ĐẶT VẤN ĐỀ Voi châu Á (Elephas maximus Linnaeus, 1758) là loài thú có kích thước lớn, hoạt động ở nhiều dạng sinh cảnh khác nhau như: Trảng cỏ, rừng thường xanh nhiệt đới, rừng bán thường xanh, rừng rụng lá ẩm, rừng khộp, rừng khô cây gai, các khu rừng thứ sinh, trảng cỏ thứ sinh và đất canh tác nông nghiệp (Cục Động vật hoang dã và Công viên Quốc gia bán đảo Malaysia, Kuala Lumpur, Malaysia). Với mức độ suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể ở ngoài tự nhiên hiện nay, loài Voi châu á (Elephas maximus) đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu ở các mức đe dọa tuyệt chủng cao: cấp rất nguy cấp (CR) trong Sách đỏ Việt Nam (2007), cấp Nguy cấp (EN) trong Danh sách đỏ thế giới (IUCN, 2023), nhóm IB trong Nghị định quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 84/2021/NĐ-CP sửa đổi của Nghị định 06/2019/NĐ-CP quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp) và phụ lục I của Công ước quốc tế về quản lý buôn bán động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm [CITES, 2023]. Tại Việt Nam quần thể Voi châu á bị suy giảm nghiêm trọng do mất rừng tự nhiên và nạn săn bắn trái phép voi. Theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp, quần thể voi châu Á hoang dã ở Việt Nam giảm 95% sau 40 năm từ năm 1975 - 2015.
Hiện nay chỉ còn trên 100 cá thể, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đắk Lắk, Đồng Nai và Nghệ An [Tiến Hùng, 2017]. Khu vực bảo tồn loài và và sinh cảnh voi Quảng Nam (LSCV) nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Nam trên dãy Trường Sơn. Địa hình khá đa dạng, thấp hơn từ Tây sang Đông, chủ yếu là núi cao, thung lũng và đồi. Khí hậu của khu vực là gió mùa nhiệt đới và được chia thành hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa.
Hệ thống sông trong khu vực cũng khá đa dạng và đặc biệt quan trọng đối với LSCV (Long và Hoàng, 2006). Hầu hết diện tích của LSCV nằm trong lưu vực sông Thu Bồn (Long và Hoàng, 2006; MARD, 2016). 2 Khu bảo tồn LSCV nằm trên hai vành đai độ cao, trên 1000 m và dưới 1.000 m, tạo thành hai kiểu thảm thực vật chính là rừng cận nhiệt đới lá rộng thường xanh và rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ẩm (MARD, 2016). Voi là một loài có ảnh hưởng lớn đến các chiến lược bảo tồn của LSCV, nhưng rất ít thông tin về cấu trúc xã hội, vùng sống và sinh thái thức ăn có sẵn để đưa ra các quyết định quản lý bảo tồn thích hợp.
Thông tin duy nhất cho đến nay là sự hiện diện của một đàn khoảng 5 - 7 cá thể voi trong LSCV (Bộ NN & PTNT, 2016). Báo cáo gần đây cũng xác nhận sự hiện diện của loài voi bằng bẫy ảnh (WWF, 2019). Đến năm 2020, WWF thực hiện Điều tra đa dạng sinh học KBT loài và sinh cảnh voi Quảng Nam đã phát hiện 8 cá thể voi trong đó có 1 con voi con. Tuy nhiên các báo cáo mới chỉ đánh giá được hiện trạng về kích thước đàn của quần thể, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu.
Do vậy, nghiên cứu này sẽ thực hiện "Nghiên cứu về tình trạng và Đề xuất giải pháp bảo tồn loài voi châu Á (Elephas maximus Linnaeus, 1758) tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voi Nông Sơn, Quảng Nam” nhằm bổ sung cơ sở dữ liệu về hiện trạng quần thể, cấu trúc đàn, vùng phân bố, thành phần các loài thực vật được voi sử dụng làm thức ăn, đánh giá các mối đe doạ hiện tại đến loài và sinh cảnh voi để đề xuất giải pháp bảo tồn lâu dài. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về loài voi châu Á 1. Phân loại học Tên phổ thông: Voi châu Á Tên khoa học: Elephas maximus Linnaeus, 1758 Tên tiếng anh: Asian elephant Họ: Voi - Elephantidae Bộ: Có vòi - Proboscidea Tình trạng bảo tồn: - Nghị định 64/2019/NĐ-CP: Phụ lục I - Nghị định 84/2021/NĐ-CP: IB - Công ước CITES (2023): Phụ lục I - Sách đỏ IUCN (2023): Nguy cấp (EN) 1.
Đặc điểm nhận dạng Voi châu á thuộc họ Elephantidae, Bộ có vòi (Proboscidea), hiện nay chỉ có một họ Voi (Elephantidae) với 2 giống: giống Loxodonta ở Châu Phi có 2 loài (Loxodonta africana và Loxodonta cyclotis) và giống Elephas ở châu Á có 2 loài Voi châu á (Elephas maximus) và Voi srilanka (Elephas maximus maximus). Voi châu phi (Loxodonta sp) có ngà cả ở con đực và con cái, tai rất lớn. Voi châu á (Elephas maximus) chỉ con đực mới có ngà.[Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009] Voi châu Á có thân cỡ rất lớn, có thể dài tới 6m. Môi trên và mũi phát triển kéo dài thành vòi dài chấm đất.
Hai răng cửa lớn phát triển thành ngà. voi đực có hai ngả, mỗi ngả dài tới 150 cm, nặng 15 - 20 kg. Có 12 răng hàm, các răng mọc sát nhau gần như một khối. Da dày, lông thưa, dải, cứng màu nâu xám (đôi khi trắng).
Voi châu á sống ở rừng thưa, rừng thứ sinh pha tre nứa, xen lẫn các trảng cỏ trong các thung lũng hay các vùng đồi thấp. Độ cao phân bố lên tới 1500 – 1600 m so với mặt nước biển. Thức ăn chủ yếu là cỏ, lá 4 cây, cành cây nhỏ, măng tre cây chuối rừng. Chu kỳ sinh sản 4 - 5 năm 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con, thời gian mang thai 21 - 22 tháng.
voi sơ sinh nặng 90 - 100 kg, có thể cao tới 1 m. Tuổi sinh sản khoảng 15 - 50 tuổi. Tuổi thọ 80 - 90 năm hoặc hơn. Là loài thú lớn quý hiếm.
Với được thuần hóa để phục vụ cho đời sống: kéo gỗ, thồ hàng, dùng trong chiến trận, nuôi trong vườn thú, làm xiếc, ngà voi có giá trị xuất khẩu và làm hàng mỹ nghệ. Tình trạng loài voi châu Á 1. Trên thế giới Theo thống kế mới nhất quần thể voi châu Á trên thế giới có khoảng từ 41. Trong đó, Ấn Độ là quốc gia ước tính có số lượng cá thể lớn nhất khoảng 30.000 cá thể chiếm khoảng 60% số cá thể voi trên toàn cầu, Nepan là quốc gia có số cá thể ước tính thấp nhất khoảng 125 cá thể, tiếp theo là Việt Nam với khoảng 150 cá thể ước tính.
Những nghiên cứu về loài voi châu Á ngoài tự nhiên chủ yếu tập trung ở lĩnh vực điều tra, đánh giá tình trạng và xác định vùng phân bố của loài. Tiêu biểu là các công trình: Chukeaw & Whohandee (2005); Sukumar et al (2001). Tuy nhiên, những điều tra đánh giá này chỉ mới tập trung ở một số Quốc gia có số lượng có thể voi lớn như Srilanka, Thái Lan, Ấn Độ, Campuchia. Do phạm vi nghiên cứu rộng (lãnh thổ toàn quốc) nên hầu như các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc ước lượng số có thể voi trong từng vùng phân bố, chưa đưa ra được con số chính xác quần thể cũng như các vấn đề chuyên sâu khác.
Voi châu á trước đây phân bố từ Tây Á dọc theo bờ biển Iran vào tiểu lục địa Ấn Độ, về phía đông vào Đông Nam Á, bao gồm Sumatra, Java, Borneo và vào Trung Quốc đến tận Dương Tử-Kiang. Dải phân bố trước đây bao phủ hơn 9 triệu km2 (Sukumar, 2003). Voi châu á giờ đã tuyệt chủng ở Tây Á, Java, và hầu hết Trung Quốc (Olivier 1978; Sukumar 2003). Sự suy giảm này vẫn đang xảy ra ở những quần thể bị cô lập nằm rải rác trên 13 quốc gia thuộc phạm vi châu Á, nhưng nhiều quần thể này đang bị đe dọa bởi mất 5 môi trường sống, săn trộm và xung đột với con người (Santiapillai & Jackson 1990; Sukumar 1992; Duckworth & Hedges 1998; WWF 2002a).
Ước lượng quần thể voi châu á ở các quốc gia Số cá thể ước lượng Quốc gia Nguồn Tối thiểu Tối đa Karanth & Sunquist, 1992; Sukumar, India 26.770 1992 Nepal 100 125 Smith & Mishra, 1992 Santiapillai & Jackson, 1990; Kemf Bhutan 250 500 & Santiapillai 2000 Bangladesh 150 250 Blake & Hedges,2004 China 200 250 Duckworth & Hedges 1998 Myanmar 4000 5000 Lynam 2003 Kemf & Santiapillai 2000; Lanka Thailand 2500 3200 2000 Duckworth & Hedges 1998; Laos 500 1000 Duckworth, 1999 Cambodia 250 600 Duckworth & Hedges 1998 Vietnam 70 150 Duckworth & Hedges 1998 Boonratana 1997; Alfred 2002; Malaysia 2100 3100 Ambu, 2002 Indonesia 2400 3400 Hedges, et al., 2003 Santiapillai & Jackson 1990; Sri Lanka 2500 4000 Santiapillai & Wijeyamohan. Ở Việt Nam Quần thể voi Việt Nam ước tính khoảng 70 - 130 cá thể, nhiều nhất ở khu vực Đắc Lắk với khoảng 83 - 110 cá thể, ít nhất ở Quảng Nam khoảng 6 - 7 cá thể (Bảng 1. 6 Theo các điều tra khảo sát gần đây cho thấy, trên phạm vi toàn quốc hiện chỉ còn khoảng 10 khu vực được xác định là có voi sinh sống, trung bình mỗi đàn khoảng 4-6 cá thể phân bố chủ yếu dọc biên giới Việt - Lào và Campuchia, bao gồm các tỉnh: Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắc Lắk, Bình Phước và Đồng Nai. Số lượng cá thể và quy mô đàn lớn nhất chủ yếu tập trung tại 3 khu rừng đặc dụng là: VQG Pù Mát (tỉnh Nghệ An), VQG Yok Don (tỉnh Đắk Lắk), VQG Cát Tiên và Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (tỉnh Đồng Nai) (Nguyễn Xuân Đặng, 2015).
Ước tính quần thể voi châu Á tại Việt Nam Kích Tỉnh thước Phân bố Năm Nguồn quần thể Nguyễn Mạnh Tây Nam Cát Tiên, Đồng Nai 12 cá thể 2013 Hà và Cs, Đông Bắc Vĩnh Cửu 2013 Yok Đôn, 7 đàn 55 - 63 10 đàn cá thể; Ya Lốp 2 đàn 24 Đỗ Huy và Cs, Đắc Lắk khoảng 83 2009 - 42 cá thể; Chư Pã 1 2009 - 110 đàn 4 - 5 cá thể 13 - 17 cá Võ Công Anh Nghệ An Nghệ An 2013 thể Tuấn, 2013 KBT loài và sinh cảnh 6 - 7 cá thể 2019 WWF, 2019 voi Nông Sơn Quảng Nam Nguyễn Đình 2 cá thể Huyện Bắc Trà My và 2021 Duy và cs, voi cái Hiệp Đức, Quảng Nam 2021 Tại Đồng Nai, Theo kết quả đánh giá của Nguyễn Mạnh Hà và Cộng sự năm 2013 cho thấy hiện trạng quần thể voi ở Đồng Nai còn ít nhất 12 cá thể đang hoạt động ở khu vực Tây Nam Cát Tiên và Đông Bắc Vĩnh Cửu và khu 7 vực Phân trường 2 của Công ty Lâm nghiệp La Ngà. Có 6 cá thể voi chết đã gây ra sự suy giảm đến 30% của tổng cá thể của cả quần thể voi trong khu vực. Tại Đắc Lắk, Năm 2009 tác giả Bảo Huy và cộng sự đã khảo sát, đánh giá và thống kê ở khu vực Đắc Lắk hiện có khoảng 83-110 cá thể voi hoang dã đang sinh sống.