mở đầu cho thời kì nghiên cứu hệ thực vật.I cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý ”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể.I đã đưa ra một nhận định là số loài của 1 hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường xanh là 1500 – 2000 loài [26] Brumit (1992) [17] chuyên gia của Phòng Bảo Tàng Thực Vật Hoàng Gia Anh trong cuốn “Vascular plant families and genera ” đã thống kê tiêu bản thực vật cao có mạch trên thế giới vào 551 họ, 13.884 chi, 6 nghành là: Khuyết lá Thông (Plilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae). Trong đó nghành hạt kín (Angiospermae) có 13.477 chi 454 họ và được chia ra hai lớp là: Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao 4 gồm 10.715 chi, 357 họ và Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2.762 chi, 97 họ [5] Takhtajan [20] Viện sỹ thực vật, Acmenia đã có những đóng góp lớn cho khoa học phân loại thực vật. Trong cuốn “Diversity and Classifcation of Flowering Plant” (1997), đã thống kê và phân chia toàn bộ thực vật Hạt kín trên thế giới khoảng 260.000 loài, vào khoảng 13.
591 họ 232 bộ thuộc 16 phân lớp vá 2 lớp. Trong đó Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 11 phân lớp, 175 bộ,458 họ, 10.500 chi; không dưới 195.000 loài vào Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) gồm 6 phân lớp, 57 bộ, 133 họ, trên 3000 chi và khoảng 65. Nghiên cứu về nguy cơ gây suy giảm và các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật WWF (1990) đã xuất bản cuốn sách tầm quan trọng của ĐDSV. IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới.
IUCN và UNEP đưa ra chiến lược bảo tồn ĐDSV toàn cầu. Ngân hàng Thế giới (WB), WWF (1991) xuất bản cuốn bảo tồn ĐDSV thế giới. IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn Cứu lấy trái. IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lược ĐDSV và chương trình hành động.
WCMC (1992 – 1995) công bố một cuốn sách tổng hợp các tư liệu về ĐDSV của các nhóm sinh vật khác nhau trên toàn thế giới nhằm làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng có hiệu quả Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á. Vào những năm đầu của thế kỷ XX trong chương chình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Perry công bố 1000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách “Medianal of East and Southeast Asia” 1. Ở Việt Nam Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và của thực vật nói riêng. Do vậy, thành phần loài thực vật ở Việt Nam cũng rất đa dạng và phong phú, nó có cấu trúc phức tạp, và đa dạng về loài, là một trong những trung tâm đa 5 dạng sinh học của thế giới.
Việc nghiên cứu về đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật ở Việt Nam cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiến hành từ khá sớm. Ngay từ thế kỷ XV, XVII, có các danh y Tuệ Tĩnh và Lê Hữu Trác nghiên cứu về thực vật và cây thuốc. Từ thời Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu phương Tây như Loureiro (1790) đã mô tả gần 700 loài thực vật Nam bộ, Pierre (1879) cũng mô tả 800 loài cây gỗ rừng Nam bộ. Công trình Thực vật chí Đông Dương gồm 7 tập chính và 1 tập bổ sung, đã được công bố từ năm 1907 – 1952 bởi nhà thực vật người Pháp H.
Lecomte chủ biên. Trong công trình này tác giả đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả cho 7004 loài thực vật bậc cao có mạch ở Đông Dương. Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dương Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật nước ta có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch 1850 chi, và 289 họ. Thái Văn Trừng đã khẳng định ưu thế của nghành hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (chiếm 90,9 %), 1727 chi (chiếm 93,4%) và 239 họ (chiếm 82,7%) Những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam phải kể đến 2 công trình có giá trị đó là “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963 – 1978),tác giả tổng hợp các công trình trước đây cùng với nghiên cứu của mình công bố 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ ở Việt Nam.
Thái Văn Trừng đã khẳng định ưu thế của nghành Hạt kín (Angiospermae) trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (90,09%), thuộc 1727chi (94,4%) và 239 họ (82,7%) trong tổng số các taxon của mỗi bậc. Các nghành thực vật khác nhìn chung chiếm 1 tỉ lệ không nhiều trong hệ thực vật [19]. “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương đã tiến hành phân chia rừng miền Bắc Việt Nam, trong đó rừng miền Bắc Việt Nam chia ra làm 3 đai, 8 kiểu. Ngoài ra, ông còn chia các kiểu rừng phụ, trong đó rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao ông không dùng mà chỉ dùng loại hình này thay cho kiểu, sau loại hình là kiểu phụ [10].
6 Ở miền Nam, trong thời gian này Phạm Hoàng Hộ cũng cho xuất bản công trình “Cây cỏ Việt Nam” công bố 5326 loài thực vật có ở miền Nam Việt Nam, trong đó thực vật bậc thấp có 60 loài, Rêu có 20 loài, còn lại là các loài có mạch là 246 loài. Đây là một công trình tổng hợp về thực vật miền Nam Việt Nam.[7] Tác giả Phan Kế Lộc trong công trình “Bước đầu thống kê loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam” đã cung cấp số liệu về số loài của các nghành bậc cao có trong hệ thực vật này là 5609 loài, thuộc 1660 chi và 140 họ. Trong đó nghành Hạt kín (Angiospermae) cũng chiếm ưu thế với 5069 loài, còn lại các nghành khác chỉ chiếm có 540 loài Lê Khả Kế công bố bộ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam gồm 6 tập. Viện điều tra quy hoạch rừng công bố Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam.
Tập thể các nhà thực vật học Việt Nam (2001, 2003, 2005) biên soạn cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam [4] và bộ Thực vật chí Việt Nam. Hiện nay đã xuất bản được 11 tập. Đây là các tài liệu rất hữu ích cho việc nghiên cứu tiếp theo về tài nguyên thực vật của Việt Nam - Đỗ Tất Lợi, 1986, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nxb Khoa học KT, Hà.
- Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [14] đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11. - Bộ Khoa học và Công nghệ, 1996, Sách Đỏ Việt Nam. Nxb Khoa học KT, Hà Nội. - Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2000, Tên cây rừng Việt Nam.
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. - Lê Trọng Cúc, 2002, Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên. Nxb ĐH Quốc gia, Hà Nội. Gần đây nhất là năm 2001 – 2005, tập thể các tác giả thuộc trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và môi trường - ĐHQGHN, Viện Sinh thái và tài 7 nguyên sinh vật - Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam, trên cở sở tập hợp các mẫu tiêu bản thực vật rừng với các tài liệu đã có, đã xuất bản bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” gồm 3 tập.
Bộ sách này đã thống kê đầy đủ nhất các loài thực vật có ở Việt Nam với tên khoa học cập nhập mới nhất. Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật: Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật Gagnepain (1926), (1944) được trình bày trong hai công trình là: Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương và Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương. Pocs Tamas (1965) [31] đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam có 5. Tác giả đã xây dựng phổ các yếu tố địa lý cho hệ thực vật ở miền Bắc Việt Nam, trong đó các yếu tố cũng như thành phần của chúng đều có sự thay đổi so với những kết quả nghiên cứu của Gagnepain, cụ thể như sau: - Nhân tố bản địa đặc hữu 39,90% + Việt Nam 32,55% + Đông Dương 7,35% - Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới 55,27% + Trung Hoa 12,89% + Ấn Độ và Hymalaya 9,33% + Malaysia - Indonesia 25,69% + Các vùng nhiệt đới khác 7,36% - Nhân tô khác 4,83% + Ôn đới 3,27% + Thế giới 1,56% + Nhân tố nhập nội, trồng trọt 3,08% Năm 1978, Thái Văn Trừng [18] căn cứ vào bảng thống kê các loài của hệ thực vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu.
Tuy nhiên, khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ 8 Nam Trung Hoa và nhân tố bản địa đặc hữu Việt Nam làm một (45,7% cộng theo Gagnepain và 52,79% cộng theo Pocs Tamas) và căn cứ theo khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản địa lên 50%, yếu tố di cư chiếm tỷ lệ 39% (trong đó từ Malaysia – Indonesia là 15%, từ Hymalaya – Vân Nam – Quí Châu là 10% và từ Ấn Độ - Miến Điện là 14%), các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới và 1% thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%. Trên cơ sở phân tích các yếu tố địa lý thực vật của nhiều địa phương trên toàn quốc, kết hợp với những đánh giá, nhận xét về địa lý thực vật Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [6] đã tổng hợp và kết luận hệ thực vật Việt Nam được cấu thành bởi các yếu tố: 1, Yếu tố đặc hữu Việt Nam: Là những loài chỉ phân bố trong phạm vi của Việt Nam 2, Yếu tố Đông Dương: Bao gồm Đông Dương hẹp là các loài chỉ phân bố trong pham vi 3 nước Đông Dương và Đông Dương rộng là những loài phân bố trong phạm vi 3 nước Đông Dương đến Vân Nam (Trung Quốc), Thái Lan, Miến Điện về phía Tây Bắc và bán đảo Mã Lai về phía Nam. 3, Yếu tố Đông và Đông Nam Á: gồm những loài phân bố trong phạm vi 3 nước Đông Dương về phía Bắc đến các tỉnh phía Nam sông Hoàng Hà (Trung Quốc) và về phía nam của bán đảo Mã Lai.