Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp của nghiên cứu sinh Thananh Khotpathoom, với đề tài "Nghiên cứu hiện trạng, phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn Nai cà tông (Rucervus eldii M’Clelland, 1842) tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào", được thực hiện tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Tiến Thịnh và hoàn thành vào tháng 12 năm 2020.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có tỷ lệ che phủ rừng tự nhiên tương đối lớn trong khu vực Đông Nam Á, với diện tích rừng tự nhiên năm 2015 là 110 triệu ha, mật độ dân số thấp (6,8 triệu người, trung bình 28,72 người/km²). Hệ thống khu bảo tồn bao gồm 24 khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia với tổng diện tích 37.680,80 km², chiếm 15,91% diện tích cả nước. Hệ động vật ghi nhận khoảng 200 loài thú, 750 loài chim, 166 loài bò sát và lưỡng cư, cùng hệ thủy sinh phong phú gồm 500 loài cá, 7 loài cua và 10 loài tôm tép.

Mặc dù Luật Bảo vệ rừng năm 2019 và Luật Động vật hoang dã năm 2007 đã có hiệu lực, tình trạng săn bắn, bẫy bắt trái phép và mất rừng vẫn diễn biến phức tạp. Có 44 loài thú, 9 loài bò sát, 36 loài chim và 1 loài lưỡng cư được xếp vào Nhóm I (nghiêm cấm săn bắn và khai thác thương mại) trong Sách đỏ của CHDCND Lào. Trong giai đoạn 1998–2015, khoảng 45 loài thú, 24 loài chim, 17 loài bò sát và 7 loài lưỡng cư rơi vào tình trạng bị đe dọa hoặc có nguy cơ tuyệt chủng, nhiều loài bị tuyệt chủng cục bộ.

Nai cà tông (Rucervus eldii), tên địa phương tại Lào là “Ông-Măng” (hoặc “Ông”, “Măng”), là loài thú móng guốc lớn thuộc họ Hươu nai (Cervidae), nằm trong Nhóm I Sách đỏ Lào và phân hạng Nguy cấp (EN) theo Danh lục Đỏ của IUCN. Loài này phân bố chủ yếu ở rừng khộp và rừng bán thường xanh có độ tàn che thấp trên địa hình bằng phẳng. Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly (tỉnh Savannakhet) được thành lập theo Nghị định năm 2004 với diện tích khoảng 93.338 ha (933,38 km²). Mặc dù một số hoạt động tuyên truyền, nâng cao sinh kế và du lịch sinh thái đã được triển khai, sinh cảnh sống của loài tiếp tục bị xâm lấn bởi người dân xung quanh. Công tác quản lý gặp trở ngại lớn do thiếu hụt dữ liệu khoa học định lượng về mật độ, cấu trúc đàn và đặc điểm sử dụng sinh cảnh. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu này để cung cấp luận cứ cho công tác bảo tồn loài.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Cung cấp dữ liệu về hiện trạng, phân bố và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của quần thể Nai cà tông (Rucervus eldii) tại Khu bảo tồn Xonnabouly, góp phần phục vụ công tác quản lý và bảo tồn.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định được hiện trạng và đặc điểm phân bố của quần thể Nai cà tông tại Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly.
    2. Xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái của quần thể Nai cà tông tại Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly.
    3. Đề xuất được các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn loài Nai cà tông tại Khu bảo tồn Xonnabouly.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quần thể và sinh cảnh sống của Nai cà tông (Rucervus eldii) tại Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các đặc trưng quần thể gồm kích thước, mật độ, cấu trúc đàn, đặc điểm phân bố không gian và các dạng sinh cảnh sống.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly, tỉnh Savannakhet, CHDCND Lào; phạm vi điều tra thực địa tập trung ở phần phía Tây khu bảo tồn với diện tích 300,33 km² (chia thành khu phía Bắc 125,28 km² và khu phía Nam 175,05 km²).
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ quá trình nghiên cứu thực hiện từ năm 2016 đến năm 2019, các đợt thu thập số liệu ngoại nghiệp trên tuyến tập trung trong giai đoạn 2017–2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước trong và ngoài nước

  1. Phân loại học và thành phần loài họ Hươu nai (Cervidae): Wilson và Reeder (2005, 2007) thống kê họ Hươu nai có 51 loài thuộc 19 giống. Đến năm 2018, Burgin và cộng sự cập nhật số lượng lên 93 loài thuộc 18 giống, trong đó các giống có số loài lớn nhất là Mazama (24 loài), Muntiacus (16 loài) và Cervus (16 loài). Tại Lào, Duckworth và cộng sự (1994, 1999) cùng Hassanin (2007) ghi nhận ít nhất 7 loài móng guốc chẵn thuộc họ Cervidae: Nai cà tông (Rucervus eldii siamensis), Nai (Rusa unicolor), Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis), Mang lớn (Muntiacus vuquangensis), Hoẵng (Muntiacus muntjak), Mang roosevelt (Muntiacus rooseveltorum) và Hươu vàng (Axis porcinus).

  2. Phân loài, di truyền và phân bố của Nai cà tông: Loài được Trung úy Percy Eld phát hiện năm 1838 tại thung lũng Manipur (Ấn Độ). Ba phân loài chính được công nhận gồm:

    • Rucervus eldii eldii: Phân bố hẹp tại Vườn quốc gia Keibul Lamjao (bang Manipur, Ấn Độ), gắn liền với sinh cảnh đầm lầy nổi (Singsit, 2003b; Khaute, 2010; Singh và Khare, 2018).
    • Rucervus eldii thamin: Phân bố tại miền Trung Myanmar và miền Bắc Thái Lan (Salter và Sayer, 1986; McShea và cộng sự, 2001; Aung và cộng sự, 2001; Puwinsaksakul, 2013; Thu và cộng sự, 2019).
    • Rucervus eldii siamensis: Phân bố lịch sử tại Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và đảo Hải Nam (Trung Quốc). Nghiên cứu DNA và nhiễm sắc thể của Balakrishnan và cộng sự (2003), Angom và Hussain (2013) chỉ ra rằng quần thể phân loài R. e. eldii có quan hệ di truyền gần với R. e. thamin hơn so với R. e. siamensis. Quần thể ở đảo Hải Nam từng được tách thành phân loài R. e. hainanus (Decoux, 1993; Zhang và cộng sự, 2004), nhưng phân tích di truyền khẳng định thuộc phân loài siamensis.
    • Tại Việt Nam, phân loài siamensis từng ghi nhận từ Quảng Nam đến Lâm Đồng (Đắk Lắk, Kon Tum, Khánh Hòa, Đồng Nai, Gia Lai) với số lượng 700–1.000 cá thể vào những năm 1970; đến đầu những năm 2000 chỉ còn ghi nhận đàn cuối cùng khoảng 5–7 cá thể tại Vườn quốc gia Yok Đôn (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998; Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009; Nguyen Xuan và Nguyen Thi, 2003) và hiện có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên.
    • Tại Campuchia, Owen (2009) mô hình hóa vùng phân bố tiềm năng qua MaxEnt và GIS, chỉ ra sinh cảnh thích hợp nhất tại ba tỉnh miền Bắc (Banteay Meanchey, Oddar Meanchey, Preah Vihear); Srun (2018) ghi nhận quần thể tại Khu bảo vệ Ang Trapeang Thmor.
    • Tại Thái Lan, loài tuyệt chủng ngoài tự nhiên trong quá khứ và được nuôi thả lại tại Wiang Lor, Huai Kha Khaeng, Phanom Dong Rak (Buranaphim, 2009; Sukmasuang và cộng sự, 2013).
  3. Phương pháp điều tra khoảng cách (Distance sampling) trong nghiên cứu quần thể thú: Khởi nguồn từ nghiên cứu của Leopold (1933), phương pháp điều tra theo tuyến đo khoảng cách được Thomas và cộng sự (2002, 2010) hệ thống hóa lý thuyết. Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi: Marques và cộng sự (2001) với Hươu sika ở Scotland; Coates và cộng sự (2007) ở Nam Phi; Larue và cộng sự (2007), Stainbrook (2013) với Hươu đuôi trắng tại Mỹ; Acevedo và cộng sự (2008), Focardi và cộng sự (2013), Torres và cộng sự (2015) với Nai đỏ và Nai Dama dama tại châu Âu. Tại Việt Nam, Vũ Tiến Thịnh và Đồng Thanh Hải (2014), Thinh Tien Vu và cộng sự (2018) đã ứng dụng phương pháp khoảng cách để ước lượng mật độ động vật rừng và xác suất phát hiện.

  4. Nghiên cứu sinh cảnh, thức ăn và sử dụng tài nguyên: Nhiều công trình đã khảo sát sinh cảnh móng guốc chẵn: Lopez và cộng sự (2004), Gaughan (2005), Sawyer và cộng sự (2006) tại Hoa Kỳ; Qureshi và cộng sự (2013), Syed và Ilyas (2016), Aryal và Bhatta (2019) đối với Hươu xạ qua lập ô tiêu chuẩn xác định chỉ số quan trọng (IVI); Phạm Hữu Khánh (2010) đối với Bò tót tại VQG Cát Tiên. Đối với Nai cà tông, McShea và cộng sự (2001, 2005), Yan và cộng sự (2013), Pan và cộng sự (2014), Tuboi và Hussain (2016) đã xác định loài sử dụng ưu thế sinh cảnh rừng khộp, đồng cỏ cây bụi và phụ thuộc vào nguồn chất khoáng.

  5. Nghiên cứu về Nai cà tông tại CHDCND Lào: Vongkhamheng và Phirasack (2002) tái phát hiện quần thể Nai cà tông tại huyện Xonnabouly với ước tính ban đầu khoảng 6–20 cá thể, dẫn đến việc thành lập Khu bảo tồn vào năm 2004. Stenhouse và cộng sự (2005) xác định 80% sinh cảnh khu bảo tồn là rừng khộp với các loài ưu thế thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) như Dipterocarpus tuberculatus và Shorea obtusa. Xayalath (2016) thực hiện luận văn thạc sĩ điều tra sinh cảnh và các nhân tố ảnh hưởng tại vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt. Phiapalath và cộng sự (2018a) điều tra đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng khộp trên 140.810 ha thuộc dự án UNDP, ghi nhận 408 loài thực vật, 62 loài thú, 277 loài chim. Trisurat (2015, 2018) mô hình hóa phân bố bằng MaxEnt tại Dongkhanthung (tỉnh Champasak).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trước đây tại Lào chủ yếu khảo sát định tính, lập ô thực vật sơ bộ hoặc ước lượng số lượng cá thể dựa trên phỏng vấn xã hội học. Chưa có công trình nào triển khai hệ thống tuyến điều tra định lượng chuẩn tắc theo phương pháp khoảng cách (Distance sampling) nhằm xây dựng mô hình hàm xác suất phát hiện, tính toán mật độ cá thể, kích thước quần thể, cấu trúc đàn, lập bản đồ đường di chuyển thực địa và xác định hệ thống các điểm khoáng cùng các mối đe dọa trực tiếp trong toàn bộ phân khu điều tra.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết hình thái và thích nghi sinh thái họ Cervidae: Thú móng guốc chẵn, di chuyển bằng đầu ngón chân thứ III và IV; ngón I tiêu biến; ngón II và V tiêu giảm. Con đực mang sừng đặc rụng hàng năm sau mùa sinh sản và mọc lại (phủ nhung giàu mạch máu và canxi). Tuyến lệ lớn và tuyến da kẽ ngón tiết dịch nhận biết đồng loại. Hệ răng không có răng cửa hàm trên, công thức răng tổng quát: $i, 0\text{–}3/3, c, 0\text{–}1/1, pm, 2\text{–}4/2\text{–}4, m, 3/3 \times 2 = 30\text{–}44$ chiếc. Dạ dày 4 ngăn phức hợp thích nghi nhai lại và phân giải xenluloza: túi dạ (Rumen), tổ ong (Reticulum), túi sách (Omasum), túi múi khế (Abomasum).
  • Lý thuyết lấy mẫu khoảng cách (Distance sampling theory): Dựa trên hàm xác suất phát hiện đối tượng $g(x)$, trong đó xác suất quan sát cá thể tại đường trục tuyến điều tra quy ước $g(0) = 1$ và giảm dần theo khoảng cách vuông góc $x$. Mô hình được chuẩn hóa để ước lượng mật độ thực tế và hiệu chỉnh sai số do độ rậm rạp của sinh cảnh.
  • Khung phân tích sinh thái thực vật: Đánh giá cấu trúc thảm thực vật và mức độ ưu thế của các loài cây làm thức ăn cho Nai cà tông thông qua Chỉ số quan trọng (Importance Value Index - IVI).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng rừng, số liệu khí hậu, thủy văn, kinh tế - xã hội từ Ban quản lý Khu bảo tồn Xonnabouly, Sở Nông Lâm nghiệp Savannakhet (DAFO), Bộ Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường Lào (MoNRE), các báo cáo của IUCN, UNDP, WCS, WWF.
  • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn người dân địa phương tại các bản nằm trong và ven khu bảo tồn, cùng lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn để định vị các khu vực xuất hiện dấu vết, tập tính di chuyển và ghi nhận xung đột môi trường.
  • Phương pháp điều tra trên tuyến theo khoảng cách (Distance sampling):
    • Thiết lập mạng lưới tuyến điều tra trong khu vực nghiên cứu 300,33 km² ở phía Tây khu bảo tồn (gồm khu Bắc và khu Nam).
    • Người điều tra di chuyển dọc tuyến, sử dụng ống nhòm và máy đo khoảng cách laser để ghi nhận cự ly quan sát trực tiếp, khoảng cách vuông góc từ đối tượng đến trục tuyến, kích thước nhóm, giới tính (cá thể đực trưởng thành ĐTT, đực bán trưởng thành ĐBTT, cái trưởng thành CTT, cái bán trưởng thành CBTT, con non) và tọa độ GPS.
    • Phân loại dấu vết chân, bãi nằm, đống phân để kiểm chứng sự hiện diện.
  • Phương pháp điều tra tại các điểm quan trọng:
    • Khảo sát các điểm liếm khoáng tự nhiên (đất khoáng - ĐK) và nguồn nước trọng điểm (vũng nước, bờ suối Pha Leng, Toi, Tou Pang, Pa Pong).
    • Ghi nhận tần suất xuất hiện ngày/đêm của Nai cà tông và các loài thú đồng sinh cảnh.
  • Phương pháp điều tra thảm thực vật:
    • Thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC) 3 cấp lồng nhau: ô lớn đo đếm tầng cây gỗ cao; ô trung bình đo tầng cây bụi; ô nhỏ đo tầng thảo mộc và cỏ.
    • Thu thập mẫu thực vật, phân tích thành phần loài thức ăn bị gặm chồi, ăn lá, ăn vỏ và tính toán chỉ số IVI.
  • Phương pháp phân tích số liệu:
    • Dữ liệu khoảng cách được phân tích bằng phần mềm chuyên dụng DISTANCE; lựa chọn mô hình hàm then chốt kết hợp chuỗi đa thức điều chỉnh (chọn mô hình Uniform + cosine cho hàm $g(x)$).
    • Xử lý không gian, lập bản đồ phân bố các điểm phát hiện, tuyến di chuyển và hiện trạng sinh cảnh bằng phần mềm Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS).
    • Thống kê sinh học tính toán tỷ lệ đực/cái, kích thước đàn trung bình, tỷ lệ thành phần sinh cảnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các đặc trưng phân loại, sinh học và sinh thái của họ Hươu nai (Cervidae) và loài Nai cà tông (Rucervus eldii), đồng thời tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế, kèm theo mô tả điều kiện khu vực nghiên cứu.

Về phân loại và đa dạng, họ Hươu nai trên thế giới hiện có 93 loài thuộc 18 giống (Burgin và cs., 2018). Tại Lào ghi nhận 7 loài thuộc họ này, trong đó Nai cà tông (Rucervus eldii siamensis) là loài đặc biệt nguy cấp.

TT Tên tiếng Lào Tên tiếng Việt Tên khoa học
1 Ông-Măng / Ông / Măng Nai cà tông Rucervus eldii siamensis
2 Quàng Nai đen Rusa unicolor
3 Phan Sai Phu Luông Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis
4 Phan Khao Nhai Mang lớn Muntiacus vuquangensis
5 Phan Đèng Hoẵng Muntiacus muntjak
6 Phan Đồng Mang roosevelt Muntiacus rooseveltorum
7 Phan Đào Hươu vàng Axis porcinus

Về đặc điểm sinh học và hình thái, phân loài R. e. siamensis có thân hình cỡ trung bình đến lớn, dài thân - đầu (HB) 150–170 cm, chiều cao vai (SH) 105–114 cm, đuôi (T) 22–25 cm, tai (E) 15–17 cm, khối lượng (W) 95–150 kg ở con đực, con đực nặng hơn con cái khoảng 60%. Con đực mang sừng 4–5 nhánh cong hình vòng cung đặc trưng, rụng sau mùa sinh sản và mọc lại cứng chắc sau 5 tháng. Thời gian mang thai 237–240 ngày, thành thục sinh dục ở 1,5–2,0 năm tuổi, đẻ mỗi năm 1 lứa, mỗi lứa 1 con non vào giai đoạn giữa tháng 11 đến tháng 2 năm sau.

Về khu vực nghiên cứu, Khu bảo tồn Xonnabouly có diện tích 933,38 km², nằm ở tọa độ 16º13'55"–16º30'38" vĩ độ Bắc và 105º26'10"–105º53'29" kinh độ Đông, địa hình bằng phẳng, độ cao từ 140–210 m so với mực nước biển. Khu vực điều tra thực địa 300,33 km² nằm ở phía Tây, gồm khu Bắc và khu Nam.

Sinh cảnh KBT Xonnabouly (km²) Tỷ lệ (%) Khu điều tra (km²) Tỷ lệ (%)
Rừng khộp 661,08 70,83 243,92 81,22
Đất nông nghiệp 93,98 10,07 16,83 5,60
Rừng bán thường xanh 89,18 9,55 29,49 9,82
Rừng thường xanh 66,08 7,08 1,54 0,51
Suối, hồ, ao 11,34 1,21 2,87 0,96
Khu dân cư 5,87 0,63 0,46 0,15
Trảng cỏ 5,85 0,63 5,22 1,74
Tổng cộng 933,38 100,00 300,33 100,00

Rừng khộp là sinh cảnh chiếm ưu thế áp đảo tại khu điều tra (81,22%). Hệ thống thủy văn chính chia cắt khu bảo tồn gồm sông Bang Hiang (phía Nam), sông Koum Kam (trung tâm), sông Tha Mouk (phía Đông) và các suối nội vùng (Pha Leng, Toi, Tou Pang, Pa Pong). Tài nguyên sinh vật khu bảo tồn phong phú với 825 loài thực vật và 408 loài động vật (gồm 277 loài chim, 126 loài cây gỗ, 62 loài thú, 44 loài bò sát, 25 loài lưỡng cư/ếch nhái).

Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết 6 nội dung và các quy chuẩn kỹ thuật phục vụ khảo sát ngoại nghiệp:

  1. Nội dung nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng phân bố không gian; ước tính kích thước và mật độ quần thể; xác định cấu trúc đàn và tỷ lệ giới tính/nhóm tuổi; phân tích đặc điểm sử dụng các dạng sinh cảnh; khảo sát thành phần thức ăn và các điểm khoáng; đánh giá các tác động tiêu cực và đề xuất giải pháp.
  2. Quy trình thu thập dữ liệu trên tuyến: Thiết lập danh mục các tuyến điều tra định vị GPS trong khu vực 300,33 km²; áp dụng kỹ thuật quan sát ghi nhận thông số khoảng cách vuông góc, góc phương vị; lập bảng tiêu chí nhận dạng giới tính và nhóm tuổi (ĐTT, ĐBTT, CTT, CBTT, con non).
  3. Quy trình khảo sát điểm tập trung: Khảo sát các điểm đất khoáng tự nhiên (ĐK) và các vũng nước mặt; đặt bẫy ảnh và theo dõi trực quan các khung giờ cao điểm.
  4. Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 3 cấp: Thiết lập ô tiêu chuẩn đo đếm cây tầng cao (đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, độ tàn che), ô tầng cây bụi và ô thảm cỏ/cây thức ăn; xác định tần suất gặp và mức độ bị gặm tỉa.
  5. Kỹ thuật xử lý số liệu: Ứng dụng phần mềm DISTANCE với các kiểm định lựa chọn mô hình xác suất phát hiện $g(x)$; xuất dữ liệu phân bố lên nền GIS bản đồ hiện trạng sinh cảnh; thống kê so sánh mùa mưa – mùa khô.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập trong giai đoạn 2017–2019:

  1. Hiện trạng phân bố và đường di chuyển: Tại Lào, Nai cà tông phân bố tập trung chủ yếu tại Khu bảo tồn Xonnabouly (tỉnh Savannakhet), trong khi quần thể tại Dongkhanthung (tỉnh Champasak) ghi nhận rất ít hoặc không phát hiện. Tại khu vực nghiên cứu phía Tây Xonnabouly, sự phân bố không đồng đều giữa hai khu điều tra: khu vực phía Bắc có mức độ phân bố dày đặc hơn khu vực phía Nam. Bản đồ GIS ghi nhận đường di chuyển của các đàn nai tập trung xung quanh các trảng cỏ, vũng nước và di chuyển vào sinh cảnh nông nghiệp vào ban đêm.

  2. Mật độ và cấu trúc quần thể: Dữ liệu điều tra trên tuyến từ năm 2017 đến năm 2019 được phân tích qua phần mềm DISTANCE. Mô hình Uniform kết hợp chuỗi đa thức cosine cho hàm xác suất phát hiện $g(x)$ phù hợp nhất với dữ liệu quan sát.

Chỉ số ước lượng Giá trị ghi nhận qua điều tra khoảng cách (2017–2019)
Mô hình hàm phát hiện $g(x)$ Uniform + cosine
Kích thước quần thể Ghi nhận sự ổn định và dao động theo mùa trong khu điều tra
Kích thước đàn trung bình Biến động từ đàn nhỏ (1–3 cá thể) đến nhóm tập trung theo mùa
Thành phần cấu trúc đàn Cá thể đực trưởng thành (ĐTT), cá thể đực bán trưởng thành (ĐBTT), cá thể cái trưởng thành (CTT), cá thể cái bán trưởng thành (CBTT) và con non
Tỷ lệ giới tính Tỷ lệ cá thể cái chiếm ưu thế rõ rệt trong các cấu trúc đàn nuôi con

Các cá thể đực trưởng thành thường sống đơn độc hoặc tụ tập thành nhóm nhỏ riêng lẻ trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau, sau đó nhập đàn vào mùa động dục sinh sản; cá thể cái cùng con non duy trì cấu trúc đàn ổn định quanh năm.

  1. Đặc điểm sử dụng sinh cảnh và thức ăn:

    • Tần suất phát hiện trên các dạng sinh cảnh: Có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa khô và mùa mưa. Trong mùa khô, nai xuất hiện nhiều tại các khu vực ven suối, vũng nước và trảng cỏ nội rừng khộp. Trong mùa mưa, tần suất phát hiện trải rộng sang các vùng rừng bán thường xanh và khu vực đất nông nghiệp.
    • Thức ăn: Danh mục các loài thực vật được sử dụng gồm chồi non, cỏ rừng và nông sản. Tại khu vực đất canh tác nông nghiệp, Nai cà tông thường xuyên sử dụng các loài như Rau mương thon và Lúa nước (Oryza sativa) vào ban đêm.
    • Điểm khoáng: Xác định được hệ thống các điểm đất khoáng tự nhiên trong khu bảo tồn; tiêu biểu là Điểm khoáng số 5 với tần suất động vật hoang dã đến sử dụng cả ban ngày lẫn ban đêm để bổ sung vi lượng khoáng chất.
    • Động vật đồng sinh cảnh: Ghi nhận nhiều loài thú hoang dã khác chia sẻ nguồn tài nguyên nước và thức ăn với Nai cà tông.
  2. Các mối đe dọa tới quần thể và sinh cảnh:

    • Chó nhà: Chó nuôi thả rông của người dân địa phương săn đuổi và tấn công trực tiếp các cá thể nai (đặc biệt là con non và nai cái mang thai), ghi nhận nhiều trường hợp nai tử vong do chó cắn.
    • Xâm lấn đất và phá rừng: Tình trạng phát rừng khộp làm ao chứa nước, kênh dẫn và mở rộng đất canh tác lúa/nông nghiệp diễn ra tại nhiều vị trí ven sông Bang Hiang và Koum Kam.
    • Khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ: Hoạt động chặt trộm gỗ, thu hái lâm sản làm suy thoái tầng tán và gia tăng xáo trộn tiếng ồn.
    • Săn bắt: Ghi nhận các vụ đặt bẫy dây, sử dụng súng tự chế đe dọa trực tiếp tính mạng cá thể.
    • Chăn thả gia súc: Thả rông bò, trâu vào rừng gây cạnh tranh thức ăn cỏ non, giẫm đạp thảm thực vật và nguy cơ lây truyền mầm bệnh.
  3. Giải pháp bảo tồn đề xuất:

    • Bảo vệ trực tiếp quần thể loài: Thành lập các trạm chốt chặn cơ động; kiểm soát và nghiêm cấm triệt để việc thả rông chó nhà vào vùng lõi; xử lý nghiêm hành vi săn bẫy; cứu hộ cá thể bị thương.
    • Bảo vệ sinh cảnh và các yếu tố sinh thái: Giữ nguyên hiện trạng rừng khộp; khoanh vùng nghiêm ngặt các điểm đất khoáng (đặc biệt là Điểm khoáng số 5) và các vũng nước tự nhiên; ngăn chặn triệt để hành vi phá rừng đào ao hồ làm thủy lợi tự phát.
    • Giải pháp kinh tế - xã hội gián tiếp: Giao khoán bảo vệ rừng; hỗ trợ sinh kế chăn nuôi nhốt; tuyên truyền giáo dục môi trường cho các bản làng ven rừng; nâng hạng Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly từ cấp tỉnh lên cấp quốc gia kết hợp tài trợ từ dự án UNDP.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Cung cấp dẫn liệu khoa học định lượng có hệ thống về kích thước, mật độ, cấu trúc đàn và tỷ lệ các nhóm tuổi của quần thể Nai cà tông (Rucervus eldii siamensis) tại Lào thông qua việc ứng dụng phương pháp lấy mẫu khoảng cách (Distance sampling) và mô hình hóa hàm phát hiện $g(x)$.
  • Xác lập cơ sở dữ liệu sinh thái về đặc điểm sử dụng sinh cảnh theo mùa (mùa khô và mùa mưa), đường di chuyển thực địa và xác định thành phần loài thực vật thức ăn (bao gồm thực vật tự nhiên và cây nông nghiệp như Rau mương thon, Lúa nước) cùng vị trí, vai trò của các điểm khoáng tự nhiên.
  • Làm sáng tỏ các tương tác sinh thái và phân tích định lượng các nhân tố đe dọa nhân sinh (chó nhà, xâm lấn nông nghiệp, khai thác gỗ, chăn thả gia súc) tác động trực tiếp đến sự tồn vong của loài móng guốc nguy cấp này.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Xây dựng bản đồ phân bố không gian và các điểm nóng sinh cảnh bị đe dọa, tạo cơ sở cho Ban quản lý Khu bảo tồn Xonnabouly và Sở Nông Lâm nghiệp Savannakhet bố trí lực lượng tuần tra, kiểm soát.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ tiến trình vận động, hoàn thiện hồ sơ nâng hạng Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly từ khu bảo tồn cấp tỉnh lên Khu bảo tồn Đa dạng sinh học cấp Quốc gia theo chương trình phối hợp giữa Cục Lâm nghiệp Lào và UNDP giai đoạn 2016–2021.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn toàn diện, kết hợp bảo vệ trực tiếp cá thể, khoanh vùng bảo vệ các điểm đất khoáng thiết yếu và can thiệp quản lý gia súc, cải thiện sinh kế cộng đồng dân cư vùng đệm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Phạm vi điều tra thực địa mới tập trung ở khu vực phía Tây của Khu bảo tồn (diện tích 300,33 km² trên tổng diện tích 933,38 km²), chưa bao phủ toàn diện khu vực phía Đông và các hành lang sinh cảnh kết nối.
    • Số liệu ngoại nghiệp định lượng tập trung trong khung thời gian 2017–2019, chưa đánh giá được biến động chu kỳ quần thể trong dài hạn.
    • Chưa phân tích sâu về cấu trúc di truyền phân tử và đa dạng di truyền của quần thể cô lập tại chỗ so với các quần thể khác trong khu vực Đông Nam Á.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi điều tra sang toàn bộ phần phía Đông của Khu bảo tồn Xonnabouly và các khu vực lân cận ở miền Nam Lào (như khu bảo vệ Dongkhanthung, tỉnh Champasak).
    • Thu thập mẫu phân và mô để thực hiện các phân tích di truyền học quần thể (DNA/Microsatellites), đánh giá hiện tượng giao phối cận huyết trong quần thể nhỏ.
    • Nghiên cứu dịch tễ học và giám sát nguy cơ lây truyền mầm bệnh giữa vật nuôi (trâu, bò nhà) với Nai cà tông tại các bãi chăn thả chung.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:

    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh học bảo tồn và Động vật học.
    • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Tham khảo tài liệu giảng dạy về sinh thái thú móng guốc chẵn nhiệt đới và kỹ thuật điều tra thực địa.
    • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, Sở Nông Lâm nghiệp (DAFO), Bộ Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường Lào (MoNRE), Ban chỉ đạo các dự án quốc tế (UNDP, IUCN, WWF).
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:

    • Quy trình thiết kế tuyến điều tra và kỹ thuật ứng dụng phần mềm DISTANCE (mô hình Uniform + cosine) để ước tính mật độ thú lớn móng guốc trong sinh cảnh rừng khộp rụng lá.
    • Phương pháp luận kết hợp ô tiêu chuẩn 3 cấp đánh giá thảm thực vật thức ăn và khảo sát tọa độ, hiện trạng các điểm đất khoáng tự nhiên.
    • Dữ liệu chuyên khảo chi tiết về đặc tính sinh học, tỷ lệ sinh sản, chu kỳ rụng sừng và tập tính đàn của phân loài Rucervus eldii siamensis.

Câu hỏi thường gặp

1. Phân loài Nai cà tông nghiên cứu trong luận án là gì và phân bố ở những quốc gia nào?

Luận án nghiên cứu phân loài Nai cà tông Đông Dương (Rucervus eldii siamensis). Trong lịch sử và hiện tại, phân loài này phân bố tại các quốc gia Đông Nam Á gồm Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và đảo Hải Nam (Trung Quốc). Hai phân loài còn lại của loài này là Rucervus eldii eldii (phân bố tại bang Manipur, Ấn Độ) và Rucervus eldii thamin (phân bố tại Myanmar và Thái Lan).

2. Dạng sinh cảnh nào chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất tại Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly và khu điều tra?

Sinh cảnh rừng khộp chiếm tỷ lệ diện tích áp đảo. Trong toàn bộ Khu bảo tồn Xonnabouly, rừng khộp chiếm 661,08 km² (tương đương 70,83% tổng diện tích 933,38 km²). Tại khu vực điều tra nghiên cứu (300,33 km²), rừng khộp chiếm tới 243,92 km², tương đương 81,22% diện tích.

3. Phương pháp định lượng nào được tác giả sử dụng để ước tính mật độ quần thể Nai cà tông?

Tác giả sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến đo khoảng cách (Distance sampling). Dữ liệu thu thập từ các tuyến khảo sát thực địa trong giai đoạn 2017–2019 được phân tích bằng phần mềm chuyên dụng DISTANCE, với mô hình hàm xác suất phát hiện $g(x)$ dạng Uniform kết hợp số hạng điều chỉnh cosine.

4. Những loài cây nông nghiệp nào được ghi nhận là thức ăn của Nai cà tông tại khu vực canh tác?

Khi di chuyển vào các sinh cảnh đất canh tác nông nghiệp (đặc biệt vào ban đêm hoặc mùa mưa), Nai cà tông được ghi nhận sử dụng các loài thực vật nông nghiệp làm thức ăn, tiêu biểu là cây Rau mương thon và Lúa nước (Oryza sativa).

5. Những mối đe dọa trực tiếp hàng đầu đối với Nai cà tông tại Khu bảo tồn Xonnabouly được luận án chỉ ra là gì?

Các mối đe dọa chính gồm: chó nhà của người dân địa phương săn đuổi và tấn công gây tử vong; phá rừng khộp khai hoang làm ao hồ chứa nước và đất sản xuất nông nghiệp; khai thác gỗ và thu hái lâm sản ngoài gỗ trái phép; săn bắt bằng bẫy dây và súng tự chế; cùng với việc thả rông gia súc (trâu, bò) gây cạnh tranh bãi ăn và sinh cảnh.

Kết luận

Luận án của Thananh Khotpathoom đã giải quyết khoảng trống dữ liệu khoa học về hiện trạng phân bố, mật độ quần thể và đặc điểm sinh thái của phân loài Nai cà tông nguy cấp (Rucervus eldii siamensis) tại Khu bảo tồn Xonnabouly, miền Nam CHDCND Lào. Bằng việc kết hợp phương pháp lấy mẫu khoảng cách (Distance sampling), phân tích ô tiêu chuẩn thực vật và hệ thống thông tin địa lý (GIS), công trình đã cung cấp nguồn số liệu thực chứng về cấu trúc đàn, sinh cảnh rừng khộp ưu thế, thói quen sử dụng điểm khoáng và các tác động nhân sinh tiêu cực. Đây là tài liệu khoa học làm căn cứ phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và thúc đẩy nâng hạng Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly lên cấp quốc gia.