Đặt vấn đề Vườn quốc gia Bù Gia Mập được thành lập trên cơ sở chuyển hạng từ khu bảo tồn thiên nhiên Bù Gia Mập thành vườn quốc gia theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 170/2002/QĐ-TTG ngày 27 tháng 11 năm 2002 thuộc địa phận tỉnh Bình Phước, có tổng diện tích 26.032 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 21.376 ha, bao gồm: 388 ha rừng giàu, 2.798 ha rừng trung bình, 1.692 ha rừng nghèo, 5.064 ha rừng hỗn giao và 11.434 ha rừng tre nứa. Vùng đệm vườn quốc gia có diện tích 15.200 ha thuộc tỉnh Bình Phước và 8.000 ha của tỉnh Đăk Nông và có loài Vượn đen má vàng phân bố. Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và đặc biệt là các loài Linh trưởng, nên đã ban hành Quyết định số 628/QĐ- TTg Phê duyệt kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài Linh trưởng ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030. Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ đã xếp 19 loài Linh trưởng (2 loài cu li, 6 loài vượn, 3 loài chà vá và 8 loài voọc) ở mức bảo vệ cao nhất về mặt pháp luật (nhóm IB).
Việt Nam đã xây dựng được hệ thống 164 khu rừng đặc dụng (trong đó có 33 Vườn quốc gia) với tổng diện tích hơn 2,2 triệu ha rừng là điều kiện rất cần thiết để bảo tồn tại chỗ loài Vượn đen má vàng (Nomascus gabrillae) của Việt Nam. Từ khi thành lập VQG Bù Gia Mập đến nay, các nghiên cứu về các loài thú linh trưởng tại VQG Bù Gia Mập rất hạn chế đặc biệt là loài Vượn đen má vàng. Trong khuôn khổ Dự án bảo tồn Vượn đen má vàng do Hiệp hội cá và động vật hoang dã Hoa kỳ tài trợ được thực hiện trong năm 2010, kể từ đó đến nay chưa có chương trình điều tra giám sát nhằm đánh giá lại quần thể Vượn đen má vàng tại đây. 2 Xuất phát từ lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Vượn đen má vàng (Nomascus gabrillae) tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá cơ bản về số lượng cá thể Vượn tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập và tập tính sinh hoạt của chúng.để làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững loài cũng như sinh cảnh của chúng ở Vườn quốc gia Bù Gia Mập nói riêng và ở Việt Nam nói chung. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu - Ý nghĩa khoa học: Cung cấp thông tin khoa học về hiện trạng quần thể và phân bố loài Vượn đen má vàng tại VQG Bù Gia Mập. - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc cung cấp thông tin cho công tác bảo tồn nguyên vị, công tác nuôi nhốt tại các trung tâm cứu hộ, KBT và VQG trong cả nước. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm chung của bộ Linh trưởng tại Việt Nam Bộ Linh trưởng (Primates) hay còn gọi là Bộ Khỉ gồm những loài thú có đời sống chủ yếu trên cây, đi bằng cả hai chân, ăn tạp hay ăn thực vật. Tứ chi thích nghi với việc cầm nắm và leo trèo. Xương cẳng tay, xương cánh tay khớp động với xương bả vai và có thể xoay quanh trục của nó. Bàn tay có 5 ngón, có ngón cái nằm đối diện với các ngón còn lại.
Hệ xương đai ngực luôn có xương đòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cử động ngang của chi trước, một thể loại vận động rất cần thiết cho đời sống leo trèo. Nhờ cấu tạo này nên chi trước giảm đi đáng kể vai trò nâng đỡ cơ trong vận chuyển và khả năng cầm nắm tốt hơn. Thân chuyển dần tư thế nằm ngang của nhóm thú thành chiều thẳng đứng, đồng thời sự thay đổi đó cũng làm thay đổi vị trí của nhiều nội quan và não. Hộp sọ tương đối lớn, xương mặt giảm đi, ổ mắt hướng về phía trước, não phát triển có bán cầu đại não dày.
Tăng thể tích não bộ là đặc điểm rất tiến hóa tiến bộ của thú Linh trưởng. Răng thú Linh trưởng có 2 loại: Răng sữa và răng chính thức. Răng cửa to, răng hàm có 4 nón tù và nhiều mấu. Cấu tạo của bộ răng thích nghi với chế độ ăn tạp hay lá quả.
Số lượng răng của các loài Linh trưởng có thể biến đổi từ 32 đến 36 chiếc (Phạm Nhật, 2002). Đặc điểm nổi bật của các loài thú Linh trưởng so với các loài thú hoạt động trên cây khác là thú Linh trưởng leo cây bằng cách dùng tay ôm vào thân cây hoặc cành cây (các loài thú khác dùng móng vuốt sắc bấu vào thân cây). Leo cây kiểu ôm là một đặc điểm tiến hóa, giúp thú Linh trưởng leo trèo an toàn hơn khi leo ra các cành nhỏ và do đó khả năng tiếp cận thức ăn cũng tốt hơn. Thú Linh trưởng dùng mắt phát hiện, định vị con mồi và dùng tay để bắt mồi.
Ở con đực, có một đôi tinh hoàn và luôn nằm trong bìu da ở ngoài bụng. Con cái có một đôi vú ở ngực, thường đẻ một con, ít khi đẻ sinh đôi, 4 con non đẻ ra yếu, thời gian bú sữa mẹ dài. So với nhiều loài thú khác, thú Linh trưởng có xu hướng kéo dài thời gian mang thai và thời kỳ con non phụ thuộc và bố mẹ, do đó hình thành các nhóm xã hội phức tạp (Đặng Huy Huỳnh và cộng sự, 2007; Phạm Nhật, 2002). Phân bố Linh trưởng ở Việt Nam Ở Việt Nam, các loài thú Linh trưởng được phân bố khắp các vùng núi trong cả nước, một số loài được phân bố rộng rãi như: Cu li nhỏ, Khỉ vàng, Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lợn,…Bên cạnh đó một số loài được phân bố hẹp như: Voọc Hà Tĩnh, Voọc mũi hếch, Voọc gáy trắng, Vượn đen má vàng… Vùng phân bố của các loài thú Linh trưởng Việt Nam đại đa số đang ngày càng thu hẹp, như: Voọc mũi hếch trước kia từng phân bố ở Ba Bể - Bắc Kạn nhưng đến năm 2007 trở về đây khu vực này không còn ghi nhận sự xuất hiện của loài này.
Đối với Voọc đen má trắng trước kia phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam, tuy nhiên cho đến nay quần thể loài này chỉ giới hạn ở một số tỉnh như: Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên với số lượng quần thể nhỏ và bị chia cắt. Tình trạng bảo tồn các loài Linh trưởng Việt Nam Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có sự đa dạng thành phần loài và phân loài Linh trưởng nhưng tất cả các loài ở đây đều có nguy cơ bị tuyệt chủng cao, được thể hiện bằng số lượng loài có mặt trong sách Đỏ các năm. Sự suy giảm quần thể ngoài tự nhiên đối với các loài Linh trưởng ở Việt Nam vẫn đang ở mức nghiêm trọng, nếu như không có những hành động bảo tồn thiết thực để bảo vệ những loài Linh trưởng nguy cấp này. Hiện tại, trong số 25 loài và phân loài Linh trưởng ở Việt Nam, có đến 9 loài được xếp ở mức Nguy cấp (EN) và 7 loài được xếp ở mức Cực kỳ Nguy cấp (CR) trong Danh sách Đỏ (IUCN, 2019).
Trong 20 loài được xếp trong (Sách Đỏ Việt 5 Nam, 2007), 21 loài có trong Nghị định số 06/2019/NĐ-CP và 16 loài có trong Nghị định NĐ/160/2013/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ (Bảng 1. Kết quả ở bảng trên cho thấy: Có tất cả 25 loài có mặt trong công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã (CITES). Có tất cả 24 loài có trong Sách Đỏ thế giới (IUCN), sách Đỏ Việt Nam (SĐVN) (2007). Trong đó ở SĐVN (2007) có 10 loài ở mức nguy cấp (chiếm 40% tổng số 25 loài), có 5 loài ở mức rất nguy cấp (chiếm 20% tổng số 25 loài), có 7 loài đang ở mức báo động.
Ở IUCN (2019) có 7 loài ở mức rất nguy cấp (chiếm 28% tổng số 25 loài), 10 loài ở mức nguy cấp (chiếm 25% tổng số 25 loài) và có 4 loài ở mức đang báo động. Tình trạng các loài Linh trưởng Việt Nam theo thời gian Họ - Loài Tình trạng bảo tồn TT SĐVN IUCN NĐ NĐ Tên Việt Nam Tên khoa học 2007 2019 06 160 I Họ Cu li Lorisidae 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis VU VU IB + 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus VU VU IB + II Họ Khỉ Cercopithecidae II 3 Khỉ cộc Macaca arctoides VU VU B II 4 Khỉ mốc Macaca assamensis VU NT B II 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonina VU VU B II 6 Khỉ vàng Macaca mulatta LR LC B II 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis LR LC B II Họ Voọc Colobinae 6 I 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus VU EN IB + 9 Voọc bạc Trachypithecus margarita VU EN IB + Voọc bạc Đông 10 Trachypithecus germaini EN EN IB + Dương 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi EN EN IB + Trachypithecus 12 Voọc đầu vàng CR CR IB + poliocephalus 13 Voọc Hà Tĩnh Trachypithecus hatinhensis EN EN IB + 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus EN EN IB + 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri CR CR IB + 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus EN EN IB 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes EN EN IB 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea CR CR IB 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus CR CR IB + IV Họ Vượn Hylobatidae 20 Vượn đen tuyền Nomascus concolor EN CR IB + 21 Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus CR CR IB + 22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys EN CR IB + 23 Vượn siki Nomascus siki EN EN IB 24 Vượn má hung Nomascus gabriellae EN EN IB + Vượn má hung Trung 25 Nomascus annamensis EN EN IB Bộ Ghi chú: NĐ 06: Nghị định 06/2019/NĐ-CP; NĐ 160: Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ; SĐVN: Sách Đỏ Việt Nam năm 2007; IUCN: Sách Đỏ thế giới (IUCN) năm 2019; CITES: Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã nguy cấp; CR: Rất nguy cấp; EN: Nguy cấp; VU: Sẽ nguy cấp; LR: Ít nguy cấp; LC: Ít quan tâm; NT: Gần bị đe dọa; I, II: Phụ lục I, phụ lục II của công ước CITES; IB,IIB: Phụ lục IB, phụ lục 7 IIB của Nghị định 06/2019/NĐ-CP. Một số đặc điểm của giống Nomascus 1. Đặc điểm sinh học, sinh thái Kích thước cơ thể: những cá thể Vượn thuộc giống Nomascus có trọng lượng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg (Geissmann et al.