Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về họ Trĩ và nghiên cứu Trĩ sao 1. Giới thiệu chung về họ Trĩ (Phasianidae) Trên thế giới, bộ Gà (Galliformes) có 5 họ, 308 loài, trong đó 25% số loài thuộc nhóm có nguy cơ bị tuyệt chủng cao. Họ Trĩ (Phasianidae) có tổng số 54 giống, 188 loài, chiếm 61% số loài trong bộ Gà; chúng phân bố ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.
Khu vực Đông Nam Á là nơi sinh sống của 54 loài chim thuộc họ Trĩ, chiếm số lượng nhiều nhất so với các khu vực khác, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia có thành phần loài chim thuộc họ Trĩ đa dạng với tổng số 20 loài (Lê Mạnh Hùng và cộng sự, 2020) [10]. Thành phần loài chim thuộc họ Trĩ tại Việt Nam Tình trạng bảo tồn TT Tên phổ thông Tên khoa học SĐVN IUCN NĐ84 NĐ64 Francolinus pintadeanus 1 Đa đa, gà gô LC (Scopoli, 1786) Coturnix japonica 2 Cay nhật bản NT Temmincki&Schlegel, 1849 Coturnix coromandelica 3 Cay ấn độ LC (Gmelin, 1879) Excalfoctoria 4 Cay trung quốc chinensis Linnaeus, 1766 Arborophila 5 Gà so họng đen torqueola Valenciennes, 1826 Arborophila 6 Gà so họng hung IIB rufogularis (Blyth, 1850) Gà so họng Arborophila brunneopectus 7 IIB trắng (Blyth, 1855) Arborophila davidi Delacour, 8 Gà so cổ hung EN IB x 1927 Arborophila charltonii (Eyton, 9 Gà so ngực gụ LR IIB 1854) 7 Tình trạng bảo tồn TT Tên phổ thông Tên khoa học SĐVN IUCN NĐ84 NĐ64 Bambusicola fytchii Anderson, 10 Gà so 1871 Tragopan temminckii (Gray, 11 Gà lôi tía CR LC IB x 1831) 12 Gà rừng Gallus gallus (Linnaeus, 1758) Lophura nycthemera 13 Gà lôi trắng LR LC IB (Linnaeus, 1758) Gà lôi lam mào Lophura edwardsi (Oustalet, 14 EN CR IB x trắng 1896) Lophura diardi (Bonaparte, 15 Gà lôi hông tía VU LC 1856) Phasianus colchicus Linnaeus, 16 Trĩ đỏ EN LC 1758 Polyplectron germaini Elliot, 17 Gà tiền mặt đỏ VU NT IB x 1866 Gà tiền mặt Polyplectron 18 VU LC IB x vàng bicalcaratum Linnaeus, 1758 Rheinardia ocellata (Elliot, 19 Trĩ sao VU EN IB x 1871) 20 Công Pavo muticus Linnaeus, 1766 EN EN IIB x Nguồn: Lê Mạnh Hùng và cộng sự, 2020 Ghi chú: SĐVN (Sách Đỏ Việt Nam 2007): CR - Cực kỳ nguy cấp; EN – Nguy cấp; VU – Sẽ nguy cấp; LR – Ít bị đe dọa. IUCN (Danh lục đỏ IUCN 2023): CR – Cực kỳ nguy cấp; EN – Nguy cấp; VU – Sẽ nguy cấp; NT – Gần bị đe dọa; LC - Ít quan ngại. Trong số các loài nguy cấp, quý hiếm, một số loài giá trị bảo tồn rất cao không chỉ ở trong nước mà còn trên toàn thế giới như Công (Pavo muticus), Trĩ sao (Rheinardia ocellata), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi).
Các loài chim thuộc họ Trĩ thường có đặc điểm chung là thân hình mập, kích thước khá lớn, đôi chân chắc khỏe và toàn bộ cơ thể có lớp lông dày bao phủ. Cánh ngắn, to rộng và tròn; mỏ ngắn, khỏe thích nghi với lối sống tìm kiếm thức ăn trên mặt đất. Chúng chủ yếu di chuyển bằng cách đi, chạy và thích chui lủi, chỉ bay khi cần thiết nên thường khó quan sát; tuy nhiên, chúng thường không bay được dài. Chim trống thường có kích thước cơ thể lớn hơn và màu lông sặc sỡ hơn chim mái.
Các loài chim họ Trĩ thường có tiếng kêu vang xa và đặc trưng cho từng loài để gọi bầy và ghép đôi vào mùa sinh sản. Hầu hết các loài chim họ Trĩ là loài chim đa thê, quá trình ấp trứng và nuôi con chủ yếu do chim mái đảm nhiệm. Một số loài chim đơn thê như Gà so ngực gụ, Gà so cổ hung ghép đôi vào mùa sinh sản nhưng việc ấp trứng do cả con đực và con cái thực hiện luân phiên nhau. Hầu hết các loài đều làm tổ trên mặt đất, cấu trúc và vị trí làm tổ khá đơn giản như làm tổ trong hốc cây, hõm đất hoặc các đám cỏ khô có sẵn trong các bụi rậm.
Ngoài tự nhiên, các loài chim thuộc họ Trĩ thường đẻ 1 lứa/năm, số lượng trứng phụ thuộc vào từng loài. Chim non khi đẻ ra thường khỏe, phủ kín lông bông. Vùng sống của các loài thường cố định tại một hoặc một số địa điểm nhất định, đồng thời sử dụng nơi này làm nơi kiếm ăn, sinh sản, nghỉ ngơi trừ khi chúng bị tác động bởi những mối đe dọa lớn. 9 Mặc dù thành phần thức ăn của một số loài chim thuộc họ Trĩ ngoài tự nhiên chưa được nghiên cứu kỹ song các nghiên cứu đã công bố chỉ ra rằng hầu hết các loài chim thuộc họ Trĩ là loài ăn tạp, thành phần thức ăn đa dạng từ động vật nhỏ, côn trùng, thực vật., trong đó các loài côn trùng nhỏ là thức ăn đặc biệt quan trọng với những cá thể mới sinh ra trong giai đoạn đầu (Johnsgard, 1999; McGowan, 1994) [48], [57].
Tương tự như các loài động vật hoang dã khác, các loài chim thuộc họ Trĩ đã và đang phải đối mặt với nhiều mối đe dọa cho sự tồn tại, trong đó nghiêm trọng nhất là mất sinh cảnh sống và nạn săn bắt trái phép diễn ra ở nhiều nơi mặc dù đôi khi chúng không phải là đối tượng chính để săn bắt (Brickle et al., 2008; Gray et al., 2021; McGowan et al. Trong các khu vực trên thế giới, Đông Nam Á là một trong những khu vực có lịch sử săn bắt động vật rất lâu đời, săn bắt trái phép trở thành mối đe dọa nguy hiểm nhất với sự tồn tại của động vật hoang dã trong 5 thập kỷ trở lại đây (Corlett, 2007) [33]. Đây có thể là hậu quả của quá trình gia tăng dân số, sự phát triển của các kỹ thuật và hình thức săn bắt, hệ thống giao thông phát triển và sự phát triển của kinh tế thị trường (Ling et al. Bẫy giật (bẫy giò) là một trong những hình thức săn bắt phổ biến và nguy hiểm nhất với các loài sống, kiếm ăn trên mặt đất, trong đó có các loài chim thuộc họ Trĩ (Corlett, 2007; Keane et al., 2005; McGowan et al., 2012; Sodhi et al.
Đây là đối tượng săn bắt mạnh của thợ săn bởi chúng là những loài có giá trị cao, có tập tính sống trên mặt đất và thường sống thành từng đàn (McGowan et al. Khi môi trường sống bị tác động, hầu hết các loài thường khó thích nghi với môi trường sống mới như tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất để canh tác nông nghiệp hoặc xây dựng các khu dân cư (Brickle et al. Chính vì vậy các loài sống và kiếm ăn trên mặt đất, trong đó bao gồm các loài chim thuộc họ Trĩ sẽ có nguy cơ tuyệt chủng rất cao kể cả ở bên trong hay 10 bên ngoài phạm vi các khu bảo tồn do mất nơi sống và tình trạng săn bắt diễn ra (Harrison et al. Nghiên cứu về Trĩ sao 1.
Nghiên cứu về phân loại Trước đây, Trĩ sao được coi là loài đặc hữu của khu vực Đông Nam Á, bao gồm 2 phân loài là Rheinardia ocellata ocellata phân bố ở Việt Nam, Lào và phân loài Rheinardia ocellata nigrescens phân bố ở Malaysia. Thông tin phân loại này được nhiều nhà khoa học trích dẫn trong các công bố khoa học có liên quan đến loài Trĩ sao (Davison et al., 2020; Kirwan and McGowan., 2021; Liang et al., 2018; Thinh et al. Tuy nhiên, hai phân loài đã được nâng cấp thành hai loài, trong đó loài Trĩ sao ở Việt Nam và Lào có tên khoa học Rheinardia ocellata, loài Trĩ sao ở Malaysia có tên khoa học Rheinardia nigrescens (BirdLife International, 2021) [25]. Trong mô tả ban đầu về Trĩ sao, Rothschild (1902) đã đưa ra 9 điểm khác biệt về con đực của phân loài ở Malaysia so với phân loài ở Việt Nam, cụ thể: (1) bộ lông trên cơ thể sẫm màu hơn, màu nâu đen, có vân sần sùi màu hạt dẻ; (2) các đốm ở bề mặt trên lông hầu hết khá tròn và trắng tinh; (3) các vết rạn trên lông ít hơn nhưng lớn hơn và có nhiều màu trắng hơn; (4) các đốm trắng trên lông bao cánh hầu hết khá tròn, thay vì có dạng các đường xiên không đều; (5) mào lông trên màu đen, thay vì nâu sẫm, lông trắng của mào dường như nhiều hơn; (6) các vân bên ngoài của lông bao đuôi dài có màu đậm hơn, có màu nâu đen hơn, đồng thời đồng đều hơn; (7) dải lông mày rộng không có màu trắng xám, nhưng có màu đỏ đậm; (8) mỏ có phần lớn hơn và (9) đuôi có thể ngắn hơn [66].
Năm 2020, Davison et al đã công bố kết quả nghiên cứu về phân loài Rheinardia ocellata nigrescens (gọi tắt là phân loài nigrescens) trên cơ sở so 11 sánh với phân loài Rheinardia ocellata ocellata (gọi tắt là phân loài ocellata) về đặc điểm hình thái và âm thanh, đồng thời đề xuất nâng cấp là loài đối với 2 phân loài này [34]. Về hình thái, nhóm nghiên cứu đã phân tích mẫu vật của cả hai đơn vị phân loài tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ và Bảo tàng lịch sử tự nhiên của Vương quốc Anh; hình ảnh từ internet, hình ảnh thu thập được của các thành viên nhóm nghiên cứu cũng như hình ảnh do các nhà khoa học khác cung cấp để xác định những điểm khác nhau cơ bản liên quan đến màu sắc, chiều dài các bộ phận trên cơ thể, cụ thể trình bày ở Bảng 1. So sánh đặc điểm hình thái giữa 2 phân loài Trĩ sao Phân loài Đặc điểm R. ocellata ocellata Lông mày Màu vàng da bò, có sự Màu trắng đá, ít tưởng tương phản mạnh với màu phản với màu sắc da mặt sắc da mặt trong Mỏ Màu hồng và vàng nhạt Màu hồng, nhạt hơn ở chóp mỏ và đậm hơn ở trên và sau lỗ mũi.
Màu lông ở cổ họng Màu trắng của cổ họng Màu trắng xám ít nổi bật. tương phản, nổi bật và mở rộng hơn Mào lông Mào lông hướng ra phía Mào lông có xu hướng sau, lông dài hơn và thô lan ra bên cạnh, lông hơn với hai màu là đen và mềm màu nâu đen đến trắng, trắng kem. 12 Phân loài Đặc điểm R. ocellata ocellata Kích thước đốm Nhỏ hơn, ít hơn và rõ hơn Lớn hơn, nhiều hơn và trắng trên thân và so với phân loài ocellata mờ hơn so với phân loài cánh nigrescens Hoa văn trên lông Có nền màu cam đục mờ Có nền xám, các mảng da bao đuôi với các đốm trắng nằm cam xỉn màu hơn và co trên các vòng tròn rộng lại tạo thành các đảo giữa màu xám các đốm trắng (Nguồn: Davison et al., 2020) Hình ảnh trực quan so sánh đặc điểm cụ thể của các bộ phận của 2 phân loài được thể hiện tại Hình 1.