Ka Kinh, Gia Lai (41.780 ha); khu bảo tồn dự kiến tại Kon Plong, Kon Tum (30.000 ha), khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, Gia Lai (16.000 ha)… và có ưu thế là sự tham gia của cộng đồng địa phương bước đầu đã đạt kết quả tích cực như: thành lập Nhóm tuần tra thôn bản từ 10 thành viên trong cộng đồng năm 2019, tinh thần này được lan tỏa đến 6 các thành viên khác trong cộng đồng, các tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân…) cùng tham gia và 31/12/2021 UBND xã Tam Mỹ Tây đã ra quyết định thành lập Nhóm tiên phong bảo tồn loài Chà vá chân xám giúp công tác quản lý và truyền thông nâng cao nhận thức được thực hiện tốt hơn dưới sự hỗ trợ đồng hành tư vấn kỹ thuật từ cơ quan quản lý lâm nghiệp và Trung tâm bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet).
Đến nay đã có 02 đề tài nghiên cứu về thành phần thức ăn, tập tính và đặc điểm sinh thái của loài CVCX tại Tam Mỹ Tây. Các nghiên cứu đều tiến hành ở núi Hòn Dồ - nơi có diện tích lớn nhất và số lượng Chà vá chân xám đông nhất trong 04 khu vực CVCX sinh sống [18], [22]. Tuy nhiên hiện nay chỉ có một nghiên cứu của GreenViet vào năm 2019, 2020 về hiện trạng nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài Chà vá chân xám và chưa có nghiên cứu nào về quản lý loài Chà vá chân xám dựa vào cộng đồng tại xã Tam Mỹ Tây. Vì thế, tôi thực hiện nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý loài Chà vá chân xám dựa vào cộng đồng dựa trên hiện trạng nêu trên để có được bức tranh tổng quát về hiện trạng nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng sau 03 năm triển khai các hoạt động bảo tồn, truyền thông nâng cao nhận thức.
Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý CVCX dựa vào cộng đồng phù hợp, hướng tới mục tiêu hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Ngoài ưu thế nêu trên, quần thể loài Chà vá chân xám tại Tam Mỹ Tây đã và đang nhận được sự quan tâm, hỗ trợ rất lớn từ chính quyền tỉnh Quảng Nam về mặt cơ chế, chính sách. Cụ thể, ngày 09 tháng 02 năm 2021, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Hồ Quang Bửu đã có kết luận tại cuộc họp về Đề án Bảo tồn loài Chà vá chân xám tại xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Trong đó có kết luận nội dung số 2 như sau: “Giao Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, UBND huyện Núi Thành và các ngành liên quan hoàn thiện lại nội dung Đề án và nghiên cứu cơ sở pháp lý để tham mưu trình UBND tỉnh phê duyệt đảm bảo khả thi, đúng thẩm quyền, làm căn cứ tổ chức thực hiện; trong đó cần chú ý thêm các nội dung về sự đồng quản lý của Nhà nước và cộng đồng phải xuyên suốt trong cả quá trình thực hiện đề án, đặc biệt, lưu ý mục tiêu đến năm 2050 việc bảo tồn loài Chà vá chân xám phải dựa vào cộng đồng và định hướng vùng sinh cảnh để cho loài Chà vá chân xám sinh sống, phát triển đảm bảo bền vững đến năm 2050 và thống nhất cơ cấu nguồn vốn (tỉnh, huyện) đảm bảo khả thi trước khi trình phê duyệt”.
Đây là nội dung rất quan trọng trong việc định hướng, xây dựng mô hình quản lý CVCX dựa vào cộng đồng tại xã Tam Mỹ Tây. Ngoài ra, trong quá trình quản lý, chỉ đạo liên quan tới công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch tại địa phương thì tỉnh Quảng Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp lý khác như: - Quyết định số 2596/QĐ-UBND ngày 12/09/2021 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc Ban hành chương trình phát triển du lịch tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 có nhắc tới nội dung đẩy mạnh liên kết, hợp tác phát triển du lịch. 7 Trong đó có giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (phối hợp với Các Sở, ngành liên quan; UBND các huyện, thành phố: Tam Kỳ, Phú Ninh, Núi Thành) xây dựng Kế hoạch liên kết phát triển du lịch Tam Kỳ - Phú Ninh - Núi Thành đến năm 2025.