Chương 1: TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm về sinh thái thảm thực vật va quản ly tài nguyên rừng 1. Khái niệm thám thực vật Tham thực vat là một khái niệm chung cho đời sống thực vật, chưa đề cập cụ thê đến đơn vị phân loại đặc biệt, các dạng sông, cấu trúc, phạm vi không gian, hoặc bất kỳ đặc điểm thực vật hoặc địa lý cụ thé khác. Nó chỉ có ý nghĩa và gia tri cụ thé khi có định nghĩa kèm theo như: Tham thực vat cây bụi, thảm thực vat rừng ngập mặn, thảm thực vật VỌG Bidoup - Núi Ba.
Theo quan điểm hệ sinh thái, thảm thực vật là tắm gương phản ánh khách quan các điều kiện tự nhiên, nhân tác của môi trường và là một thành phần quan trọng của sinh quyền. Chúng không những là yếu tố tự nhiên quan trọng của lớp vỏ địa lý mà còn chứa nhiều giá trị tài nguyên, cung cấp nguyên vật liệu đáp ứng nhu cầu sống của con người [26]. Vì vậy, những năm gần đây, bên cạnh các nghiên cứu cơ bản, thảm thực vật còn là đối tượng của các hướng nghiên cứu ứng dụng nhằm đề xuất các hướng sử dụng hợp lý, bền vững thảm thực vật, bảo tồn đa dang sinh học vả quy hoạch môi trường. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, con người đã biết phân loại loài cây này với loài cây khác, loài cỏ này với loài cỏ khác.
Đồng thời cũng nhận thức được khu hệ thực vật bao gồm các loài cây, loài cỏ phân bố ở một phạm vi nhất định nao đó. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về thảm thực vật và đưa ra các khái niệm khác nhau. Theo Trần Đình Lý và cộng sự (1997): Thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thê hay toàn bộ lớp phủ thực vật ở trên toàn bộ bề mặt của trái đất [11]. Cũng theo Trần Đình Lý (2008): Sự khác nhau giữa thảm thực vật và rừng dựa trên sự có mặt của một lượng cây gỗ có chiều cao và độ lớn nhất định.
Các thông số này được khái quát bằng tỷ lệ độ tán che của cây gỗ có chiều cao từ 5m trở lên so với đất rừng (k: Độ tán che ) k < 0,3 chưa có rừng; k: 0,3 — 0,6 rừng thưa; k > 0,6 rừng kín [12]. Khái niệm sinh thái học Theo nghĩa thông thường, sinh thái học là khoa học về quan hệ của các sinh vật với môi trường xung quanh chúng. Sinh thái học là một môn học của khoa học sinh vật, nghiên cứu sự phân bố, mật độ, chức năng của các sinh vật, sự tương tác qua lại giữa các sinh vật với nhau và giữa các sinh vật với môi trường vô cơ của chúng. Đây là môn khoa học tương đối trẻ so với khoa học vật lý và hóa học.
Theo Odum (1971), sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu cấu trúc và chức năng của tự nhiên. Krebs (1978) định nghĩa sinh thái học là khoa học về những sự tương tác ấn định sự phân bố và mật độ của các sinh vật. Mặc dù còn có nhiều định nghĩa khác nhau về sinh thái học, nhưng chúng ta cần lưu ý rằng: “Mục tiêu cơ bản của sinh thái học là nghiên cứu mối liên hệ qua lại giữa các sinh vật và giữa chúng với môi trường vô cơ”, [13; 14]. Các nhân tố sinh thái Người ta gọi nhân tố sinh thái là những thành phần bất kỳ nào của môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của các sinh vật, hoặc đến đặc tính của mối quan hệ giữa các sinh vật.
Song theo mức độ tác động đến sinh vật, các nhân tố sinh thái có vai trò không như nhau. Vì thế, khi phân tích các nhân tố sinh thái, người ta thường phân biệt chúng thành: (1) nhân tố sinh tồn, (2) nhân tố sinh thái chủ đạo, (3) nhân tố sinh thái giới hạn, (4) nhân tố sinh thái độc lập, (5) nhân tố sinh thái phụ thuộc. Những nhân tố sinh thái tối cần thiết cho sự tổn tại của sinh vật được gọi là nhân tố sinh tồn. Ví dụ: Đối với thực vật, nhân tổ sinh tồn là ánh sáng, nhiệt độ, độ âm, CO; và O> không khí, chất khoáng của đất.
Nhân tố sinh thái chủ đạo là nhân tố sinh thái có ảnh hưởng lớn nhất đối với đời sống sinh vật, hoặc sự biến đổi của nó kéo theo sự biến đổi của các nhân tố khác. Ví dụ: Trong điều kiện dưới tán rừng, ánh sáng là nhân tố sinh thái chủ đạo, bởi vì sự thay đôi của nó kéo theo sự thay đổi của độ âm đất, quá trình khoáng hóa vật rụng, đặc tính đất. Nhân tố sinh thái giới hạn là nhân tố sinh thái nằm ở mức thấp hơn hoặc cao hơn tính chống chịu cua sinh vật/hoặc khi nó văng mặt. Nhân tổ sinh thái độc lập là nhân tố mà đặc tinh và sự biến đôi của nó là độc lập với quần xã sinh vật.
Ví dụ: Địa hình, chế độ ánh sáng và mưa ở mặt trên tán rừng là những nhân tố sinh thái độc lập, bởi vì sự biến đổi của chúng là độc lập với quan xã sinh vật rừng. Ngược lại, nhân tố sinh thái phụ thuộc là nhân tố mà đặc tính và sự biến đồi của nó là phụ thuộc vào (hoặc bị kiểm soát bởi) quan xã sinh vat. Vi dụ: Chế độ ánh sáng và mưa rơi dưới tán rừng là phụ thuộc vào kết cấu và cấu trúc của tán rừng; hay mức độ cạnh tranh giữa các cá thé trong quan thé là phụ thuộc vào mật độ quan thé [13]. Quy luật tác động của các nhân tô sinh thái đến đời sống sinh vật Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến đời sống sinh vật, người ta phát hiện ra những “quy luật” sau: [13].
Quy luật tác động tổng hợp của các nhân té sinh thái. Sự tác động của các nhân tổ sinh thái lên đời sống sinh vật là đồng thời và tổng hop. Tuy nhiên, mỗi nhân tố sinh thái có vai trò độc lập tương đối của nó trong một tổ hợp sinh thái. Thật vậy, hoạt động sống của thực vật như quang hợp và hô hấp đồng thời phụ thuộc vào các nhân tố khí hậu (ánh sáng, nhiệt, mưa.
Mặt khác, các nhân tố sinh thái có quan hệ chặt chẽ với nhau, do đó khi một nhân tô thay đổi cũng kéo theo sự thay đổi của nhân tố khác. Rubel (1935), mỗi nhân tố sinh thái chỉ thé hiện rõ vai trò của mình khi các nhân tố sinh thái khác không ở mức giới hạn. Ví dụ: Ở các vùng đầm lầy ven sông và biển, nước không có vai trò quan trọng, ngược lại hàm lượng ôxy và chất khoáng trong đất có ý nghĩa lớn hơn. Nhưng lúc đất thiếu nước ngọt thì hàm lượng khoáng trong đất dù nhiều cũng không thê đem lại lợi ích gì cho cây trồng.Viliams, bốn nhân tố sinh tồn gồm ánh sáng, nhiệt, nước và muối khoáng, có vai trò ngang nhau đối với thực vật và không thé thay thé lẫn nhau.
Chang hạn, khi cây đang thiếu nước thì không thê thay nước bằng nhân tố ánh sáng hoặc chất khoáng và ngược lại. Khi nghiên cứu về các nhân tố giới hạn, Liebig (1840) đưa ra nguyên tắc: “ Chat có hàm lượng tối thiểu điều khiến năng suất, xác định đại lượng và tính ổn định của mùa mang theo thời gian”. Dé không bị nhằm lẫn, người ta cho rằng định luật này chỉ nên nói về các chất hóa học (ôxy, CO, Bo.) cần thiết cho sự phát triển và sinh sản của thực vật. Định luật giới hạn sinh thái của Shelford (1913).
Theo Shelford, sự tác động của các nhân tô sinh thái lên cơ thể không chỉ phụ thuộc vào tính chất của nhân tố mà còn phụ thuộc vào cường độ (lượng) của nhân tố đó. Sự giảm hay tăng cường độ tác động của nhân tố vượt ra ngoài giới hạn thích hợp của co thê thì làm giảm khả năng sống của cơ thể; còn khi cường độ lên đến ngưỡng cao nhất hoặc xuống tới ngưỡng thấp nhất đối với khả năng chịu đựng của cơ thê thì sinh vật sẽ không thé tồn tại. Khái niệm báo ton da dang sinh học, sw dụng hợp lý tài nguyên Bao ton da dang sinh học Ngày nay van dé nghiên cứu về đa dang sinh học (ĐDSH) và bao tồn DDSH được cả thế giới quan tâm, những quan niệm về đa dạng sinh học đã đi đến một nhận thức chung. Nhận thức đó được nêu trong công ước về bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro năm 1992 như sau: “Da dang sinh học là sự phong phú và tính muôn mau muôn vẻ của thé giới sinh vật ở tắt cả mọi nơi trên đất liền và trên biển.
Sự đa dạng đó được thể hiện trong từng loài, giữa các loài và hệ sinh thái”. Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai. Đề có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn đa dang sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinh thái đó trong tương lai. Bảo tồn đa dạng sinh học ở mọi mức độ về cơ bản là duy trì các quần thé loài đang tồn tại và phát triển.
Công việc này có thê được tiến hành bên trong hoặc bên ngoài nơi sống tự nhiên. Một số chương trình quan lý tổng hợp đã bắt đầu liên kết các hướng tiép cận cơ bản khác nhau này. Bao ton tại ché In situ Là hình thức bảo tồn các hệ sinh thái và những nơi cư trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thê loài đang tồn tại trong điều kiện sống tự nhiên của chúng. Trong trường hợp các loài được thuần hoá và canh tác, công việc này được tiễn hành tại khu vực mà các giống vật nuôi, cây trồng đó hình thành nên đặc tính của mình.
Là hình thức bảo tồn da dang sinh học trong các hệ sinh thái vận động tiến hoá của nơi cư trú nguyên thủy hoặc môi trường tự nhiên.