MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một trong số ít các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa và địa hình dạng, kéo dài trên nhiều vĩ độ từ Bắc đến Nam và từ Đông sang Tây từ đó dẫn đa dạng các hệ sinh thái, tạo nên sự đa dạng các loài sinh vật mà trong đó có lƣỡng cƣ. Trong những thời gian trở lại đây Việt Nam đƣợc biết đến là một trong số ít các quốc gia có các loài lƣỡng cƣ mới phát hiện mô tả loài mới cũng nhƣ ghi nhận phân bố mới nhiều nhất trên thế giới.
Diện tích của tỉnh Thanh Hóa là 11. Do địa hình bị chia cắt mạnh tạo nên các tiểu vùng khí hậu, sự phân hóa rõ rệt và rõ nét về cảnh quan, ổ sinh thái. Tuy nhiên diện tích rừng tự nhiên ở Thanh Hóa còn tƣơng đối ít trên tổng diện tích do tác động của tăng dân số, chiến tranh và khai thác không bền vững từ đó để bảo vệ đa dạng sinh học ở tỉnh Thanh Hóa đã thành lập một VQG là Bến En và ba KBTTN là Pù Luông, Pù Hu, Xuân Liên cùng nhiều khu bảo tồn loài và cảnh quan khác. Trong đó, KBTTN Pù Luông đƣợc thành lập vào ngày 24/4/1999 với diện tích ban đầu là 17.320 ha là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 4.343 ha còn lại là phân khu phục hồi sinh thái.
Tuy nhiên, để phù hợp cho việc phát triển kinh tế và mở rộng khu bảo tồn, hiện nay đã mở rộng thêm vùng đệm 9.009,6 ha và nâng tổng diện tích lên tới 26. KBTTN Pù Luông rất độc đáo, có giá trị về khoa học, kinh tế và du lịch cao do sự đa dạng về địa hình, cảnh quan, khí hậu và hệ động - thực vật. Khu BTTN Pù Luông có hai dãy núi chạy song song với theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, ngăn cách với nhau bởi một vùng thung lũng. Hai dãy núi này gần nhau nhƣng lại có nền địa chất hoàn toàn khác biệt.
Dãy núi bé hơn đƣợc hình thành chủ yếu từ đá lửa và đá biến chất. Dãy núi lớn hơn đƣợc hình thành 1 từ những vùng đá vôi bị chia cắt mạnh. Độ cao của KBTTN là từ 60 đến 1. Tại đây, rừng nguyên sinh là loại rừng nhiệt đới thƣờng xanh theo mùa.
Ở đây có 5 kiểu rừng bao gồm: rừng lá rộng đất thấp trên núi đá vôi; rừng lá rộng núi đất thấp trên các phiến thạch, sa thạch và đất sét; rừng lá rộng chân núi đá vôi; rừng lá kim chân núi đá vôi và rừng lá rộng chân núi Bazan. KBTTN cũng tồn tại các thảm rừng thứ sinh nhƣ rừng tre nứa, cây bụi và đất nông nghiệp nhƣ nhiều khu rừng khác nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới có gió mùa của Việt Nam. Theo kết nghiên cứu gần đây cho thấy tại Pù Luông có 1.109 loài thực vật có mạch. Khu hệ động vật đã xác định đƣợc 84 loài thú, 162 loài chim, 55 loài cá, 42 loài bò sát và 35 loài lƣỡng cƣ, 158 loài bƣớm, 96 loài thân mềm trên cạn.
Ở KBTTN Pù Luông còn rất ít các nghiên cứu về lƣỡng cƣ. Chủ yếu các nghiên cứu đã từng đƣợc tiến hành thƣờng tập trung vào đa dạng thành phần loài; về đặc điểm sinh học sinh thái; có rất ít các mô tả về nòng nọc của các loài lƣỡng cƣ. Từ những lý do đó chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái nòng nọc một số loài lƣỡng cƣ thuộc Họ cóc bùn (Megophryidae) ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, Tỉnh Thanh Hóa”. Đây là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần cung cấp dẫn liệu về phát triển của nòng nọc của các loài lƣỡng cƣ có phân bố ở đây phục vụ công tác bảo tồn ở đây.
Mục tiêu nghiên cứu Định loại và mô tả đƣợc đặc điểm hình thái của nòng nọc một số loài thuộc Họ Megophryidae tại Khu BTTN Pù Luông. Nội dung nghiên cứu Định loại nòng nọc họ Megophryidae tại KBTTN Pù Luông. 2 Mô tả đặc điểm hình thái phân loại nòng nọc của các loài lƣỡng cƣ thuộc họ Megophryidae ở khu vực nghiên cứu. 3 Chƣơng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái quát tình hình nghiên cứu nòng nọc lƣỡng cƣ ở Việt Nam Năm 1924, Smith là tác giả đầu tiên nghiên cứu nòng nọc loài Rana johnsi ở Việt Nam. Tiếp theo đó là Bourret vào năm 1942 với công trình nghiên cứu về lƣỡng cƣ khu vực Đông Dƣơng. Nghiên cứu đã mô tả, xây dựng đƣợc khóa định loại nòng nọc cho 62 loài lƣỡng cƣ, trong đó 44 loài có ở Việt Nam [32]. Trong thời gian gần đây, các nghiên cứu củ thể về nòng nọc của các loài lƣỡng cƣ vẫn còn ít, các công bố về một số giai đoạn phát triển nòng nọc của một số loài cùng với các công bố về loài mới.
Năm 2009, Lê Thị Thu et al đã cung cấp bổ sung các dẫn liệu về hình thái, giai đoạn phát triển nòng nọc lƣỡng cƣ của một số loài thuộc họ Megophryidare Tây Nghệ An [14]. Năm 2011, Rowley et al. đã công bố loài loài mới Nhái cây quang Gracixalus quangi cùng với mô tả nòng nọc của nó ở KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An [29]. Cũng trong năm này, Rowley et al.
đã mô tả 2 loài mới Theloderma nebulosum và T. Palliatum và các thông tin về hình thái nòng nọc của loài T. Nebulosum ở KBTTN Ngọc Linh [30]. Năm 2012, Orlov et al.
đã hệ thống các loài lƣỡng cƣ trong họ Rhacophoridae ở phía Nam dãy Trƣờng Sơn và mô tả 3 loài mới là Theloderma chuyangsinense, T. bambusicola và Rhacophorus robertingeri, trong đó nòng nọc của loài T. palliatum, Raorchestes gryllus cũng đƣợc mô tả [27]. Năm 2012, Đoàn Thị Ngọc Linh et al đã mô tả đặc điểm hình thái của một số giai đoạn phát triển nòng nọc của hai loài lƣỡng cƣ thuộc giống Ếch cây sần Theloderma [9].
4 Năm 2012, Lê Thị Quý et al mô tả nòng nọc của 2 loài nhái bầu Microhyla butleri và M. Heymonsi và loài Ếch cây trung bộ Rhacophorus annamensis ở VQG Bạch Mã [12]. Nishikawa et al. Năm 2014, Poyarkov et al.
đã hệ thống phân loại, phân bố của các loài nhái bầu thuộc giống Microhyla ở Việt Nam, và mô tả thêm 5 loài mới bao gồm Microhyla pineticola, M. arboricola ở các tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Kon Tum và tỉnh Khánh Hòa. Đồng thời dẫn liệu về nòng nọc của các loài mới này cũng đƣợc mô tả. Đây là công trình nghiên cứu tƣơng đối đầy đủ về hệ thống phân loại của giống nhái bầu ở nƣớc ta đến nay [26].
Vassilieva et al. (2014) mô tả 2 loài mới Kalophrynus cryptophonus tỉnh Lâm Đồng và K. honbaensis ở tỉnh Khánh Hòa và mô tả nòng nọc của loài K. Năm 2014, Lê Thị Quý và Hoàng Ngọc Thảo, mô tả đặc điểm hình thái nòng nọc loài Cóc rừng Ingerophrunus galeatus ở VQG Bạch Mã [11].
Năm 2018, Nguyễn Thanh Luân mô tả loài mới Leptolalax rowleyae và nòng nọc của nó tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng [24]. Năm 2018, Daniel Kane el al. đã đƣa ra các dẫn liệu về sự phát triển của nòng nọc của loài ếch cây Rhacophorus feae [18]. Năm 2019, Đỗ Văn Thoại et al mô tả đặc điểm hình thái nòng nọc loài Ếch gai sần Quasipaa delacouri ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An [13].
Nguyễn Phƣơng Linh et al mô tả hình thái nòng nọc loài Leptobrachium ailaonicum gồm các giai đoạn phát triển 25, 34 đến 37 ở Khu bảo tồn loài và Sinh cảnh Mù Cang Chải [8]. Năm 2020, Benjamin Tapley et al. công bố hình thái phân loại nòng nọc của năm loài thuộc giống Megophrys tại VQG Hoàng Liên Sơn, bao gồm 5 Megophrys fansipanensis, M. Khái quát về nghiên cứu nòng nọc lƣỡng cƣ ở Khu BTTN Pù Luông Nghiên cứu về nòng nọc ở Khu BTTN Pù Luông cho đến nay còn ít đƣợc quan tâm, một số nghiên cứu đáng chú ý nhƣ: Năm 2021, Thiều Thị Huyền, đã ghi nhận nòng nọc của 5 loài lƣỡng cƣ thuộc các giống Xenophrys, Leptobrachium và Leptobrachella ở KBTTN Pù Luông.
Bao gồm Xenophrys maosonensis, Xenophrys sp., Leptobrachium chapaense, Leptobrachella petrops và L. Trong nghiên cứu ngày tác giả đã dẫn ra các giai đoạn phát của loài Leptobrachella petrops (giai đoạn 25, 26, 27, 32, 33, 34, 35); loài Leptobrachella ventripunctata (giai đoạn 25, 26, 27, 37, 42), loài Xenophry maosonensis (giai đoạn 25, 35) và Xenophrys sp. Năm 2022, tác giả Phan Mai Chi ghi nhận và mô tả đặc điểm hình nòng nọc của loài Fejervaria limnocharis gồm các giai đoạn 25, 35, 37 và loài Amolops cremnobatus gồm các giai đoạn 33, 37, 40, 42 [5]. Năm 2022, Bùi Thị Hà mô tả sự phát triển của nòng nọc của một phenol chƣa định danh thuộc họ Ếch cây gồm các giai đoạn 25, 26, 27, 28, 36, 42 [6].
Nhƣ vậy, cho đến nay các nghiên cứu về nong nọc của các loài lƣỡng cƣ nói chung cũng nhƣ các loài thuộc Họ cóc bùn ở đây còn ít và thiếu nhiều giai đoạn trong vòng đời của chúng. Khái quát đặc điểm KBTTN Pù Luông Khu BTTN Pù Luông nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thanh Hóa, thuộc địa phận các huyện Bá Thƣớc và Quan Hóa. Cách thành phố Thanh Hóa 130 km về phía tây bắc. Cách Thị Trấn Cành Nàng, huyện Bá Thƣớc khoảng chừng 20 km và cách Hà Nội khoảng 178 km theo hƣớng Tây Bắc.
Khu bảo tồn có vị trí địa lý trải dài từ 200 21' đến 200 34’ vĩ độ Bắc và từ 1050 02’ đến 1050 20’ kinh 6 độ Đông. Phía Bắc và Đông giáp với các huyện Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Phía Tây ngăn cách với KBTTN Pù Hu bởi dòng sông Mã và đƣờng tỉnh lộ 521A (Hình 1. Vùng lõi và vùng phục hồi sinh thái của KBTTN Pù Luông nằm trên địa giới hành chính của 8 xã thuộc 2 huyện, bao gồm xã Phú Lệ, Phú Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm thuộc Huyện Quan Hóa; xã Lũng Cao, Cổ Lũng, Thành Sơn, Thành Lâm, Huyện Bá Thƣớc.
Hệ sinh thái trên núi đá vôi tại đây có giá trị cao về đa dạng sinh học đồng thời thuộc liên khu sinh cảnh đá vôi Pù Luông - Cúc Phƣơng là khu vực có diện tích lớn nhất trên vùng đất thấp ở miền Bắc Việt Nam. Hệ động, thực vật ở đây có tính đa dạng rất cao, là nơi chứa đựng nhiều nguồn gen có giá trị cần đƣợc ƣu tiên bảo vệ. Vị trí của KBTTN Pù Luông trong tỉnh Thanh Hóa 8 1.