MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và địa hình tương đối phức tạp, nên hệ sinh thái cảnh quan ở Việt Nam khá đa dạng. Chính vì vậy, nước ta rất phù hợp cho sự phát triển của các loài động vật nói chung và các loài ốc nói riêng. Lớp Chân bụng (Gastropoda) bao gồm các loài ốc và sên trần, chúng nằm trong 3 phân lớp: phân lớp mang trước (Prosobranchia), phân lớp mang sau (Opisthobranchia) và phân lớp có phổi (Pulmonata).
Trong đó phân lớp mang trước và phân lớp có phổi là phân lớp phổ biến ở nước ta sống ở cả môi trường nước ngọt, nước lợ, nước mặn và trên cạn, còn phân lớp mang sau chủ yếu sống ở biển, môi trường nước mặn, nước lợ. Thân mềm chân bụng có vai trò quan trọng đối với con người và môi trường. Đối với con người, các loài chân bụng là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thịt và dịch nhớt còn hiệu quả trong điều trị một số bệnh về tiêu hóa, tim mạch, sưng đau, mụn nhọt, hen suy n và khớp. Đối với môi trường, các loài ốc và sên trần có vai trò phân hủy vật chất hữu cơ rơi rụng, đẩy nhanh quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tự nhiên, làm sạch môi trường.
Sự phản ứng và thích nghi của các loài thân mềm chân bụng trong môi trường sống phản ánh được đặc điểm của môi trường sống đó. Vì thế, người ta coi các loài ốc như nhóm sinh vật chỉ thị cho tình trạng thay đổi của môi trường, có thể đánh giá chất lượng hoặc những thay đổi môi trường thông qua thành phần loài, sự biến mất hoặc suy giảm số lượng cá thể của nhóm loài bản địa. Ở Việt Nam các công trình nghiên cứ về ốc cũng có rất nhiều nhưng công trình nghiên cứu mang tính tổng thể đối với cả ngành thân mềm hoặc cả nhóm động vật sống ở đáy tại các khu vực khác nhau. Chưa có sự tổng hợp riêng về từng nhóm nhỏ, trong đó có 2 phân lớp là phân lớp mang sau (Opisthobranchia) và phân lớp có phổi (Pulmonata) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Luan van 2 Huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định có diện tích rừng ngập mặn tự nhiên lớn, nơi có hệ sinh thái RNM phong phú, nơi tiếp giáp cửa sông Hồng và nằm trong vườn quốc gia Xuân Thủy. Nơi đây được cho là có mức độ đa đa dạng sinh học cao trong số các hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển phía Bắc Việt Nam [10]. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Điều tra, đánh giá về thành phần loài ốc mang sau (Opisthobranchia) và ốc phổi (Pulmonata) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được hiện trạng về thành phần loài của phân lớp ốc mang sau và ốc có phổi tại rừng ngập mặn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
Bước đầu đề xuất một số giải pháp quản lý các loài ốc mang sau và ốc phổi có giá trị. Nội dung nghiên cứu - Xác định thành phần loài ốc mang sau (Opisthobranchia) và ốc phổi (Pulmonata) ở HTS rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu. - Xác định đặc điểm phân bố của loài ốc mang sau (Opisthobranchia) và loài ốc phổi (Pulmonata) ở HTS rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu - Xác định hiện trạng khai thác, sử dụng và các nhân tố tác động đến đa dạng sinh học loài ốc mang sau (Opithobranchia) và loài ốc phổi (Pulmonata) ở khu vực nghiên cứu - Đề xuất một số giải pháp quản lý các loài ốc mang sau và ốc phổi có giá trị trong khu vực nghiên cứu Luan van 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Tổng quan về phân lớp ốc mang sau và ốc phổi 1.
Đặc điểm của phân lớp ốc mang sau (Opisthobranchia) Phân lớp ốc mang sau (Opisthobranchia) cơ thể vặn xoắn không hoàn toàn, vỏ và nắp vỏ thường tiêu giảm hoặc còn lại rất ít, vỏ tiêu giảm ở giống Doris hoặc nằm trong khoang áo giống Aplysia, một mang uốn nếp nằm ở phía sau tim, đôi khi được thay thế bởi mang thứ sinh, tim chỉ có một tâm nhĩ, xoang áo nằm ở phía bên phải cơ thể đôi khi tiêu giảm hoặc mất h n, phần đầu có 2 cặp xúc tu (râu). Lưỡng tính, sống ở biển. Được chia làm 9 bộ, 120 họ và khoảng 2000 loài, gồm: [19][29] Bộ 1. Cephalaspidea: o Sự hiện diện của lá chắn đầu là đặc điểm đặc trưng nhất.
o Vỏ có một phần hoặc toàn bộ trong khoang áo. o Có 2 thùy bên đầu. o Có một mang gấp nếp ở bên phải. Đại diện: Ốc bóng (Acteon, Cylichna, Bulla, Hydatina, Scaphander).1: Sơ đồ câu tạo tấm đầu của bộ Cephalaspidea (theo Mari, 2013)[22] (cs-tấm khiên đầu; f-chân; m-áo; p-chân bên; pl-thùy chân; s-vỏ; sg-rãnh tinh dịch.
Tỷ lệ 5mm) Bộ 2. Pyramidellacea: o Ký sinh ngoài ở các loài hai mảnh vỏ và giun nhiều tơ. o Mang và lưỡi bào thiếu. Luan van 4 o Vỏ hình xoắn ốc và có nắp vỏ.
o Có một vòi dài có thể co rút. Đại diện như : Pyramidella, Odostomaia Hình 1.2: Sơ đồ cấu tạo của Pyramidellacea (Tore Høisæter, 2014)[29] (từ trên xuống và trái qua phải: Odostomia turrita, Brachvstomia lukisi và Ondina divisa) Bộ 3: Acochilidioidea o Vỏ và mang không còn. o Phần nội tạng tách biệt với chân. o Hầu hết các loài nhỏ từ 2mm đến 5mm.
o Chủ yếu sống ở dưới biển, số ít sống ở nước ngọt, được tìm thấy ở Indonesia và Palau. Đại diện như: Unela, Ganitus, Hedylopsis. Bộ 4: Anaspidea hoặc Aplysiacea o Vỏ tiêu giảm thành một tấm ph ng và được phủ bởi áo bên ngoài, trừ nhóm Akera có vỏ ngoài. o Có mang và khoang áo.
o Các chi bên hông được hình thành hoàn thiện. o Phần đầu có cặp xúc tu và 1 cặp sừng. Cặp xúc tu thứ nhất được gọi là xúc tu miệng o Lỗ sinh dục đực nằm ở gốc chân bên phải. Đại diện: Thỏ biển thuộc các giống Notarchus, Akera, Bursatella, Aplysia Luan van 5 Hình 1.3: Sơ đồ cấu tạo của Anaspidea [30] (Theo https://doi.50008-4) Bộ 5: Notaspidea o Vỏ có thể có hoặc không.
o Có áo nhưng không có khoang áo. o Mang ở bên phải cơ thể. Đại diện như loài: Tylodina, Umbraculum, Pleurobranchus. Bộ 6: Sacoglossa o Không có vỏ hoặc vỏ nhỏ.
o Có khoang áo, mang và cơ quan cảm nhận có thể có (e., Berthelinia) hoặc không có (e. o Lưỡi bào có 1 hàng răng thích hợp với kiểu hút thức ăn. Đại diện: Caliphylla, Oxynoe, Lobiger, Berthelinia, Julia, Elysia Luan van 6 Hình 1.4: Sơ đồ cấu tạo của bộ Sacoglossa [29] (A-Pleurobranchus, B-Berthelinia, C-Elysia, D-Glossodoris, E-Dendronobus) Bộ 7: Thecosomata (= Pteropoda) o Có vỏ ngoài. o Các chi bên giống các cơ bắp lớn.
Đại diện loài như: Corolla, Cavolina, Clio, Limacina, Spiratella. Bộ 8: Gymnosomata : o Vỏ và vỏ khoang áo tiêu biến. o Sống ở dưới đại dương. Đại diện loài như: Cliopsis, Pneumoderma.
Bộ 9: Nudibranchia o Vỏ, khoang áo, mang và cơ quan thụ cảm tiêu giảm. o Cơ thể có nhiều lông gai hoặc lông hô hấp, một số loài có lông hô hấp đơn (Ví dụ: Aeolida, Glaucus), hoặc lông phân nhánh (Ví dụ: Dendronotus, Tritonia). o Một số loài có mang thứ cấp xung quanh hậu môn (Ví dụ: Doris, Glossodoris) và một số có mang tấm dưới mép áo hoặc lông hô hấp (Ví dụ: Amirna) Luan van 7 o Đại diện loài như: Armina, Aeolidia, Glaucus, Pleurophyllidia, Eolis, Aeolis, Tethys).5: Sơ đồ cấu tạo của Nudibranchia [30] 1. Đặc điểm của phân lớp ốc phổi (Pulmonata) Phân lớp có phổi (Pulmonata) hô hấp bằng phổi, cơ quan áo l , thần kinh lệch, các hạch thần kinh tập trung ở phần đầu.
Vỏ phát triển hay tiêu giảm, không có nắp vỏ. Lưỡng tính một số đ con, có khoảng 16000 loài còn sống và được chia làm 3 bộ: Bộ 1: Systellommatophora o Có ở hậu môn nằm ở phần cuối của cơ thể. Có túi phổi nhưng không có phổi ở họ Veronicellidae o Ví dụ: Sên biển (Onchidium, Rhodope) Hình 1. Sơ đồ cấu tạo của Systellommatophora [18].
Luan van 8 Bộ 2: Basommatophora o Mắt ở gốc của các xúc tu. o Có một cặp xúc ở phần đầu. o Môi trường sống chủ yếu nước ngọt, có một số sống ở nước biển và nước lợ Ví dụ: Planorbis (Indoplanorbis), Lymnaea, Anisus, Bulius; Siphonaria ở biển; Amphibola ở cửa sông. Bộ 3: Stylommatophora o Hai cặp xúc tua.
o Mắt nằm ở đầu các cặp xúc tu phía sau. o Môi trường sống chủ yếu là ở trên cạn, một số sống ở cả nước cả cạn. Ví dụ: Achatina, Achatinella, Pupilla, Limax, Subulina, Helix, Glessula,… Hình 1.7: Sơ đồ cấu trúc của họ Ellobiidae (hay Melapidae) [18].8: Cấu trúc cơ thể của ốc trên cạn [18]. 1-Vỏ ốc; 2-Tuyến tiêu hóa; 3-Phổi; 4-Hậu môn; 5-Lỗ hô hấp; 6-Mắt; 7-Râu, xúc tu; 8- Hạch não; 9-Ống dẫn nước bọt; 10-Miệng; 11-Hầu; 12-Tuyến nước bọt; 13-Lỗ sinh dục; 14-Gai giao phối; 15-Lỗ sinh dục cái; 16-Tuyến nhầy; 17-Ống dẫn trứng; 18-Túi sinh dục; 19-Chân; 20-Dạ dày; 21-Thận; 22-Áo; 23-Tim; 24-Ống dẫn tinh.
Luan van 9 Đa số các loài ốc được phát hiện có thể xác định dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ, các vòng xoắn của vỏ ốc là tính chất phức tạp trong vỏ ốc. Vòng xoắn (hay còn gọi là vỏ xoắn) là sự tiến hóa hay thoái hóa của dạng ống. Kích thước rộng hay hẹp của vòng xoắn, tách ra thành các đường liên tục gọi là đường xoắn. Hầu như trong các mẫu vỏ, vòng xoắn cuối là vòng xoắn rộng nhất.
Phần mở ra bên ngoài của vỏ gọi là miệng vỏ. Ngoài ra với một số loài có bề ngoài hình thái khá giống nhau người ta còn có thể dựa vào màu sắc của vỏ ốc, màu sắc có thể màu đậm màu nhạt, thậm chí màu trong suốt thậm chí còn không có vỏ. Đặc điểm hình thái ngoài của vỏ. Vỏ ốc Hình dáng vỏ rất đa dạng với nhiều kích thước khác nhau với hiều hình dáng khác nhau.
Vỏ ốc có thể dày hoặc mỏng, chắc chắn hay d vỡ, có nắp vỏ hay không có nắp vỏ, với màu sắc của vỏ thì rất phong phú có đủ các loại màu từ màu tối đến màu trắng tùy từng loài khác nhau, chúng không chỉ để trang trí cho bề ngoài của ốc mà còn đặc trưng cho từng loài khác nhau. Các loài ốc phổi (Pulmonata) thì thường có vỏ dày rất chắc chắn có màu sắc thì đa dạng và đôi khi có nhiều màu kết hợp với nhau. Đối với loài ốc mang sau (Opisthobranchia) thì thường có vỏ với độ dày của vỏ rất mỏng thường vỏ được bọc trong lớp bên thân bên ngoài, hoặc vỏ bị tiêu giảm đi đến mức không có vỏ, có vỏ thi vỏ thường nhẵn bóng.