Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp với đề tài "Nghiên cứu tình trạng, đặc điểm sinh thái và bảo tồn loài Trĩ sao (Rheinardia ocellata (Elliot, 1871)) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, tỉnh Gia Lai" do nghiên cứu sinh Nguyễn Chí Thành thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Tiến Thịnh, bảo vệ tại Trường Đại học Lâm nghiệp vào năm 2024 thuộc ngành Quản lý tài nguyên rừng (mã số: 9.11). Công trình nhận được sự tài trợ kinh phí nghiên cứu từ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Loài Trĩ sao trước đây được ghi nhận có 2 phân loài tại khu vực Đông Nam Á gồm Rheinardia ocellata ocellata (phân bố tại Việt Nam, Lào) và Rheinardia ocellata nigrescens (phân bố tại Malaysia). Đến năm 2021, tổ chức BirdLife International đã chính thức nâng cấp hai phân loài này thành hai loài độc lập là Trĩ sao (Rheinardia ocellata) và Trĩ sao Malaysia (Rheinardia nigrescens). Do có kích thước cơ thể lớn, giá trị kinh tế và thẩm mỹ cao, Trĩ sao trở thành đối tượng bị săn bắt quá mức, sinh cảnh bị chia cắt và thu hẹp khiến số lượng cá thể ngoài tự nhiên suy giảm nhanh chóng, được xếp vào nhóm Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Danh lục Đỏ IUCN (2021).

Để thực hiện công tác bảo tồn loài hiệu quả, yêu cầu cấp thiết là phải xác định chính xác tình trạng quần thể, đặc điểm phân bố, tập tính và các mối đe dọa trực tiếp. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về Trĩ sao chủ yếu dừng lại ở mức độ mô tả định tính qua quan sát, thiếu hụt dữ liệu định lượng và phần lớn áp dụng phương pháp điều tra điểm nghe truyền thống phụ thuộc vào sự hiện diện trực tiếp của con người, chưa khai thác hiệu quả các phương pháp hiện đại như âm sinh học (bioacoustics). Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Kon Chư Răng – khu rừng đặc dụng có diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 98% với tính đa dạng sinh học cao – Trĩ sao đã được ghi nhận trong danh lục nhưng chưa từng có công trình nghiên cứu chuyên sâu, dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở khoa học để xây dựng phương án bảo tồn cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Đánh giá được tình trạng quần thể; bổ sung dữ liệu về một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của Trĩ sao nhằm cung cấp cơ sở khoa học để bảo tồn loài chim quý hiếm này tại Khu BTTN Kon Chư Răng nói riêng cũng như ở Việt Nam nói chung.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định được tình trạng quần thể, đặc điểm phân bố của Trĩ sao tại Khu BTTN Kon Chư Răng.
    2. Xác định được một số đặc điểm về tiếng kêu của Trĩ sao tại Khu BTTN Kon Chư Răng.
    3. Xác định được các mối đe dọa và đề xuất các giải pháp bảo tồn loài Trĩ sao tại Khu BTTN Kon Chư Răng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Loài Trĩ sao (Rheinardia ocellata (Elliot, 1871)) thuộc họ Trĩ (Phasianidae), bộ Gà (Galliformes).
  • Phạm vi không gian: Ranh giới lâm phần quản lý của Khu BTTN Kon Chư Răng (thuộc địa bàn xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa và thu thập dữ liệu được thực hiện liên tục trong giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023.
  • Phạm vi nội dung: Xác định hiện trạng và biến động quần thể Trĩ sao (2021 - 2023); các đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và đai cao; đặc trưng âm học phổ âm thanh và tập tính phát âm theo thời gian; so sánh hiệu quả giữa phương pháp âm sinh học và bẫy ảnh; xác định các mối đe dọa và khoanh vùng khu vực ưu tiên bảo tồn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

  1. Tổng quan về phân loại và thành phần loài họ Trĩ:

    • Lê Mạnh Hùng và cộng sự (2020) thống kê khu vực Đông Nam Á có 54 loài chim họ Trĩ, trong đó Việt Nam có 20 loài thuộc họ Trĩ (Phasianidae). Một số loài có giá trị bảo tồn cao gồm Công (Pavo muticus), Trĩ sao (Rheinardia ocellata), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi).
    • Rothschild (1902) lần đầu tiên mô tả 9 điểm khác biệt hình thái của chim trống phân loài Trĩ sao tại Malaysia so với Việt Nam.
    • Davison et al. (2020) so sánh hình thái học (lông mày, mỏ, cổ họng, mào lông, hoa văn lông bao đuôi, kích thước đốm trắng) và âm học (tiếng kêu ngắn, dài, gấp) giữa hai phân loài, làm cơ sở đề xuất nâng cấp thành hai loài riêng.
    • Norsyamimi et al. (2020) phân tích trình tự gen nhưng chưa thấy nhiều khác biệt lớn và đề xuất cần mở rộng mẫu phân tích di truyền. Đến năm 2021, BirdLife International chính thức công nhận hai loài riêng biệt là Rheinardia ocellata (Việt Nam, Lào) và Rheinardia nigrescens (Malaysia).
  2. Nghiên cứu về tình trạng quần thể và phân bố của Trĩ sao:

    • Brickle et al. (2008) chỉ ra sự suy giảm quần thể nghiêm trọng của các loài thuộc bộ Gà tại Campuchia, Lào và Việt Nam.
    • Nguyễn Đắc Mạnh và cộng sự (2018) áp dụng phương pháp điều tra theo điểm nghe (136 điểm) kết hợp phần mềm Distance tại Khu đề xuất BTTN Khe Nước Trong (Quảng Bình), ước lượng được 48 đàn Trĩ sao với mật độ 0,9 đàn/km².
    • Eames (1995) điều tra vùng chim đặc hữu Cao nguyên Đà Lạt, phát hiện 2 cá thể Trĩ sao qua tiếng kêu tại núi Bi Doup và phân tích tác động của chính sách lâm nghiệp, di dân.
    • Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998) xác định Trĩ sao phân bố từ Hà Tĩnh đến Bình Định, sinh sống ở rừng kín thường xanh núi đất, kiếm ăn ban ngày và phát tiếng kêu tập trung từ tháng 3 đến tháng 6.
    • Nguyễn Cử và cộng sự (2000) ghi nhận phân bố loài kéo dài từ Đèo Cả đến Lâm Đồng. Nadler và Nguyễn Xuân Đặng (2008) xác định vùng phân bố chính tại khu vực Trung Bộ.
    • BirdLife International (2021) ghi nhận Trĩ sao có mặt tại 24 khu vực đa dạng sinh học và chim quan trọng ở Việt Nam (như Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha - Kẻ Bàng, Bạch Mã, Ngọc Linh, Kon Chư Răng, Bi Doup - Núi Bà).
  3. Nghiên cứu về mối đe dọa và phương pháp điều tra:

    • Các công trình của WWF (2005), McGowan et al. (2012), Gray et al. (2018, 2021), Harrison et al. (2016), Corlett (2007), Keane et al. (2005), Sodhi et al. (2010), Ling et al. (2021) khẳng định nạn săn bắt bằng bẫy giật (bẫy giò) và mất sinh cảnh là nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng của các loài chim sống trên mặt đất.
    • Về phương pháp điều tra: Buckland et al. (2001), Aide et al. (2013), Fitzpatrick et al. (2009) phân tích hạn chế của phương pháp điều tra trực tiếp; Leibniz-IZW, WWF Việt Nam và FFI Việt Nam (2021), Abram et al. (2014) chuẩn hóa quy trình bẫy ảnh; Thompson et al. (1998), Swiston và Mennill (2009), Zwart et al. (2014), Hilje và Aide (2012) phát triển kỹ thuật âm sinh học.
    • Tại Việt Nam, Thinh et al. (2012, 2015, 2019, 2020) đã ứng dụng máy ghi âm SM3 và điện thoại thông minh Samsung J4 phân tích trên phần mềm RAVEN để giám sát các loài vượn (Nomascus gabriellae) và Trĩ sao tại Cát Tiên và Ngọc Linh.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có một số nghiên cứu về Trĩ sao, phần lớn các công trình chưa cung cấp được số liệu định lượng chi tiết về các thông số âm học phổ âm thanh (tần số, độ dài âm, khoảng nghỉ, số âm) và nhịp sinh học phát âm theo giờ trong ngày và theo mùa trong năm. Đồng thời, chưa có công trình nào đánh giá biến động quần thể Trĩ sao qua các năm bằng mô hình xác suất chiếm cứ kết hợp thực nghiệm so sánh hiệu quả giữa phương pháp âm sinh học bằng điện thoại di động và bẫy ảnh tại khu vực Tây Nguyên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết sinh thái học quần thể và phân bố không gian: Đánh giá mối quan hệ giữa xác suất xuất hiện của loài với các biến số sinh cảnh (trạng thái rừng, đai cao) và biến số nhân sinh (khoảng cách đến khu dân cư/làng gần nhất).
  • Lý thuyết âm sinh học (Bioacoustics): Phân tích các đặc trưng vật lý của âm thanh sinh vật (tần số thấp nhất, tần số cao nhất, độ dài âm, cấu trúc phổ âm thanh) để định danh loài, xác định tập tính và giám sát quần thể.
  • Lý thuyết mô hình hóa xác suất xuất hiện (Occupancy Modeling): Sử dụng ma trận lịch sử phát hiện (detection history) để ước lượng xác suất chiếm cứ ($\psi$), xác suất phát hiện ($p$), xác suất tuyệt chủng cục bộ ($\varepsilon$) và xác suất chiếm cứ vùng mới ($\gamma$).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp âm sinh học (Bioacoustics):
    • Năm 2021: Thiết lập mạng lưới gồm 40 điểm đặt thiết bị ghi âm tự động bằng điện thoại di động thông minh.
    • Năm 2023: Khảo sát lặp lại tại 30 điểm đặt thiết bị ghi âm tự động.
    • Thiết bị ghi âm được cài đặt tự động thu âm theo các khung giờ định sẵn trong ngày để ghi nhận tiếng kêu của Trĩ sao.
  • Phương pháp bẫy ảnh (Camera trapping):
    • Thiết lập các điểm đặt bẫy ảnh tại các tiểu khu trong các năm 2021, 2022 và 2023 nhằm thu thập tư liệu hình ảnh về cá thể trống, cá thể mái và con non; đồng thời đối chứng, so sánh hiệu quả phát hiện với phương pháp âm sinh học.
  • Phương pháp điều tra tuyến và phỏng vấn:
    • Thiết lập các tuyến điều tra thực địa trong lâm phần để ghi nhận dấu vết tác động sinh cảnh (khai thác gỗ, chăn thả gia súc, rác thải du lịch, bẫy bắt).
    • Phỏng vấn người dân bản địa tại 2 xã vùng đệm (Sơn Lang và Đăk Roong) cùng cán bộ kiểm lâm Khu bảo tồn nhằm thu thập dữ liệu về các mối đe dọa săn bắt và sử dụng súng săn.

Nguồn tư liệu và công cụ xử lý dữ liệu

  • Xử lý âm thanh: Tệp âm thanh thu thập từ điện thoại di động được trích xuất và đo đếm các thông số âm học (Hz, giây) bằng phần mềm RAVEN.
  • Xử lý thống kê và mô hình hóa: Xây dựng ma trận phát hiện, chạy các mô hình xác suất xuất hiện $p(.), \psi$ và ước lượng tham số biến động quần thể bằng phần mềm chuyên dụng.
  • Xử lý dữ liệu không gian: Dữ liệu tọa độ GPS của các điểm ghi âm, bẫy ảnh, ranh giới tiểu khu và trạng thái rừng được biên tập, phân tích và thành lập bản đồ bằng phần mềm hệ thống thông tin địa lý (GIS).
  • Tài liệu thứ cấp: Kế hoạch quản lý rừng bền vững Khu BTTN Kon Chư Răng giai đoạn 2021 - 2030, bản đồ hiện trạng rừng và số liệu khí tượng thủy văn khu vực.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng hợp các cơ sở lý luận về phân loại học họ Trĩ, phân tích quá trình tách loài Trĩ sao (Rheinardia ocellata và Rheinardia nigrescens), đánh giá ưu nhược điểm của ba phương pháp điều tra chính (điểm nghe, bẫy ảnh, âm sinh học) và phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Khu BTTN Kon Chư Răng.

Khu BTTN Kon Chư Răng có diện tích tự nhiên là 15.526,05 ha, trong đó đất rừng đặc dụng là 15.425,43 ha. Diện tích rừng tự nhiên đạt 15.270,02 ha (chiếm 98,4% diện tích khu bảo tồn). Rừng tự nhiên tại đây có chất lượng cao, diện tích rừng giàu và rừng trung bình đạt 15.070,68 ha, chiếm 97,1% diện tích khu bảo tồn. Địa hình phân thành 3 dạng chính: đồi núi trung bình (58,3%, cao 700 - 1.400 m), cao nguyên (28,8%, cao 1.000 - 1.100 m) và thung lũng (12,9%). Dân cư vùng đệm thuộc 2 xã Sơn Lang và Đăk Roong có 8.377 nhân khẩu, trong đó đồng bào Ba Na và dân tộc thiểu số khác chiếm 67,4%, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thuần túy.

Phân loại đất / trạng thái rừng Mã Diện tích (ha) Tỷ lệ trong diện tích có rừng (%)
Rừng giàu 1410 10.699,46 70,07
Rừng trung bình 1420 4.371,22 28,63
Rừng nghèo 1430 59,62 0,39
Rừng phục hồi (TXP) 1440 139,72 0,91
Tổng diện tích có rừng tự nhiên 1110 15.270,02 100,00
Đất có cây gỗ tái sinh 2020 66,32 -
Đất trống chưa có rừng 2010 76,27 -
Đất trồng cây hàng năm 2030 12,82 -
Tổng diện tích đất nông nghiệp (Rừng đặc dụng) NNP 15.425,43 -
Đất phi nông nghiệp (đất chuyên dùng, sông suối) PNN 100,62 -
Tổng diện tích tự nhiên 15.526,05 -

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thiết kế nghiên cứu ngoài thực địa và các bước xử lý nội nghiệp:

  • Bố trí 40 điểm ghi âm tự động năm 2021 và 30 điểm ghi âm năm 2023 bằng điện thoại di động thông minh nhằm thu nhận dữ liệu âm thanh Trĩ sao.
  • Bố trí hệ thống bẫy ảnh tự động để ghi nhận dữ liệu hình ảnh trực tiếp và so sánh hiệu quả với phương pháp âm sinh học.
  • Thiết lập tuyến điều tra và phiếu phỏng vấn người dân tại 2 xã Sơn Lang, Đăk Roong cùng lực lượng kiểm lâm.
  • Quy trình trích xuất và đo đếm phổ âm thanh (spectrogram) trên phần mềm RAVEN; quy trình lập ma trận lịch sử phát hiện; các thuật toán xây dựng mô hình xác suất xuất hiện $p(.), \psi$ và mô phỏng biến động quần thể theo thời gian qua các tham số $\psi, \varepsilon, \gamma$.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng thu được từ thực địa và thảo luận khoa học:

  1. Tình trạng quần thể và đặc điểm phân bố:
    • Trĩ sao được ghi nhận phân bố tại 22 điểm thuộc 10/14 tiểu khu của Khu BTTN Kon Chư Răng.
    • Theo trạng thái rừng: Loài phân bố chủ yếu ở trạng thái rừng giàu và rừng trung bình – nơi có tán kín và độ ẩm cao.
    • Theo đai cao: Xuất hiện ở độ cao trên 700 m, tập trung nhiều nhất ở dải độ cao từ 800 m đến 1.000 m.
    • Mô hình xác suất xuất hiện: Mô hình $p(.), \psi$ chỉ ra xác suất xuất hiện của Trĩ sao tỷ lệ thuận với khoảng cách từ điểm ghi âm đến ngôi làng gần nhất (khu vực càng xa làng, xác suất xuất hiện của Trĩ sao càng cao).
    • Biến động quần thể giai đoạn 2021 - 2023: Thể hiện qua ma trận kết quả ghi nhận và các tham số mô phỏng biến động, so sánh số tiếng kêu trung bình/ngày giữa năm 2021 và 2023.
    • So sánh phương pháp: Phương pháp âm sinh học ghi nhận số điểm có sự hiện diện của Trĩ sao cao hơn rõ rệt so với phương pháp đặt bẫy ảnh trong cùng đợt khảo sát năm 2023.
  2. Đặc điểm tiếng kêu và tập tính kêu của Trĩ sao:
    • Luận án xác định Trĩ sao tại Kon Chư Răng có 2 loại tiếng kêu chính: Tiếng kêu ngắn và Tiếng kêu dài.
    • Phân tích phổ âm thanh tại các điểm ghi âm (9 điểm có tiếng kêu dài, 5 điểm có tiếng kêu ngắn) xác định chi tiết các thông số âm học.
    • Tập tính kêu theo giờ trong ngày: Trĩ sao phát tiếng kêu trong 2 khung thời gian: từ 4h00 sáng đến 13h00 chiều (tập trung cao nhất từ 5h00 đến 8h00) và từ 16h00 chiều đến 21h00 tối (tập trung cao nhất từ 18h00 đến 20h00).
    • Tập tính kêu theo mùa trong năm: Kêu nhiều nhất vào tháng 3 và tháng 4 (thời kỳ sinh sản), kêu rất ít vào các tháng còn lại.
    • Ghi nhận sinh sản ngoài tự nhiên: Bẫy ảnh ghi nhận cá thể đực năm 2022 và cá thể cái đi cùng con non vào ngày 13/6/2022.
  3. Các mối đe dọa và giải pháp bảo tồn:
    • Xác định được 5 mối đe dọa đến quần thể Trĩ sao, trong đó có 2 mối đe dọa chính: (1) Săn bắt động vật hoang dã trái phép (đặt bẫy giò, dùng súng săn ban đêm); (2) Hoạt động du lịch (tuyến đường đi vào thác K50). Các mối đe dọa khác gồm: khai thác gỗ trái phép trước đây, chăn thả gia súc tập trung tại khu vực Trại Bò và nguy cơ suy thoái sinh cảnh.
    • Đã khoanh vùng được 5 khu vực ưu tiên bảo tồn loài Trĩ sao tại Khu BTTN Kon Chư Răng.
Thông số âm học Tiếng kêu ngắn Tiếng kêu dài
Số lượng âm trong một lần kêu 01 âm Trung bình 6,21 âm
Tần số âm thanh thấp nhất (Hz) 691,93 774,35
Tần số âm thanh cao nhất (Hz) 1.613,93 1.213,33
Độ dài trung bình của mỗi âm (giây) 1,51 1,26
Tổng độ dài tiếng kêu trung bình (giây) 1,51 9,84
Quãng nghỉ trung bình giữa các âm (giây) Không có 0,39

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và khoa học

  • Cung cấp bộ dữ liệu khoa học định lượng cập nhật về tình trạng phân bố không gian của loài Trĩ sao tại Khu BTTN Kon Chư Răng: ghi nhận tại 22 điểm thuộc 10/14 tiểu khu, tập trung ở trạng thái rừng kín lá rộng thường xanh giàu và trung bình ở độ cao trên 700 m (chủ yếu từ 800 m đến 1.000 m).
  • Cung cấp các dẫn liệu âm học định lượng mới về 2 loại tiếng kêu (tiếng kêu ngắn gồm 1 âm, tần số 691,93 - 1.613,93 Hz, dài 1,51 giây; tiếng kêu dài gồm trung bình 6,21 âm, tần số 774,35 - 1.213,33 Hz, dài 9,84 giây, mỗi âm 1,26 giây, quãng nghỉ 0,39 giây) cùng quy luật phát âm theo thời gian trong ngày (5h00 - 8h00 và 18h00 - 20h00) và trong năm (tháng 3 - 4).
  • Khẳng định tính hiệu quả vượt trội của phương pháp âm sinh học so với bẫy ảnh trong điều tra Trĩ sao, đặc biệt chứng minh tính khả thi của việc ứng dụng điện thoại di động thông minh làm công cụ ghi âm tự động phục vụ nghiên cứu và giám sát loài.

Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp

  • Xác định 5 mối đe dọa đến quần thể Trĩ sao tại khu vực, chỉ rõ hai mối đe dọa nguy hiểm nhất là nạn săn bắt trái phép bằng bẫy/súng và tác động từ hoạt động du lịch tại tuyến thác K50.
  • Khoanh vùng 5 khu vực ưu tiên bảo tồn Trĩ sao tại Khu BTTN Kon Chư Răng làm cơ sở khoa học để Ban Quản lý xây dựng kế hoạch tuần tra, kiểm soát nghiêm ngặt.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp bảo tồn thực tế: tăng cường tuần tra tháo gỡ bẫy tại 5 vùng ưu tiên; kiểm soát du khách trên tuyến thác K50; quản lý hoạt động chăn thả gia súc tại khu vực Trại Bò; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng người Ba Na vùng đệm; ứng dụng thiết bị điện thoại di động vào quy trình tuần tra giám sát định kỳ của kiểm lâm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu mới giới hạn trong địa giới hành chính của Khu BTTN Kon Chư Răng trong khung thời gian 3 năm (2021 - 2023), chưa mở rộng khảo sát sang các vùng rừng giáp ranh thuộc tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi và Bình Định.
  • Chưa đi sâu phân tích chi tiết kích thước vùng sống cá thể (home range), thành phần thức ăn theo mùa qua phân tích mẫu phân hoặc đặc tính di truyền phân tử của quần thể Trĩ sao tại chỗ.
  • Phương pháp âm sinh học chủ yếu phản ánh xác suất xuất hiện, tần suất kêu và sự phân bố điểm ghi nhận, chưa ước lượng được mật độ cá thể tuyệt đối trên một đơn vị diện tích.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng mạng lưới điểm giám sát âm sinh học tự động trên toàn bộ hành lang đa dạng sinh học Kon Ka Kinh - Kon Chư Răng.
  • Ứng dụng các thuật toán học máy và nhận dạng âm thanh tự động để xử lý các tệp âm thanh lớn thu thập từ điện thoại di động trong thời gian thực.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái làm tổ, tỷ lệ sống sót của con non và phân tích cấu trúc di truyền quần thể Trĩ sao ngoài tự nhiên.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp, Bảo tồn đa dạng sinh học, Sinh thái học và Động vật học cần tài liệu tham khảo về phương pháp điều tra âm sinh học và mô hình hóa occupancy.
  • Cán bộ quản lý và lực lượng kiểm lâm: Ban Quản lý Khu BTTN Kon Chư Răng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai và các ban quản lý rừng đặc dụng thuộc dãy Trường Sơn có phân bố loài Trĩ sao.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức bảo tồn: Cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong và ngoài nước sử dụng làm căn cứ xây dựng kế hoạch hành động quốc gia bảo tồn loài nguy cấp.

Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật

  • Quy trình ứng dụng điện thoại di động thông minh để ghi âm tự động và quy trình phân tích phổ âm thanh trên phần mềm RAVEN (Chương 2).
  • Bộ dữ liệu định lượng về thông số phổ âm thanh, nhịp sinh học phát âm và mô hình xác suất xuất hiện gắn với biến số nhân sinh (Chương 3).
  • Bản đồ phân vùng 5 khu vực ưu tiên bảo tồn và hệ thống giải pháp bảo tồn loài gắn với quản lý du lịch và kiểm soát săn bắt (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng thiết bị và công cụ nào để thực hiện phương pháp âm sinh học điều tra Trĩ sao?

Luận án sử dụng điện thoại di động thông minh cài đặt chế độ tự động ghi âm để thu thập âm thanh tại 40 điểm (năm 2021) và 30 điểm (năm 2023) trong rừng. Dữ liệu âm thanh sau đó được xử lý, đo đếm các thông số vật lý của sóng âm và phổ âm thanh bằng phần mềm RAVEN, kết hợp phần mềm mô hình hóa xác suất xuất hiện và GIS.

2. Hai loại tiếng kêu của Trĩ sao tại Kon Chư Răng có những đặc trưng âm học định lượng nào?

  • Tiếng kêu ngắn: Gồm 01 âm đơn lẻ, dải tần số từ 691,93 Hz đến 1.613,93 Hz, độ dài âm trung bình 1,51 giây.
  • Tiếng kêu dài: Gồm trung bình 6,21 âm trong một chuỗi, dải tần số từ 774,35 Hz đến 1.213,33 Hz, tổng độ dài tiếng kêu trung bình 9,84 giây, độ dài mỗi âm trung bình 1,26 giây và quãng nghỉ giữa các âm trung bình là 0,39 giây.

3. Tập tính phát tiếng kêu của Trĩ sao tại Kon Chư Răng diễn ra vào thời gian nào trong ngày và trong năm?

  • Trong ngày: Trĩ sao kêu trong 2 khoảng thời gian: từ 4h00 đến 13h00 (tập trung cao nhất lúc 5h00 - 8h00) và từ 16h00 đến 21h00 (tập trung cao nhất lúc 18h00 - 20h00).
  • Trong năm: Trĩ sao kêu tập trung nhiều nhất vào các tháng 3 và tháng 4 (thời kỳ sinh sản), các tháng còn lại phát tiếng kêu rất ít.

4. Quần thể Trĩ sao tại Khu BTTN Kon Chư Răng phân bố ở những khu vực nào?

Trĩ sao được ghi nhận tại 22 điểm thuộc 10/14 tiểu khu của Khu BTTN Kon Chư Răng, phân bố chủ yếu ở trạng thái rừng kín lá rộng thường xanh giàu và trung bình, ở độ cao tuyệt đối trên 700 m và tập trung dày đặc nhất ở dải độ cao từ 800 m đến 1.000 m. Xác suất xuất hiện của loài tăng lên khi khoảng cách đến ngôi làng gần nhất càng xa.

5. Hai mối đe dọa chính đối với Trĩ sao tại Kon Chư Răng là gì và tác giả khoanh vùng bao nhiêu khu vực ưu tiên bảo tồn?

Luận án xác định 5 mối đe dọa, trong đó 2 mối đe dọa chính là săn bắt động vật hoang dã trái phép (đặt bẫy giò, dùng súng săn ban đêm) và hoạt động du lịch (tuyến đường vào thác K50). Trên cơ sở phân bố và mức độ tác động, tác giả đã khoanh vùng được 5 khu vực ưu tiên bảo tồn Trĩ sao tại Khu bảo tồn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Chí Thành đã hoàn thành việc đánh giá tình trạng quần thể, đặc điểm phân bố và tập tính âm học của loài Trĩ sao (Rheinardia ocellata) tại Khu BTTN Kon Chư Răng giai đoạn 2021 - 2023. Công trình đã ứng dụng thành công phương pháp âm sinh học bằng điện thoại di động thông minh kết hợp phần mềm RAVEN, cung cấp hệ thống số liệu định lượng về 2 loại tiếng kêu (ngắn và dài), nhịp sinh học phát âm và chứng minh xác suất xuất hiện của loài gắn liền với sinh cảnh rừng giàu/trung bình ở đai cao trên 700 m và cách xa khu dân cư. Đồng thời, luận án đã xác định 5 mối đe dọa trực tiếp, chỉ rõ tác động của nạn săn bắt và du lịch thác K50, từ đó khoanh vùng 5 khu vực ưu tiên và đề xuất các giải pháp bảo tồn có tính thực tiễn cao cho loài chim nguy cấp này tại địa phương.