MỞ ĐẦU Khu vực đất ngập nước và bãi bồi ven biển là khu vực có chức năng sinh thái và giá trị kinh tế rất quan trọng như: bảo vệ đa dạng sinh học, chức năng phòng hộ, bảo vệ bờ biển khỏi xói lở, bảo vệ các thảm cỏ biển và rạn san hô ngoài biển ven bờ, là nơi sinh nở và cư trú của nhiều loài thủy hải sản, nơi cung cấp thực phẩm và duy trì đời sống sinh vật biển, địa điểm du lịch sinh thái tiềm năng, bảo vệ các vùng đất khai hoang lấn biển, lưu giữ phù sa và thanh lọc các chất ô nhiễm từ lục địa mang ra….Đặc biệt, rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng giúp giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến vùng bờ biển, bảo vệ đa dạng sinh học vùng ven biển. Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là một trong những vùng có diện tích đất ngập nước cửa sông ven biển quan trọng của Việt Nam. Rừng ngập mặn nói riêng và khu vực đất ngập nước vùng ven biển Nghĩa Hưng nói chung có giá trị nhiều mặt trong phát triển kinh tế, bảo tồn đa dạng sinh học. Nghĩa Hưng đã từng được đánh giá là khu đất ngập nước có tầm quan trọng thứ hai ở vùng đồng bằng Bắc bộ, được đề xuất là khu Ramsa vào năm 1996.
Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát năm 2006 của tổ chức BirdLife, vùng đất ngập nước Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã bị suy thoái nghiêm trọng, hầu hết các giá trị của khu vực đã không còn và hệ sinh thái rừng ngập mặn đứng trước nguy cơ bị xoá sổ do khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên. Thời gian gần đây, việc quản lý, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn tại huyện Nghĩa Hưng đã nhận được sự quan tâm của Chính phủ và chính quyền địa phương. Khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng được xây dựng là vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên châu thổ Sông Hồng. Các dự án, chương trình nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực đã được cụ thể hóa tại các đề án, dự án như: “Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoạn 2008 -2015” của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 405/TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 và gần đây, tại Quyết định số 120/QĐ-TTg ngày 22 tháng 1 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020”, gồm các dự án 1 z thực hiện tại huyện Nghĩa Hưng như: (1) Dự án “Phục hồi tài nguyên hệ sinh thái bị suy thoái vùng ven biển tỉnh Nam Định” đã được phê duyệt theo Quyết định số 1631/QĐ-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2013 của UBND tỉnh Nam Định thuộc “Danh mục các dự án trồng rừng ven biển bằng nguồn vốn ứng phó với biến đổi khí hậu”.
Dự án thực hiện tại khu vực đất ngập nước và bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng; (2) “Dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Nam Định giai đoạn 2015 – 2020” thuộc Danh mục các dự án trồng rừng ven biển bằng nguồn vốn ứng phó với biến đổi khí hậu, dự án được xây dựng mới và dự kiến triển khai thực hiện giai đoạn 2015 – 2020. Ngoài ra, tại khu vực còn đang thực hiện các dự án do các tổ chức trong nước, quốc tế khác thực hiện nhằm nỗ lực khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn và đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu. Tuy nhiên, để phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn và đa dạng sinh học cần thời gian dài và để kết quả của các dự án có ý nghĩa thiết thực đối với cộng đồng người dân ven biển cần có các biện pháp quản lý, khai thác sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn hợp lý. Kinh tế khu vực ven biển và sinh kế cộng đồng người dân ven biển phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng môi trường và tài nguyên vùng bờ.
Người dân ven biển có sinh kế trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc chủ yếu vào nguồn sản vật của biển và ven biển. Do vậy, cồng đồng người dân phải là chủ thể chứ không chỉ là khách thể như trong thực tế quản lý hiện nay và họ phải tham gia quản lý môi trường biển là một đòi hỏi thực tiễn. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý, bảo vệ các hệ sinh thái, tài nguyên và môi trường biển hiện nay còn rất thụ động chưa thường xuyên và thiếu bền vững. Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học và các tài nguyên biển tại khu vực nghiên cứu, áp dụng các biện pháp quản lý và sử dụng tài nguyên sẽ góp phần đưa ra giải pháp nhằm hỗ trợ, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên biển trong phát triển kinh tế, đồng thời quản lý, bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu, tạo ra giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân ven biển.
Từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu thực trạng đa dạng sinh học và biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005-2015 nhằm đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững” 2 z là một vấn đề cấp thiết, góp phần vào việc phục hồi hệ sinh thái RNM nói riêng và đa dạng sinh học nói chung tại khu vực, giúp quản lý và sử dụng có hiệu quả, bền vững tài nguyên tại khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu và thành lập bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn năm 2005 và 2015, phân tích đánh giá biến động diện tích RNM giai đoạn 2005 – 2015, hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên khu vực nghiên cứu nhằm đề xuất các biện pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả, bền vững tài nguyên tại huyện Nghĩa Hưng, Nam Định. Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu, đánh giá tính đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu. Hiện trạng khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên tại khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định.
Xây dựng bản đồ diện tích rừng ngập mặn và bản đồ biến động diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu. Phân tích, đánh giá biến động diện tích RNM khu vực nghiên cứu trong thời gian đoạn 2005 – 2015. Hiện trạng khai thác, sử dụng, quản lý tài nguyên biển khu vực nghiên cứu. Các vấn đề về khai thác, quản lý tài nguyên, môi trường khu vực nghiên cứu.
Đề xuất các định hướng quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển, góp phần quản lý, sử dụng tài nguyên có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và các vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, tạo các sinh kế bền vững cho người dân địa phương.góp phần thực hiện phát triển bền vững tại khu vực bãi bồi, ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nước và bãi bồi ven biển trên Thế giới và Việt Nam 1. Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước trên Thế giới Hoạt động nghiên cứu về ĐNN và khu vực bãi bồi ven biển được bắt đầu từ các nhà nghiên cứu về ĐNN ở phương Tây.
Những nghiên cứu ban đầu này tập trung chủ yếu vào các vấn đề: Động lực của đới ven bờ và cổ thực vật nhằm cung cấp dữ liệu về tiến trình phát triển và thay đổi của cảnh quan, văn hoá các vùng ĐNN, các quần xã thực vật tại các đầm lầy hay khuynh hướng nghiên cứu sinh thái tổng hợp kết hợp với các hoạt động bảo vệ thiên nhiên và động vật hoang dã. Ngay từ năm 1950, các hoạt động nghiên cứu tập trung chủ yếu về quần xã thực vật tại các đầm lầy, địa hình - địa mạo, thuỷ - hải văn, nghiên cứu động lực của đới ven bờ. Tiếp đến là các nghiên cứu về cổ thực vật nhằm giải thích sự thay đổi của chế độ khí hậu và mực nước biển trong quá khứ. Từ những năm 1970 trở lại đây cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và tài liệu thực nghiệm đã giúp các nhà nghiên cứu theo dõi sự thay đổi của các vùng ĐNN, từ đó có những hiểu biết cụ thể hơn về sự biến đổi các vùng ĐNN.
Oreeson và cộng sự , 1979 (trích theo Dugan, P.) (1990)) [33] đã thống kê 84% tổng số các trích dẫn là của các công trình nghiên cứu trong thập kỷ 70, 14% của các công trình thập kỷ 60 và chỉ có 2% là trích dẫn từ các công trình trước năm 1960. Khu vực Châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích ĐNN lớn của thế giới. Do mật độ dân cư cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) các cộng đồng dân cư nơi đây phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên ĐNN. Vì thế, việc nghiên cứu và bảo tồn các vùng ĐNN có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các quốc gia trong khu vực, số các nước ký công ước Ramsar ngày càng tăng.
Công tác nghiên cứu ĐNN trên thế giới trong những năm qua đã nhận được sự ủng hộ của nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (The World Conservation Union - IUCN), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF), các tổ chức phi chính phủ (NGO). Trong đó quan trọng nhất là vai trò của IUCN vì đây là 4 z tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp kết nối với các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu ĐNN trên Thế giới [5]. Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước ở Việt Nam ĐNN ở Việt Nam khá đa dạng và phong phú về các kiểu hình với diện phân bố rộng khắp, trải dài từ Bắc vào Nam và có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Do vậy, ĐNN ở Việt Nam đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau như: Khoa học tự nhiên, kinh tế - xã hội, pháp luật,.