Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về lớp thú Lớp Thú tên khoa học là Mammalia, gồm những loài có tổ chức cao nhất trong các lớp động vật có xương sống. Chúng có thân nhiệt cao và ổn định. Hệ thần kinh rất phát triển, đặc biệt là lớp vỏ xám của não bộ. Đẻ con và nuôi con bằng sữa.
Trong một số tài liệu tiếng Việt khác gọi là (lớp) động vật có vú (động vật hữu nhũ), vì đặc điểm của chúng là có nhiều tuyến vú dưới da ngực, tiết ra sữa để nuôi con mới sinh. Ngoài ra động vật thuộc lớp này có 3 xương nhỏ trong tai, da có lông, răng và não phát triển cao cấp hơn những loài lớp khác, tim có 4 thất, và máu nóng.1 Lớp Thú có 3 dạng chính do thích nghi với môi trường sống Dạng có đầu, mình, cổ và đuôi phân biệt rõ ràng: Dạng này chiếm đa số các loài trong lớp thú, các loài này chủ yếu là sống trên cạn. Ví dụ: Mèo, Thỏ, Trâu, Bò. Dạng có cánh: Dạng này thích nghi với môi trường sống không khí, có khả năng bay lượn.
Giữa các ngón của chi, có lớp da, y như cánh của các loài chim, Ví dụ: Dơi. Hoặc màng da nối chi trước với cổ, chi sau. Ví dụ: Chồn bay. Dạng thích nghi bơi lội: Cơ thể có các chi biến đổi thành các vây.
Lớp da thì trở nên trơn, bóng hơn. Ví dụ: Cá voi, Cá heo, và một số khác.2 Môi trường sống Thú có khả năng điều hòa thân nhiệt tốt, giúp cho thân nhiệt luôn ở mức cao và ổn định (đa số loài thú có thân nhiệt ổn định từ 36 - 38oc). Điều này giúp thú ít bị lệ thuộc vào các điều kiện khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm) như các lớp có xương sống thấp và do đó có khả năng sinh sống ở nhiều điều kiện môi trường khác nhau. Do có khả năng thích nghi cao với các điều kiện môi trường sống, nên các loài thú có sự phân bố cực kỳ rộng trên trái đất, chiếm cứ được sự đa dạng n 4 của các ổ sinh thái trên mặt đất, dưới đất, trên cây, trong không gian (thú bay) và trong nước.3 Nơi cư trú: Đại bộ phận các loài thú cần nơi trú ẩn để nghỉ, sinh sản, hoặc thay lông.
Nơi cư trú của thú có thể chia ra: nơi cư trú tạm thời (Nai, Hoẵng, Sơn dương, Hổ, Báo,…), nơi cư trú cố định (Khỉ, Voọc, Dơi, Don, Cầy…) và tổ chính thức (Nhím, Dúi, Chuột chũi, Tê tê,…).4 Chế độ ăn: các loài thú có chế độ ăn khác nhau, dựa vào chế độ ăn có thể chia thú thành các nhóm sau: Thú ăn côn trùng: họ chuột chũi (Talpidae), bộ chuột chù (Soricomorpha). Thú ăn thịt gồm hầu hết các loài thuộc bộ ăn thịt (Carnivora), một số loài thú túi,… Thú ăn thực vật: gồm Bộ linh trưởng (Primates), móng guốc (Perissodactyla; Artiodactyla), Thỏ (Lagomorpha) … Thú ăn tạp: (Lợn rừng, Gấu chó, Lửng chó,…). Nhiều loài thú ăn thịt cũng ăn cả thực vật (Cầy giông, Cầy hương, Lỏn tranh.5 Chu kỳ hoạt động Do có khả năng điều hòa thân nhiệt cao nên hoạt động ngày và hoạt động mùa của các loài thú ít lệ thuộc vào sự biến động của điều kiện khí hậu mà tùy thuộc nhiều vào sự biến động của nguồn thức ăn, đặc biệt là các con mồi trong ngày và trong năm và sự an toàn của nơi cư trú. Chu kỳ hoạt động ngày: Các loài thú ăn thịt nhỏ (Mèo rừng, Cầy giông,…) hoạt động kiếm ăn về đêm vì chủ yếu các con mồi của chúng hoạt động về đêm (Chuột,…).
Đa số các loài thú ăn thịt lớn (Hổ, Chó sói,…) săn bắt thú rừng, cũng đi ăn đêm nhưng có khi ra ăn cả ban ngày nếu chúng phát hiện ra con mồi. Khoảng thời gian hoạt động thực sự phụ thuộc vào chu kỳ trăng (thú không hoạt động khi trăng sáng). Một số loài chuyên ăn côn trùng (Đồi,…), ăn cá (Rái cá, thú biển,…), ăn chim (Chồn vàng, Triết,…) đi ăn ngày. n 5 Các loài thú ăn thực vật thường hoạt động ban ngày (diurnal) như các loài Sóc, Khỉ, Vượn, Nai, Hoẵng.
Một số ít loài thú ăn thực vật vì lý do tự vệ (đi ăn đơn độc, nơi đi ăn gần người qua lại,…) chuyển sang hoàn toàn ăn đêm (Chuột đồng, Cầy vòi hương, Nhím, Don,…) hoặc một phần ăn đêm (Nai, Hoẵng,…). Chu kỳ hoạt động mùa: các loài thú ôn đới có hiện tượng ngủ đông khi thức ăn trở nên khan hiếm trong mùa lạnh. Chỉ một số loài thú (Dơi,…) có hiện tượng ngủ đông, nhưng là do tính di truyền do các loài này thuộc vùng ôn đới hoặc núi cao.6 Di cư Một số loài thú có hiện tượng di cư vì thiếu thức ăn. Nhiều loài dơi ở phía Bắc tới mùa lạnh di cư về phía Nam, nơi có nhiều côn trùng hơn.
Một số loài như Hổ, Voi rừng,… khi điều kiện sinh cảnh cho phép có thể di cư từ vùng này sang vùng khác cách xa nhau hàng trăm kilômét để kiếm ăn.7 Vùng lãnh thổ Nhiều loài thú có tập tính chiếm cứ một diện tích sinh cảnh nhất định làm vùng lãnh thổ là nơi trú và hoạt động của đàn nhiều cá thể cùng loài. Vùng lãnh thổ của mỗi đàn hoặc cá thể phụ thuộc vào kích thước cơ thể của loài, số lượng cá thể trong đàn, tập tính hoạt động của loài và độ phong phú của thức ăn, nước uống trong môi trường. Lược sử nghiên cứu khu hệ thú ở Việt Nam 1. Thời kỳ trước năm 1945 Những công trình nghiên cứu về Thú ở nước ta được bắt đầu từ rất sớm.
Trong các nghiên cứu có thể kể đến “Vân đài loại ngữ” và “Phủ biên tạp lục” của Lê Quí Đôn (1724-1784); “Đại nam nhất thống chí” của các nhà bác học triều Nguyễn (1874). Người ta có thể thấy các loài thú phổ biến ở nhiều tỉnh trên cả nước đã được ghi nhận trong tài liệu này. n 6 Trong thế kỷ XIX, nhiều tài liệu về khu hệ thú ở Việt Nam đã bắt đầu được công bố trên các sách báo của Châu Âu. Những năm Pháp đô hộ, các nhà khoa học người Pháp cũng bắt đầu tìm hiểu thiên nhiên của Việt Nam và đặc biệt quan tâm tới nhóm thú.
Các công việc điều tra thu thập mẫu trong thời gian đầu chủ yếu do các nhà động vật nghiệp dư tiến hành. Những tài liệu ban đầu về thú ở Nam Bộ và Trung Bộ đã được nhiều nhà khoa học công bố như: Jouan (1868), Dr. Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình nghiên cứu thú ở nước ta có nhiều tiến triển hơn. Đáng chú ý là đoàn nghiên cứu thú ở nước ta do Pavie dẫn đầu đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thu thập số liệu về thú từ năm 1879 đến năm 1898 ở nhiều địa điểm miền nam Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đoàn được công bố trong bộ sách “Nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của Đông Dương” (Recherches sur L. Histoire naturelle de L. Indochine Orietale, Mission Pavie,1979-1898). Có thể coi đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và tương đối hoàn chỉnh về thú ở Đông Dương.
Trong công trình đó De Pousagues đã thống kê được 200 loài và loài phụ thú ở Việt Nam, Lào Campuchia và Thái Lan; Riêng Việt Nam đã thống kê dược 117 loài và loài phụ. Trong khoảng thời gian từ năm 1900-1929 nhiều thông báo có kết quả nghiên cứu và mô tả các loài thú gặp đầu tiên ở Việt Nam của các tác giả: Baurae (1900), Huede (1901), Anonyme (1902), Bonhote J. Delacour đã tiến hành sưu tập mẫu thú ở Bắc Bộ, Trung Bộ và một số vùng ở Nam Bộ. Trong 2 năm 1923-1924, Herbert Steven (Mỹ) đã tiến hành sưu tập thú Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ở Yên Bái; F.R Wulsin sưu tầm thú ở Lai Châu vào năm 1924.Osgood đã tập hợp tất cả những tài liệu của các tác giả trên và đưa ra thông báo chung về thú và đã thống kê 172 loài và phân loài.
Đây là tài liệu có giá trị về nghiên cứu phân loài và khu hệ thú ở Việt Nam. Thời kỳ 1945 đến 1954 Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) hoạt động nghiên cứu về thú ở Việt Nam bị gián đoạn. Trong những năm này nhiều nhà khoa học Pháp đã dựa trên những tiêu bản, những ghi nhận thực địa để tổng hợp công bố thêm về thú ở Việt Nam và Đông Dương. Thời kỳ từ 1954 đến 1975 Ở Miền Nam, do bị đế quốc Mĩ chiếm đóng các hoạt động nghiên cứu thú gần như bị đình trệ mãi đến những năm của thập kỷ 60.
Đáng chú ý có công trình của Vương Đình Sâm - Giáo sư Trường Nông-Lâm-Súc Sài Gòn (1960-1970). Ông đã biên soạn giáo trình giảng dạy cho sinh viên của trường, trong đó có phần “Thú lạp” mô tả nhiều loài thú thuộc các bộ Dơi, Gặm nhấm, Linh Trưởng, Móng Guốc, Thú ăn thịt có ở miền Nam Việt Nam. Một số nhà khoa học nước ngoài đã tiến hành khảo sát nghiên cứu các nhóm thú có liên quan đến dịch tế học, chủ yếu là các loài thú thuộc bộ gặm nhấm (Rodentia). Một số công trình đã công bố như: Van Peenen et al.
Ducan et al. Công trình “Perliminary Idetification Mammals of South Viet Nam” của Van Peenen et al (1969) đã thống kê 151 loài thú ở miền Nam Việt Nam (từ Quảng Trị trở vào) ghi nhận khái quát về phân bố của chúng. Ở miền Bắc, từ những năm sau 1954 (Sau khi hòa bình lập lại), việc nghiên cứu thú đã bước đầu có những tiến bộ và do các nhà khoa học Việt Nam tiến hành. Công tác điều tra nghiên cứu lúc đầu chỉ do một số ít cơ quan, chủ yếu là các trường Đại học, tiến hành với lực lượng cán bộ còn nhỏ, trình độ thấp.
n 8 Địa bàn điều tra hẹp; nội dung điều tra tập trung vào thu thập mẫu vật và thống kê thành phần loài. Trong những năm 1955-1959, chủ yếu gồm các đợt điều tra lẻ tẻ của Khoa Sinh trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) để phục vụ giảng dạy và học tập của sinh viên. Vào những năm 1960-1975, công tác nghiên cứu thú do 3 cơ quan chính đảm nhận là: Ban sinh vật - Địa học của Ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước; Khoa sinh vật học của trường Đại học tổng hợp Hà Nội; Viện điều tra qui hoạch rừng thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Ngoài ra, có một số cơ quan khác cũng tiến hành nghiên cứu như: Viện vệ sinh dịch tễ.