MỞ ĐẦU Tổng diện tích tự nhiên của Khu BTTN Phu Canh là 5.647 ha, trong đó diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 2.434,6 ha và phân khu phục hồi sinh thái là 3. Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh là vùng núi thấp và núi cao, gồm 3 dải dông núi chính và các dải dông núi phụ. Độ cao lớn nhất là 1.349m (đỉnh Phu Canh), độ cao trung bình là 900m, độ cao thấp nhất là 300m so với mặt nƣớc biển. Độ dốc bình quân trên 30 0, chiều dài suờn dốc 1000 - 2000m, hiểm trở, đi lại rất khó khăn.
Căn cứ vào hệ thống đƣờng phân thủy thì Khu BTTN là lƣu vực của suối Nhạp, suối Cửa Chông chảy ra hồ Sông Đà, cung cấp nƣớc cho nhà máy thuỷ điện Hoà Bình và nƣớc tƣới cho sản xuất nông nghiệp của 5 xã: Tân Pheo, Đồng Chum, Đồng Ruộng, Đoàn Kết, Yên Hoà. So với các khu rừng đặc dụng khác ở miền núi phía Bắc Việt nam, Khu BTTN Phu Canh có độ cao không lớn. Nơi đây có tính đa dạng sinh học quan trọng nhờ có hệ sinh thái và thảm thực vật rừng kín lá rộng xanh nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp, đặc trƣng cho khu vực Tây Bắc Việt Nam. Có vị trí quan trọng với phòng hộ đầu nguồn, cung cấp nƣớc cho hồ sông Đà, bảo vệ môi trƣờng và điều tiết khí hậu cho khu vực.
Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh hiện vẫn là nơi sinh sống của hơn 100 loài động, thực vật quý hiếm. Tại đây, đã phát hiện có 52 loài thực vật đang bị đe dọa, trong đó có 44 loài đƣợc ghi vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007; 27 loài thú (có bảy loài nằm trong Sách đỏ của Liên minh quốc tế Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên - IUCN); 85 loài chim (có bốn loài trong sách đỏ), 21 loài bò sát (tám loài trong sách đỏ), 22 loài ếch nhái. Nhƣng hiện nay các loài cây gỗ quý hiếm đang bị xâm hại một cách nghiêm trọng từ những lý do chủ quan và khách quan. Ngƣời dân khai thác gỗ bừa bãi, các loài sinh vật gây hại không đƣợc sự quản lý chặt chẽ dẫn tới hệ sinh thái trong khu bảo tồn bị Hình hƣởng nghiêm trọng.
Tuy đã đƣợc sự quan tâm 2 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình và UBND các cấp các hiện tƣợng khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ đã giảm nhƣng ngoài những tác động từ con ngƣời thì còn có sự tác động của các loài sinh vật có hại. Trong các loài sinh vật gây hại đó phải kể tới loài xén tóc. Xén tóc là loài gây hại chủ yếu ở giai đoạn sâu non. Ở giai đoạn sâu non Xén tóc sống ở trong thân của các loài thực vật nên rất khó để phát hiện và quản lý.
Nghiên cứu các đặc điểm sinh thái, nhận biết các loài này ở pha trƣởng thành làm cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý chúng là rất cần thiết. Vì vậy, tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và đề xuất các giải pháp quản lý một số loài Xén tóc (Cerambycidae) tại khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình”. Với mong muốn góp phần đƣa ra những giải pháp quản lý loài xén tóc trong khu bảo tồn. 3 Chƣơng 1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Xén tóc (Cerambycidae) là một họ lớn thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera). Đến nay đã xác định đƣợc khoảng hơn 20.000 loài, phân bố rộng khắp thế giới. Các loài thuộc họ này là đối tƣợng gây hại nguy hiểm cho nông nghiệp và lâm nghiệp ở nhiều nƣớc, nhất là các nƣớc thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Do vậy việc nghiên cứu về họ xén tóc đã đƣợc tiến hành từ rất sớm nhƣ Linneus (1758), Fabricius (1775-1792).
Từ thế kỷ XIX đã có nhiều công trình nghiên cứu về họ này, điển hình nhƣ Serville (1830), Mulsant (1839), Thompson (1860), Pascoe (1882). Các tác giả này đã mô tả, định loại và công bố nhiều loài mới, giống mới và phân họ xén tóc cho khoa học. Sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của khoa học, họ xén tóc đƣợc nghiên cứu về các lĩnh vực chuyên sâu nhƣ sinh học, sinh thái, tập tính. Các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học nhƣ: hình thái phân loại, vòng đời, thời gian phát triển, nuôi sinh học, khả năng gây hại, Hình hƣởng của các yếu tố sinh thái đến sự sinh trƣởng.
là những vấn đề cấp bách đƣợc quan tâm nhiều trong thời gian gần đây vì nó là cơ sở khoa học rất quan trọng phục vụ cho nhiều mục đích nghiên cứu khác nhau. Trong những năm gần đây nghiên cứu theo hƣớng này có thể nêu một số công trình tiêu biểu: Năm 1983, Hill Dennis tiến hành thống kê đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố của 8 loài xén tóc gây hại nguy hiểm phổ biến ở vùng nhiệt đới. Ngoài ra tác giả còn cho biết tác hại và cách phòng chống các loài xén tóc này [23]. 4 Khan (1988) công bố kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài Halone caerulescens Gahand.
Tác giả cho biết vòng đời của chúng kéo dài khoảng 3-5,5 tháng; con trƣởng thành của loài này xuất hiện quanh năm nhƣng nhiều nhất vào tháng VI - VIII. Ngoài ra, ông còn xem xét mối liên quan của chiều dài cơ thể đến khả năng đẻ trứng của con trƣởng thành loài xén tóc này [20]. Sanic, Jankovic và cs. (1989) công bố các kết quả nghiên cứu về Hình hƣởng của nhiệt độ, chất lƣợng thức ăn và mùa vụ đến sự phát triển của loài Movimus funereus.
Tác giả cho biết ấu trùng nuôi ở các mùa khác nhau với khẩu phần ăn khác nhau thì có thời gian sống và tỷ lệ chết khác nhau [25]. Năm 1990, Hajime và Nobou Ogura tiến hành nuôi loài xén tóc Monochamus alternatus trên môi trƣờng thức ăn tổng hợp. Đồng thời, tác giả còn tiến hành so sánh sức sống của ấu trùng khi nuôi với các thành phần thức ăn khác nhau [18]. (1990) đã điều tra về loài xén tóc Semanotus japonicus, một đối tƣợng gây hại lớn đối với cây rừng trồng ở Nhật Bản.
Theo tác giả, loài này xuất hiện và phá hại chủ yếu ở các cây gỗ bị chết và khả năng sinh sản của chúng rất cao [14]. Hawkeswood (1991) công bố kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học (vòng đời, sự phá hại, cây chủ.) của loài xén tóc Prosoplus iratus Pascoe [19]. Gunter (1992) tiến hành nghiên cứu loài Agapanthea villosoviridescens. Ông đã xác định đƣợc thời gian trứng nở, tỷ lệ trứng nở, tuổi của ấu trùng và hoạt động của loài này; mối liên quan giữa kích thƣớc của cây với mức độ gây hại, tỷ lệ ấu trùng bị ký sinh.
Đặc biệt đã phát hiện loài Chlorocytus sp. thuộc họ Pteromalidae, bộ cánh màng (Hymenoptera) là thiên địch chính của loài xén tóc này [17]. 5 Starzyk và Partyka (1993) nghiên cứu hình thái học, sinh học và sự phân bố của loài Obrium catharnium L. Trong đó tác giả tập trung mô tả môi trƣờng sống, hoạt động sống, các yếu tố Hình hƣởng đến quá trình sinh sản và sự xuất hiện của loài này [28].
Qiao Wang và cs (2002) đã nghiên cứu về nhịp điệu giao phối, sự đẻ trứng, quan hệ ghép đôi và pheromon đặc trƣng của loài Nadezhdiella cantori (Coleoptera: Cerambycidae). Tác giả cho biết hoạt động bay không có tƣơng quan rõ ràng với hoạt động ghép đôi, giao phối. Con đực nhận biết con cái bằng xúc giác nhƣng khả năng giao phối lại quyết định bằng việc cảm nhận pheromon [21]. Năm 2004, tác giả tiếp tục nghiên cứu về sự lựa chọn giới tính và khả năng chiếm lĩnh của con đực trong mối quan hệ với kích thƣớc cơ thể.
Theo tác giả, tỷ lệ giới tính nghiêng về con đực (1 cái:1,5 đực) và con đực to khoẻ sẽ chiếm lĩnh con cái trong suốt quá trình ghép đôi [22]. Tình hình nghiên cứu ở Việt nam - Giai đoạn trƣớc năm 1954 Thời kỳ này do điều kiện chiến tranh nên việc nghiên cứu họ Xén tóc (Cerambycidae) ở bán đảo Đông Dƣơng nói chung và Việt Nam nói riêng còn rất ít, chủ yếu là các công trình nghiên cứu của tác giả ngƣời nƣớc ngoài. Có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu sau: Fairmitre (1885) đã công bố 37 giống xén tóc mới trong đó có một giống mới thu đƣợc ở Lạng Sơn (miền Bắc Việt Nam) [10]. 6 Năm 1886, Fleutiaux tiến hành điều tra về khu hệ cánh cứng ở Việt Nam và tác giả đã mô tả 20 loài xén tóc thuộc giống Dorysthenes ở Việt Nam [14].
Vitalis de Salvaza (1919) đã ghi nhận họ xén tóc ở Việt Nam có 348 loài trong đó ở miền Bắc có 310 loài thuộc 156 giống. Đây là danh lục xén tóc phong phú và đầy đủ nhất ở Đông Dƣơng và ở Việt Nam [29]. - Giai đoạn từ năm 1954 đến nay Sau năm 1954, đất nƣớc đƣợc hòa bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học phát triển. Các công trình nghiên cứu về họ Xén tóc cũng đƣợc các nhà khoa học Việt Nam quan tâm, chủ yếu đề cập đến các loài xén tóc gây hại cây rừng sau khi chặt hạ, còn các công trình nghiên cứu về tác hại của loài xén tóc đối với cây có múi thì không đáng kể.
Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ sau: Vũ Khắc Gia và Phạm Kim Ngữ (1973) đã đƣa ra một số đánh giá bƣớc đầu về côn trùng hại cây trồng ở Nam Hà trong đó có họ xén tóc [7]. Đặng Thị Đáp và cs. (1995) nghiên cứu sâu đục thân Hồ Tiêu và một số biện pháp phòng trừ ở Xí nghiệp liên hiệp hồ tiêu Tân Lâm, Quảng Trị. Các tác giả đã nghiên cứu khá đầy đủ về hình thái, sinh học và nuôi thực nghiệm loài xén tóc Pterolosia subtinctata hại cây hồ tiêu [2].
Năm 1996, Lê Văn Lâm tiến hành nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài xén tóc Euryphagus lundii Fab. Trong năm này ông tiếp tục đƣa ra danh sách và mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái học chủ yếu của một số loài xén tóc hại gỗ sau khi chặt hạ ở tỉnh Bắc Thái, phát hiện thêm hai loài xén tóc mới cho khoa học là Olenecamptus paracretaceus Lam và O. Nguyễn Trung Tín (1999) tiến hành nghiên cứu thành phần sâu hại rừng bạch đàn ở vùng tứ giác Long Xuyên, trong đó loài Celostema sp. 7 thuộc họ xén tóc là loài gây hại nguy hiểm nhất.
Tác giả đã nêu ra một số nhận xét bƣớc đầu về đặc điểm sinh học, sinh thái và cách phòng trừ loài xén tóc này [12].