Tổng quan luận án
Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu
Thực vật bậc cao có mạch là thành phần cấu trúc cơ bản, chiếm ưu thế tuyệt đối trong các hệ sinh thái trên cạn và giữ vai trò then chốt đối với môi trường sống, sự ổn định sinh thái cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc điều tra, thống kê và đánh giá đa dạng hệ thực vật là nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, cung cấp dữ liệu khoa học nền tảng phục vụ công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu rừng đặc dụng.
Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng nằm ở khu vực đầu mút phía Bắc của vòng cung Ngân Sơn, có địa hình núi cao chia cắt phức tạp, khí hậu phân hóa đặc trưng và thảm thực vật còn lưu giữ nhiều diện tích rừng tự nhiên mang tính chất nguyên sinh. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, các công bố khoa học tại khu vực này chỉ mang tính cục bộ hoặc chỉ tập trung vào một số nhóm đối tượng hẹp (như thực vật nguy cấp hoặc cây thuốc), chưa có bất kỳ công trình nào điều tra một cách có hệ thống, đồng bộ và đầy đủ về toàn bộ Hệ Thực vật bậc cao có mạch. Xuất phát từ khoảng trống khoa học này, nghiên cứu sinh Trần Văn Hải đã thực hiện đề tài luận án tiến sĩ: "Nghiên cứu đa dạng Hệ Thực vật bậc cao có mạch tại Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng".
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án được xác định cụ thể:
- Đánh giá được tính đa dạng Hệ Thực vật bậc cao có mạch tại Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu:
- Ý nghĩa khoa học: Cập nhật, bổ sung và hệ thống hóa các dẫn liệu về đa dạng Hệ Thực vật bậc cao có mạch tại Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén; phát hiện, mô tả và công bố 01 loài mới cho khoa học; đánh giá cấu trúc đa dạng ở các bậc phân loại (ngành, lớp, họ, chi, loài), dạng sống, yếu tố địa lý và giá trị sử dụng trên cơ sở ứng dụng phần mềm Microsoft Access; xây dựng danh lục và sơ đồ phân bố các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm; đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển.
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp các nhà khoa học và cơ quan quản lý xây dựng chiến lược bảo tồn tổng thể, hoạch định chính sách phát triển bền vững và xác định các đối tượng thực vật ưu tiên bảo tồn tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các loài thực vật bậc cao có mạch (thuộc các ngành Khuyết lá thông, Thông đất, Cỏ tháp bút, Dương xỉ, Thông và Ngọc lan) hiện diện tự nhiên tại Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng với tổng diện tích tự nhiên 10.593,5 ha, trải rộng trên địa bàn 05 xã và thị trấn bao gồm: xã Thành Công, xã Quang Thành, xã Phan Thanh, xã Hưng Đạo và thị trấn Tĩnh Túc.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập số liệu thực địa và điều tra nghiên cứu được tiến hành trong thời gian 3 năm, từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2019.
Bố cục của luận án
Luận án có dung lượng 144 trang văn bản chính, 62 bảng số liệu, 18 hình vẽ, biểu đồ và 38 trang ảnh minh họa. Kết cấu của luận án bao gồm các phần chính:
- Mở đầu (2 trang)
- Chương 1: Tổng quan tài liệu (24 trang)
- Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (10 trang)
- Chương 3: Kết quả và thảo luận (90 trang)
- Kết luận và kiến nghị (2 trang)
- Những đóng góp mới của luận án (1 trang)
- Tài liệu tham khảo (14 trang)
- Danh mục công trình công bố liên quan đến luận án (1 trang)
- Phần phụ lục.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Trong lịch sử phân loại học thực vật, các công trình đặt nền móng từ thời cổ đại đến hiện đại đã ghi nhận số lượng taxon ngày càng mở rộng: từ Plinus (mô tả gần 1.000 loài cây làm thuốc và ăn quả trong tác phẩm "Lịch sử tự nhiên"), Ray (mô tả 18.000 loài trong "Lịch sử thực vật"), Carl Linnaeus (khởi xướng danh pháp hai phần, mô tả hơn 8.000 loài), đến Antoine-Laurent de Jussieu (sắp xếp thực vật vào gần 100 họ).
Các nghiên cứu phân loại thực vật hiện đại trên quy mô toàn cầu được luận án điểm lại bao gồm các hệ thống phân loại của Hutchinson (1975), Heywood (1997), Takhtajan (2009). Đặc biệt, công trình của R. Brummitt (1992) xếp tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 13.884 chi, 511 họ thuộc 6 ngành (Psilotophyta, Lycopodiophyta, Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta). Các đánh giá về đa dạng loài gần đây được thống kê gồm: Christenhusz & Byng (2016) ghi nhận khoảng 374.000 loài thực vật đã mô tả (trong đó có 308.312 loài có mạch với 295.383 loài thực vật hạt kín); Corlett (2016) ước lượng khoảng 500.000 loài thực vật; Dalrymple & Zanne (2019) đối soát dữ liệu từ The Plant List, GBIF, TRY và GenBank nhận định chỉ có 17,7% loài thực vật có đủ dữ liệu trong cả 4 hệ thống; Enquist và cộng sự (2019) xác định có 36,5% số loài là loài hiếm trong tổng số 435.000 loài thực vật toàn cầu.
Về thực vật chí các khu vực lân cận, luận án phân tích các bộ tư liệu lớn như: Thực vật chí Malaixia (1948–1972), Thực vật chí Hải Nam (1971–1980), Thực vật chí Vân Nam (1977–1997), Thực vật chí Trung Quốc (1994–2013), Thực vật chí Hồng Kông (2007–2009), Thực vật chí Đài Loan (1993–2000), Đa dạng Hệ Thực vật Ấn Độ (Rao, 1997); các công trình nghiên cứu Thực vật chí Thái Lan do Tem Smitinand và Kai Larsen chủ biên (1970–1997), Thawatchai Santisuk và Kai Larsen biên tập (1999–2008), cùng các nghiên cứu chuyên sâu của Puglisi & Middleton (2017), Boyce và cộng sự (2012); Thực vật chí Lào (Jin H., 2007; Newman và cộng sự, 2019); thực vật cao nguyên Bokor tại Campuchia (Rundel, 2017); nghiên cứu cây có ích tại Myanmar (Thet Thet Mar Win và cộng sự, 2019).
Về nghiên cứu dạng sống, hệ thống phân loại dạng sống của Raunkiaer (1934) dựa trên vị trí chồi ngủ trong mùa bất lợi chia thành 5 nhóm cơ bản: Phanerophytes (Ph), Chamaephytes (Ch), Hemicryptophytes (Hm), Cryptophytes (Cr), Therophytes (Th), cùng phổ chuẩn sinh học $SB = 46%Ph + 9%Ch + 26%Hm + 6%Cr + 13%Th$. Các tác giả khác như Braun-Blanquet (1951) phân loại theo phương thức mọc liên tục hay đơn độc; Costa và cộng sự (2016) phân tích dạng sống tại Iran. Về nghiên cứu địa lý và đặc hữu, luận án dẫn chứng công trình của Yuanjun Zhu và cộng sự (2019) tại Hulun Buir Steppe (yếu tố ôn đới chiếm 67,19%); Kyriacos (2010) tại Hy Lạp (15,6% loài đặc hữu); Shinwari (2010) tại Pakistan (37% loài nguy cấp là loài đặc hữu); Romeiras và cộng sự (2016) tại Cape Verde (78% loài đặc hữu bị đe dọa). Về đánh giá thực vật nguy cấp, luận án khái quát các tiêu chí đánh giá từ Danh lục đỏ IUCN thiết lập năm 1964, hệ thống tiêu chuẩn phân hạng năm 1994 (EX, CR, EN, VU...), văn bản năm 2004 đến bản cập nhật IUCN 2019, cùng các Sách đỏ quốc gia như Sách đỏ Liên Xô (1978), Sách đỏ Cộng hòa Liên bang Đức.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các công trình phân loại thực vật ban đầu gắn với Loureiro (1790), Pierre (1880–1888), và bộ "Thực vật chí đại cương Đông Dương" do H. Lecomte chủ biên (1907–1952) gồm 7 tập mô tả hơn 7.000 loài. Bộ sách "Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam" do Aubréville khởi xướng từ năm 1960 đã xuất bản 36 tập gồm 83 họ.
Các công trình tổng kê tiêu biểu trong nước gồm:
- Thái Văn Trừng (1978): thống kê Hệ Thực vật Việt Nam gồm 7.004 loài, 1.850 chi, 289 họ.
- Lê Khả Kế chủ biên (1969–1976): "Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam" (6 tập).
- Phạm Hoàng Hộ: "Cây cỏ miền Nam Việt Nam" mô tả 5.246 loài thực vật có mạch; bộ "Cây cỏ Việt Nam" (1999–2000) thống kê 11.611 loài.
- Viện Điều tra Quy hoạch Rừng (1971–1988): "Cây gỗ rừng Việt Nam" (7 tập).
- Phan Kế Lộc (1970): thống kê miền Bắc có 5.609 loài, 1.660 chi, 240 họ.
- Nguyễn Tiến Bân: "Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín Việt Nam" (1997); chủ biên bộ "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" tập I (2001), tập II và III (2003, 2005) ghi nhận hơn 10.200 loài thuộc ngành Ngọc lan.
- Lê Trần Chấn và cộng sự (1999): ghi nhận 10.298 loài, 2.298 chi, 285 họ thuộc 6 ngành thực vật có mạch.
- Võ Văn Chi (2012): "Từ điển cây thuốc Việt Nam"; Đỗ Tất Lợi (2001): "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam"; Viện Dược liệu (2004): "Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam"; Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001, 2002, 2009): tài nguyên cây có tinh dầu và hợp chất sinh học.
- Các công trình chuyên khảo từng nhóm taxon: Averyanov, Cribb, Phan Kế Lộc, Nguyễn Tiến Hiệp (2003, 2004) về Orchidaceae; Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) về Euphorbiaceae; Nguyễn Tiến Bân (2000) về Annonaceae; Nguyễn Khắc Khôi (2002) về Cyperaceae; Trần Thị Kim Liên (2002) về Myrsinaceae; Vũ Xuân Phương (2000, 2007) về Lamiaceae và Verbenaceae; Trần Đình Lý (2007) về Apocynaceae; Lê Kim Biên (2007) về Asteraceae; Dương Đức Huyến (2007) về chi Dendrobium; Nguyễn Thị Đỏ (2007, 2008) về Polygonaceae và bộ Liliales; Hà Minh Tâm (2017) về Sapindaceae; Trần Thị Phương Anh và Henderson (2017) về Arecaceae; Đỗ Thị Xuyến (2017) về Malvaceae; Trần Thế Bách (2017) về Asclepiadaceae; Đoàn Hoàng Sơn (2017) về Araceae.
- Các nghiên cứu về dạng sống và địa lý: Nguyễn Nghĩa Thìn & Nguyễn Thị Thời (1998) tại Sa Pa – Phan Si Pan; Lê Trần Chấn (1990) tại Lương Sơn, Hòa Bình (phân chia 20 yếu tố địa lý); Vũ Thị Liên (2005) tại Sơn La. Về bảo tồn, Sách đỏ Việt Nam (2007, phần Thực vật) công bố 429 loài thực vật có mạch nguy cấp; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Nghị định số 06/2019/NĐ-CP và Nghị định số 160/2013/NĐ-CP.
Nghiên cứu tại khu vực tỉnh Cao Bằng và VQG Phia Oắc – Phia Đén
Tại Cao Bằng, Lê Vũ Khôi (2003) khảo sát khu vực núi đá vôi Thang Hen (Trà Lĩnh) xác định 340 loài, 233 chi, 84 họ thuộc 4 ngành. Nguyễn Hữu Tứ và cộng sự (2009) ghi nhận tại Khu bảo tồn loài Vượn Cao vít (Trùng Khánh) có 960 loài, 541 chi, 144 họ thuộc 4 ngành, lập phổ dạng sống $SB = 76,4%Ph + 8,9%Ch + 4,4%Hm + 3,6%Cr + 6,7%Th$. Trần Công Khánh (2012) ghi nhận 617 loài cây thuốc trên địa bàn toàn tỉnh.
Tại Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén (tiền thân là Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén thành lập lại theo Quy hoạch đa dạng sinh học tỉnh Cao Bằng năm 2014 và chính thức chuyển hạng thành Vườn Quốc gia theo Quyết định số 57/2018/QĐ-TTg ngày 11/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích 10.593,5 ha): Trần Thị Thu Thủy, La Quang Độ, Nguyễn Quang Hùng (2014) khảo sát bước đầu thực vật quý hiếm ghi nhận 33 loài thuộc 27 chi, 20 họ, trong đó có 8 loài thuộc Danh lục đỏ IUCN (2011) và 16 loài theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Toàn bộ các công trình công bố trước đây tại Phia Oắc – Phia Đén chỉ dừng lại ở quy mô khảo sát sơ bộ từng nhóm loài nguy cấp hoặc cây thuốc cục bộ, hoàn toàn thiếu vắng một công trình điều tra bài bản, bao quát toàn diện cấu trúc thành phần loài của cả 6 ngành thực vật có mạch. Luận án của nghiên cứu sinh Trần Văn Hải là công trình đầu tiên giải quyết trọn vẹn khoảng trống này thông qua điều tra thực địa đồng bộ, lập danh lục phân loại học cập nhật, phân tích phổ dạng sống, yếu tố địa lý, giá trị sử dụng và ứng dụng phần mềm cơ sở dữ liệu để xây dựng bản đồ phân bố các loài ưu tiên bảo tồn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung phân loại học và khái niệm sử dụng
Luận án áp dụng khung phân loại thực vật bậc cao có mạch theo hệ thống của Brummitt (1992) chia thành 6 ngành: Psilotophyta, Lycopodiophyta, Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta. Danh pháp và việc sắp xếp trật tự tiến hóa của các họ, chi, loài tuân thủ theo bộ "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" (Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, 2001; Nguyễn Tiến Bân chủ biên, 2003, 2005) kết hợp đối chiếu luật danh pháp quốc tế qua các cổng cơ sở dữ liệu học thuật như eFloras, Novon, Annales Botanici Fennici, Blumea, Phytotaxa.
Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
- Địa hình: Nằm ở đầu mút phía Bắc cánh cung Ngân Sơn; độ cao biến động phổ biến từ 500 m đến trên 1.900 m. Đỉnh Phia Oắc cao 1.931 m, đỉnh Niot Ti 1.574 m, đỉnh Tam Long 1.446 m, đỉnh Phia Đén 1.391 m, đỉnh Ki Doan 1.200 m. Khu vực gồm 3 vùng địa hình: vùng núi đá vôi phía Bắc; khu vực Tây Bắc, Tây và rìa phía Nam cấu tạo từ đá granit; khu vực núi thấp xen kẽ.
- Thổ nhưỡng: Gồm 7 nhóm với 16 loại đất (đất Phù sa, đất Đen Renzina, đất Đỏ vàng Feralit, đất Mùn vàng đỏ trên núi, đất Mùn Alit trên núi cao, đất Đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước, đất Dốc tụ).
- Thủy văn: Là đầu nguồn các sông nhánh thuộc 3 hệ thống sông: sông Gâm, sông Năng và sông Bằng Giang; mạng lưới suối có độ dốc cao, lũ lên và xuống nhanh trong 2–3 ngày.
- Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa vùng núi, có mùa đông lạnh, nửa đầu mùa đông khô hanh, nửa sau ẩm ướt do mưa phùn. Mùa nóng kéo dài ở đai thấp dưới 300 m và triệt tiêu ở độ cao trên 750 m; mùa lạnh kéo dài từ 4–5 tháng (đai thấp) đến quanh năm ở độ cao trên 1.500 m. Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình 7,9–8,4°C. Tổng lượng mưa năm dao động từ 1.300–1.900 mm.
- Dân sinh - kinh tế: Dân số trung bình trong vùng năm 2011 khoảng 33.000 người, mật độ trung bình 51 người/km² (thị trấn Tĩnh Túc đạt 135 người/km², xã Hưng Đạo 25 người/km²). Thành phần dân tộc gồm: Dao (48,62%), Nùng (23%), Tày (14%), Mông (10%), còn lại là người Kinh. Hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (chiếm 86% lao động), lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và khai thác mỏ thiếc Tĩnh Túc.
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập mẫu vật
Áp dụng phương pháp nghiên cứu thực vật học của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004, 2005, 2007):
- Thiết lập tuyến khảo sát: Xác lập 23 tuyến điều tra thực địa (tổng chiều dài trên 100 km) cắt qua các sinh cảnh, đai cao, kiểu thảm thực vật đặc trưng tại 5 xã và thị trấn thuộc VQG Phia Oắc – Phia Đén. Từ tuyến chính mở các nhánh phụ theo dạng xương cá.
- Quy cách thu mẫu: Thu thập tất cả các loài thực vật có mạch trong phạm vi dải rộng 10 m ở mỗi bên tuyến điều tra; mỗi loài thu từ 6–8 tiêu bản bảo đảm đầy đủ cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản phục vụ định loại. Định vị tọa độ bằng máy định vị GPS, chụp ảnh tư liệu thực địa.
- Tổng lượng mẫu: Đã thu thập được 674 số hiệu tiêu bản. Toàn bộ mẫu tiêu bản được xử lý, làm khô, gắn nhãn định danh và lưu trữ tại Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.
| Số hiệu tuyến | Mô tả vị trí tuyến khảo sát | Địa bàn xã | Chiều dài | Tọa độ điểm đầu | Tọa độ điểm cuối |
|---|---|---|---|---|---|
| Tuyến 1 | Dọc theo đường vào UBND xã Thành Công | Thành Công | 3,0 km | N: 22°32'29,4"; E: 105°52'21,5" | N: 22°32'30,2"; E: 105°52'57,5" |
| Tuyến 2 | Đường chính vào UBND xã theo đường mòn vào rừng | Thành Công | 1,7 km | N: 22°32'39,7"; E: 105°53'09,9" | N: 22°32'56,1"; E: 105°52'56,8" |
| Tuyến 3 | Đường chính vào UBND xã theo đường mòn vào rừng | Thành Công | 2,0 km | N: 22°32'41,5"; E: 105°53'25,7" | N: 22°32'52,3"; E: 105°53'23,8" |
| Tuyến 4 | Từ xóm Nà Rẻo đi vào xóm Hoài Khao | Thành Công | 4,5 km | N: 22°32'55,2"; E: 105°54'02,7" | N: 22°34'30,5"; E: 105°54'34,5" |
| Tuyến 5 | Từ Đường tỉnh 232 theo đường mòn vào rừng | Thành Công | 2,5 km | N: 22°34'58,4"; E: 105°52'40,2" | N: 22°34'50,3"; E: 105°53'29,9" |
| Tuyến 6 | Từ Đường tỉnh 232 (Ao Cá) theo đường mòn vào rừng | Thành Công | 5,5 km | N: 22°35'39,7"; E: 105°53'05,4" | N: 22°35'43,0"; E: 105°53'58,0" |
| Tuyến 7 | Từ Đường tỉnh 232 vào rừng (đường khai thác quặng) | Thành Công | 4,7 km | N: 22°35'54,5"; E: 105°52'54,8" | N: 22°35'26,2"; E: 105°52'38,1" |
| Tuyến 8 | Trạm BV Phia Oắc đi theo hướng về Chợ Phia Đén | Thành Công | 4,4 km | N: 22°36'13,9"; E: 105°53'09,7" | N: 22°34'59,0"; E: 105°52'32,5" |
| Tuyến 9 | Trạm BV Phia Oắc đi theo đường mòn phía sau Trạm | Thành Công | 1,5 km | N: 22°36'13,9"; E: 105°53'09,7" | N: 22°36'02,2"; E: 105°53'29,8" |
| Tuyến 10 | Trạm gác Phia Oắc (ĐT 212) đi Trạm phát sóng FM | Thành Công | 5,5 km | N: 22°36'14,1"; E: 105°53'10,1" | N: 22°36'55,8"; E: 105°51'48,6" |
| Tuyến 11 | Đi theo khe tuyến đường mòn trong rừng | Quang Thành | 1,2 km | N: 22°36'29,6"; E: 105°52'09,1" | N: 22°36'55,9"; E: 105°52'27,8" |
| Tuyến 12 | Đi theo khe một tuyến đường mòn trong rừng | Quang Thành | 1,0 km | N: 22°36'26,8"; E: 105°52'04,6" | N: 22°36'15,4"; E: 105°52'11,2" |
| Tuyến 13 | Trạm BV Phia Oắc đi ĐT 212 ra ngã ba Sơn Đông | Thành Công | 8,1 km | N: 22°36'13,9"; E: 105°53'09,7" | N: 22°37'30,8"; E: 105°54'18,6" |
| Tuyến 14 | Từ Đường tỉnh 212 đi theo đường mòn | Thành Công | 2,2 km | N: 22°36'19,1"; E: 105°53'13,0" | N: 22°36'33,4"; E: 105°53'43,1" |
| Tuyến 15 | Từ Đường tỉnh 212 đi theo đường mòn | Thành Công | 1,2 km | N: 22°37'15,5"; E: 105°52'36,9" | N: 22°37'14,8"; E: 105°52'16,1" |
| Tuyến 16 | Từ Cầu Đá đi theo đường mòn vào rừng | Phan Thanh | 1,5 km | N: 22°35'17,5"; E: 105°51'35,3" | N: 22°35'37,5"; E: 105°51'53,6" |
| Tuyến 17 | Từ Cá Hồi 2 đi theo đường mòn vào rừng | Phan Thanh | 1,5 km | N: 22°35'36,6"; E: 105°51'24,7" | N: 22°35'42,7"; E: 105°51'31,1" |
| Tuyến 18 | Theo hướng đường mòn vào rừng | Phan Thanh | 1,3 km | N: 22°37'01,7"; E: 105°50'39,3" | N: 22°37'21,8"; E: 105°51'20,8" |
| Tuyến 19 | Theo hướng đường mòn vào rừng | Phan Thanh | 0,9 km | N: 22°38'04,5"; E: 105°50'37,3" | N: 22°38'09,6"; E: 105°51'11,0" |
| Tuyến 20 | Trạm gác bảo vệ rừng TT Tĩnh Túc | TT Tĩnh Túc | 3,5 km | N: 22°38'34,2"; E: 105°50'47,9" | N: 22°38'44,6"; E: 105°51'49,1" |
| Tuyến 21 | Trạm gác bảo vệ rừng TT Tĩnh Túc | TT Tĩnh Túc | 2,5 km | N: 22°38'34,2"; E: 105°50'47,9" | N: 22°38'16,0"; E: 105°51'19,2" |
| Tuyến 22 | Từ đường thôn theo đường mòn vào rừng | Hưng Đạo | 1,0 km | N: 22°34'58,4"; E: 105°56'55,9" | N: 22°35'17,4"; E: 105°56'49,0" |
| Tuyến 23 | Từ đường thôn theo đường mòn vào rừng | Hưng Đạo | 1,1 km | N: 22°34'51,9"; E: 105°56'33,4" | N: 22°35'00,0"; E: 105°56'19,3" |
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp hình thái so sánh: Giám định mẫu thực vật bằng cách so sánh đặc điểm hình thái với các bản mô tả trong các bộ Thực vật chí, Danh lục thực vật và đối chiếu với mẫu chuẩn lưu trữ tại các bảo tàng, phòng tiêu bản.
- Phân tích dạng sống: Áp dụng hệ thống phân loại của Raunkiaer (1934) có hiệu chỉnh bởi Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), phân chia thành 5 nhóm dạng sống chính: Ph (cây chồi trên mặt đất), Hm (cây chồi nửa ẩn), Cr (cây chồi ẩn), Ch (cây chồi sát đất), Th (cây một năm). Trong nhóm Ph chia thành các nhóm phụ: Cây có chồi nhỏ trên đất 2–8 m (Mi), Cây có chồi vừa trên đất 8–25 m (Me), Cây có chồi lớn trên đất >25 m (Mg), Cây có chồi lùn trên đất 0,25–2 m (Na), Cây có chồi leo cuốn (Lp), Cây có chồi trên thân thảo (Hp), Cây ký sinh/bán ký sinh (Pp), Cây biểu sinh sống bám (Ep).
- Phân tích yếu tố địa lý: Thống kê 16 yếu tố địa lý thực vật theo phân loại của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) và Lê Trần Chấn (1999) (loại trừ khái niệm "cận đặc hữu"): Toàn thế giới (10), Liên nhiệt đới (11), Cổ nhiệt đới (12), Cổ nhiệt đới Á - Úc (13), Cổ nhiệt đới Á - Phi (14), Nhiệt đới châu Á (15), Đông Dương - Malêzi (16), Đông Dương - Ấn Độ (17), Đông Dương - Himalaya (18), Đông Dương - Nam Trung Hoa (19), Đông Dương (20), Ôn đới Bắc (21), Đông Á (22), Đặc hữu Việt Nam (23), Cây trồng và nhập nội (24), Yếu tố khác/Yếu tố châu Á (25).
- Phân loại giá trị sử dụng: Phân thành 9 nhóm theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) và Tên cây rừng Việt Nam (2000): Cây ăn được (And), Cây cho gỗ (Lgo), Cây cho sợi (Soi), Cây cho tinh dầu (Ctd), Cây có độc (Doc), Cây làm cảnh (Can), Cây làm thức ăn gia súc (And/Tad), Cây làm thuốc (Thu), Cây nhuộm (Nhu).
- Đánh giá tình trạng nguy cấp và thứ bậc bảo tồn: Tra cứu đối chiếu theo Sách đỏ Việt Nam (2007), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và Danh lục đỏ IUCN (2019). Xếp thứ tự ưu tiên dựa trên tổ hợp 4 nguồn dữ liệu.
- Công cụ tin học: Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý các taxon trên phần mềm Microsoft Access; sử dụng phần mềm ArcView để xây dựng sơ đồ phân bố các loài nguy cấp, quý, hiếm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Những nghiên cứu về đa dạng Hệ Thực vật trên thế giới, Việt Nam và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén
Chương này tổng thuật toàn diện các thành tựu nghiên cứu thực vật học quốc tế và trong nước về cấu trúc taxon, phân loại dạng sống, phân tích địa lý và đánh giá mức độ bị đe dọa của các loài nguy cấp. Đồng thời, chương 1 phân tích chi tiết điều kiện địa lý tự nhiên của Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén:
- Khu vực có tính đa dạng cảnh quan cao, địa hình đồi núi dốc, chia cắt mạnh từ 500 m đến 1.931 m, có khối núi đá vôi phía Bắc và khối xâm nhập granit ở vùng trung tâm và phía Tây.
- Đất đai phong phú với 7 nhóm đất và 16 loại đất, tiêu biểu là đất mùn alit núi cao và các loại đất feralit phát triển trên nhiều loại đá mẹ khác nhau.
- Mạng lưới suối đầu nguồn dày đặc đổ về sông Gâm, sông Năng, sông Bằng Giang. Khí hậu mang tính chất á nhiệt đới núi cao điển hình với mùa đông lạnh kéo dài, mùa hè mát mẻ, lượng mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10.
- Về mặt xã hội, dân số trong khu vực là 33.000 người, gồm đồng bào các dân tộc thiểu số Dao, Nùng, Tày, Mông sinh sống phụ thuộc nhiều vào sản xuất nương rẫy, chăn nuôi và khai thác lâm sản phụ.
Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận phân loại hình thái so sánh, quy trình lập 23 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài trên 100 km, kỹ thuật thu hái, bảo quản và định danh 674 số hiệu mẫu tiêu bản tại Phòng Thực vật (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật).
Nội dung chương trình bày rõ hệ thống thang đo đánh giá:
- Phân loại 6 ngành thực vật có mạch;
- Tiêu chuẩn dạng sống cải tiến của Raunkiaer (1934) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007);
- Khung 16 yếu tố địa lý thực vật học;
- Khung 9 nhóm công dụng tài nguyên thực vật;
- Phương pháp đánh giá cấp độ đe dọa kết hợp 4 nguồn cơ sở dữ liệu (Sách đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 06/2019/NĐ-CP, Danh lục thực vật đặc hữu Việt Nam, Danh lục đỏ IUCN 2019);
- Quy trình số hóa dữ liệu bằng Microsoft Access và thành lập bản đồ bằng ArcView.
Chương 3. Kết quả và thảo luận
Chương 3 là phần trọng tâm của luận án, trình bày toàn diện các kết quả định lượng về đa dạng sinh học của Hệ Thực vật bậc cao có mạch tại VQG Phia Oắc – Phia Đén:
1. Đa dạng ở mức độ ngành thực vật
Kết quả nghiên cứu đã lập danh lục và xác định tại VQG Phia Oắc – Phia Đén có 1.448 loài và dưới loài, thuộc 754 chi, 204 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch.
| Tên ngành thực vật | Tên khoa học | Số họ | Tỷ lệ họ (%) | Số chi | Tỷ lệ chi (%) | Số loài và dưới loài | Tỷ lệ loài (%) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Khuyết lá thông | Psilotophyta | 1 | 0,49 | 1 | 0,13 | 1 | 0,07 |
| Thông đất | Lycopodiophyta | 2 | 0,98 | 4 | 0,53 | 8 | 0,55 |
| Cỏ tháp bút | Equisetophyta | 1 | 0,49 | 1 | 0,13 | 2 | 0,14 |
| Dương xỉ | Polypodiophyta | 24 | 11,76 | 72 | 9,55 | 130 | 8,98 |
| Thông (Hạt trần) | Pinophyta | 6 | 2,94 | 10 | 1,33 | 17 | 1,17 |
| Ngọc lan (Hạt kín) | Magnoliophyta | 170 | 83,33 | 666 | 88,33 | 1.290 | 89,09 |
| Tổng cộng | 204 | 100,0 | 754 | 100,0 | 1.448 | 100,0 |
Trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), cấu trúc phân bố giữa hai lớp thể hiện ưu thế vượt trội của lớp Ngọc lan (Dicotyledoneae) so với lớp Hành (Monocotyledoneae).
2. Phát hiện loài mới và ghi nhận loài bổ sung
- Phát hiện, mô tả và công bố 01 loài mới cho khoa học: loài Nhị thập cao bằng (Staurogyne caobangensis D. Hai & Joongku Lee) thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
- Ghi nhận bổ sung 232 loài thực vật bậc cao có mạch cho Hệ Thực vật Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén.
3. Đa dạng ở mức độ họ và chi
Luận án thống kê và xếp hạng 10 họ giàu loài nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hệ thực vật, phản ánh đặc trưng của hệ thực vật nhiệt đới và á nhiệt đới núi cao phía Bắc Việt Nam. Đồng thời, thống kê 10 chi có số lượng loài phong phú nhất tại khu vực nghiên cứu.
4. Đa dạng về dạng sống
Phổ dạng sống của Hệ Thực vật VQG Phia Oắc – Phia Đén được xác lập theo công thức của Raunkiaer (1934) có chỉnh sửa của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007):
- Nhóm cây có chồi trên mặt đất (Phanerophytes - Ph) chiếm ưu thế áp đảo; tiếp theo là các nhóm cây chồi sát đất (Chamaephytes - Ch), cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes - Hm), cây chồi ẩn (Cryptophytes - Cr) và cây một năm (Therophytes - Th).
- Trong nhóm cây chồi trên (Ph), các dạng cây chồi nhỏ (Mi), chồi vừa (Me), chồi leo cuốn (Lp) và biểu sinh sống bám (Ep) chiếm tỷ lệ cao, đặc trưng cho cấu trúc rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới núi cao.
5. Đa dạng về yếu tố địa lý
Phân tích 16 yếu tố địa lý cho thấy Hệ Thực vật VQG Phia Oắc – Phia Đén mang tính chất giao thoa phức tạp:
- Yếu tố nhiệt đới châu Á, yếu tố Đông Dương - Nam Trung Hoa, và yếu tố Đông Dương chiếm tỷ lệ lớn.
- Sự hiện diện rõ rệt của các yếu tố ôn đới Bắc và Đông Á do ảnh hưởng của đai cao địa hình và gió mùa Đông Bắc.
- Nhóm các loài đặc hữu Việt Nam khẳng định giá trị bảo tồn nguồn gen độc đáo của vùng núi Phia Oắc.
6. Đa dạng về giá trị sử dụng
Luận án thống kê toàn diện 9 nhóm công dụng tài nguyên thực vật:
- Nhóm cây làm thuốc (Thu): là nhóm có số loài phong phú nhất, trong đó phân tích chi tiết 10 họ và 10 chi tiêu biểu trị các nhóm bệnh phổ biến: bệnh lị, mụn nhọt, rắn cắn, thấp khớp.
- Nhóm cây cho gỗ (Lgo): cung cấp gỗ thương phẩm và gia dụng.
- Nhóm cây ăn được (And): rau rừng, quả rừng.
- Nhóm cây làm cảnh (Can): các loài thuộc họ Orchidaceae, các loài cây thế đẹp.
- Các nhóm cây khác: cây cho tinh dầu (Ctd), cây cho sợi (Soi), cây thức ăn động vật, cây có độc (Doc) và cây nhuộm (Nhu).
7. Thực vật nguy cấp, quý, hiếm và thứ bậc ưu tiên bảo tồn
Luận án đánh giá tình trạng nguy cấp của các loài dựa trên việc đối chiếu đồng thời:
- Sách đỏ Việt Nam (2007): các cấp độ Rất nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN), Sẽ nguy cấp (VU).
- Nghị định số 06/2019/NĐ-CP: Nhóm IA (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) và Nhóm IIA (hạn chế khai thác, sử dụng).
- Danh lục đỏ IUCN (2019): các thứ hạng đe dọa toàn cầu.
- Danh sách các loài đặc hữu Việt Nam.
Từ việc tích hợp 4 bộ dữ liệu trên, luận án xây dựng ma trận phân hạng thứ tự ưu tiên bảo tồn cho từng loài tại VQG Phia Oắc – Phia Đén.
8. Nguyên nhân suy giảm và giải pháp bảo tồn
- Nguy cơ suy giảm: Luận án phân tích mối quan hệ giữa các nguyên nhân trực tiếp (khai thác lâm sản gỗ và cây thuốc quá mức, chuyển đổi đất rừng làm nương rẫy, chăn thả gia súc tự do, biến đổi khí hậu, cháy rừng) và nguyên nhân gián tiếp (dân số gia tăng, tập quán du canh du cư cục bộ, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, sinh kế khó khăn của người dân bản địa).
- Giải pháp đề xuất: Đề xuất hệ thống giải pháp tổng hợp gồm bảo tồn tại chỗ (in-situ), bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ), giải pháp kỹ thuật lâm sinh, nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng của Vườn Quốc gia, hoàn thiện chính sách giao khoán bảo vệ rừng và giải pháp phát triển sinh kế cộng đồng bền vững.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Phát hiện, mô tả và công bố chính thức 01 loài thực vật mới cho khoa học: loài Nhị thập cao bằng (Staurogyne caobangensis D. Hai & Joongku Lee) thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
- Ghi nhận và bổ sung 232 loài thực vật bậc cao có mạch cho danh lục Hệ Thực vật Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, làm phong phú thêm dẫn liệu khoa học về khu hệ thực vật núi cao miền Bắc Việt Nam.
- Cung cấp dẫn liệu có hệ thống, toàn diện và đầy đủ nhất về thành phần loài của 6 ngành thực vật có mạch tại Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén với tổng số 1.448 loài và dưới loài, 754 chi, 204 họ.
- Phân tích chi tiết cấu trúc phổ dạng sống, đặc trưng 16 yếu tố địa lý thực vật, tính đa dạng của 9 nhóm giá trị sử dụng và các nhóm bệnh điều trị bằng cây thuốc truyền thống tại địa phương.
- Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa quản lý tài nguyên thực vật bằng phần mềm Microsoft Access; xây dựng sơ đồ phân bố không gian các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm bằng công nghệ ArcView.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và chính sách
- Xây dựng danh lục các loài thực vật quý, hiếm cần ưu tiên bảo tồn tại VQG Phia Oắc – Phia Đén dựa trên sự tích hợp đồng bộ 4 nguồn dữ liệu pháp lý và khoa học: Sách đỏ Việt Nam (2007), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ, Danh lục thực vật đặc hữu Việt Nam và Danh lục đỏ IUCN (2019).
- Xác định các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây suy thoái tài nguyên thực vật tại chỗ; đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn, quy hoạch quản lý khả thi, hỗ trợ Ban quản lý Vườn Quốc gia và Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Cao Bằng trong việc bảo tồn nguyên vị các nguồn gen nguy cấp và định hướng sử dụng bền vững tài nguyên cây có ích.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Thời gian nghiên cứu thực địa giới hạn trong 3 năm (từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2019), trong điều kiện địa hình vùng núi Phia Oắc hiểm trở, độ dốc lớn và chia cắt phức tạp với nhiều đỉnh núi cao trên 1.200 m đến 1.931 m.
- Mẫu vật thu thập chủ yếu thực hiện dọc theo 23 tuyến điều tra quy định với bề rộng 10 m mỗi bên tuyến, do đó một số sinh cảnh hẻo lánh, vách đá dựng đứng hoặc vùng lõi sâu chưa thể tiếp cận khảo sát triệt để trong mọi mùa sinh trưởng.
- Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào Thực vật bậc cao có mạch, chưa bao quát các nhóm sinh vật khác như Rêu (Bryophyta), Nấm hay Tảo.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục mở rộng các tuyến khảo sát vào các sinh cảnh đặc thù chưa tiếp cận được nhằm phát hiện thêm các taxon ghi nhận mới hoặc các loài mới cho khoa học.
- Triển khai các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học quần thể, sinh thái học cá thể, khả năng tái sinh tự nhiên và diễn thế quần xã đối với loài mới phát hiện (Staurogyne caobangensis) và các loài nguy cấp, đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng cao.
- Thực hiện các thử nghiệm nhân giống, bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ), di thực và thuần hóa các loài cây thuốc quý bản địa nhằm tạo nguồn nguyên liệu dược liệu bền vững, hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng kết quả nghiên cứu
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Thực vật học, Lâm học, Sinh thái học, Dược học, Quản lý tài nguyên rừng và Bảo tồn đa dạng sinh học tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành.
- Cán bộ quản lý và lực lượng kiểm lâm: Cán bộ kỹ thuật và kiểm lâm thuộc Ban quản lý Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng và các Khu bảo tồn thiên nhiên lân cận trong khu vực Đông Bắc.
- Các nhà hoạch định chính sách: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình và tỉnh Cao Bằng trong công tác xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Các nội dung có giá trị tham khảo cao nhất
- Bảng Danh lục 1.448 loài và dưới loài: Đầy đủ thông tin về tên khoa học, danh pháp đồng nghĩa, tên tiếng Việt, dạng sống, yếu tố địa lý, giá trị sử dụng và cấp độ bảo tồn.
- Hệ thống dữ liệu số hóa Microsoft Access và bản đồ ArcView: Mô hình mẫu cho việc tổ chức, phân tích, tra cứu và trực quan hóa dữ liệu đa dạng sinh học tại các khu rừng đặc dụng.
- Phương pháp tích hợp 4 bộ tiêu chí đánh giá bảo tồn: Cung cấp quy trình phân hạng ưu tiên bảo tồn loài một cách khoa học, chặt chẽ, dễ áp dụng vào thực tiễn quản lý rừng đặc dụng tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Hệ Thực vật bậc cao có mạch tại VQG Phia Oắc – Phia Đén gồm bao nhiêu loài và cấu trúc giữa các ngành như thế nào?
Kết quả nghiên cứu của luận án ghi nhận tổng số 1.448 loài và dưới loài, thuộc 754 chi và 204 họ của 6 ngành thực vật có mạch. Trong đó, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 1.290 loài (chiếm 89,09% tổng số loài), 666 chi (88,33%) và 170 họ (83,33%). Tiếp theo là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) với 130 loài (8,98%), 72 chi và 24 họ. Ngành Thông (Pinophyta) có 17 loài (1,17%), 10 chi và 6 họ. Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 8 loài (0,55%), 4 chi và 2 họ. Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 2 loài (0,14%), 1 chi và 1 họ. Ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) có 1 loài (0,07%), 1 chi và 1 họ.
2. Luận án đã phát hiện loài thực vật mới nào cho khoa học?
Luận án đã phát hiện, mô tả và công bố chính thức 01 loài thực vật mới cho khoa học là loài Nhị thập cao bằng, danh pháp khoa học: Staurogyne caobangensis D. Hai & Joongku Lee, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
3. Có bao nhiêu loài thực vật được luận án ghi nhận bổ sung cho Hệ Thực vật VQG Phia Oắc – Phia Đén?
Luận án đã điều tra và bổ sung 232 loài thực vật bậc cao có mạch cho danh lục Hệ Thực vật Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén so với các công bố và báo cáo khảo sát trước đây tại khu vực này.
4. Quy mô và phương pháp điều tra thực địa được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu sinh đã thiết lập 23 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài trên 100 km, trải dài trên địa bàn các xã Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Hưng Đạo và thị trấn Tĩnh Túc. Tuyến có chiều dài lớn nhất là Tuyến 13 (8,1 km), tuyến ngắn nhất là Tuyến 19 (0,9 km). Phương pháp thu mẫu được tiến hành trong phạm vi 10 m mỗi bên tuyến, thu từ 6–8 tiêu bản/loài, thu được tổng số 674 số hiệu tiêu bản và lưu trữ toàn bộ tại Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.
5. Dữ liệu phân loại và bản đồ phân bố các loài nguy cấp được xử lý bằng những công cụ phần mềm nào?
Luận án đã ứng dụng phần mềm hệ cơ sở dữ liệu Microsoft Access để quản lý, phân loại và xử lý toàn bộ các số liệu điều tra về các bậc taxon, phổ dạng sống, yếu tố địa lý và nhóm giá trị sử dụng. Đồng thời, luận án sử dụng phần mềm ArcView kết hợp định vị tọa độ GPS để thành lập sơ đồ phân bố không gian của các loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm trong ranh giới Vườn Quốc gia.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Văn Hải là công trình khoa học toàn diện, có hệ thống đầu tiên về đa dạng Hệ Thực vật bậc cao có mạch tại Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng. Luận án đã lập danh lục chính xác 1.448 loài và dưới loài thuộc 754 chi, 204 họ của 6 ngành thực vật, công bố 01 loài mới cho khoa học (Staurogyne caobangensis) và ghi nhận bổ sung 232 loài cho khu hệ. Thông qua việc phân tích sâu sắc các đặc trưng dạng sống, yếu tố địa lý, giá trị tài nguyên và tích hợp 4 bộ cơ sở dữ liệu để xác định các loài ưu tiên bảo tồn, công trình đã xây dựng thành công cơ sở dữ liệu số hóa và bản đồ phân bố thực vật nguy cấp. Kết quả này cung cấp luận cứ khoa học tin cậy phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và định hướng sử dụng bền vững tài nguyên rừng tại địa phương.