Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu hiện trạng phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn loài nai cà tông rucervus eldii mclelland 1842 tại cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu hiện trạng phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn loài nai cà tông tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

221
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Đặc điểm của thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae)

1.1.1. Thành phần loài thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae)

1.1.2. Một số đặc điểm của thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae)

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Tổng quan số liệu thứ cấp

2.2.2. Phương pháp phỏng vấn dân địa phương và lực lượng kiểm lâm

2.2.3. Thiết lập tuyến điều tra và thu thập số liệu trên tuyến

2.2.4. Thu thập số liệu tại các điểm quan trọng

2.2.5. Phương pháp thu thập số liệu về thực vật

2.2.6. Phương pháp phân tích số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tình trạng và phân bố của loài Nai cà tông tại CHDCND Lào

3.1.1. Phân bố của loài Nai cà tông tại CHDCND Lào

3.1.2. Khu vực phân bố của Nai cà tông tại Khu bảo tồn Xonnabouly

3.2. Mật độ và kích thước quần thể Nai cà tông tại KBT Xonnabouly

3.3. Một số đặc điểm sinh thái của Nai cà tông tại KBT Xonnabouly

3.3.1. Đặc điểm sinh cảnh

3.3.2. Đặc điểm sử dụng sinh cảnh sống

3.3.3. Thức ăn của Nai cà tông

3.3.4. Các nguồn muối khoáng trong Khu bảo tồn

3.4. Các loài động vật hoang dã khác có cùng sinh cảnh với Nai cà tông

3.5. Các mối đe dọa tới quần thể và sinh cảnh Nai cà tông

3.5.1. Chó nhà của người dân địa phương

3.5.2. Xâm lấn sinh cảnh sống của Nai cà tông

3.5.3. Khai thác gỗ và thu hái lâm sản ngoài gỗ

3.5.4. Săn bắt động vật hoang dã

3.5.5. Chăn thả gia súc

3.6. Đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn Nai cà tông và sinh cảnh

3.6.1. Bảo vệ quần thể loài Nai cà tông

3.6.2. Bảo vệ sinh cảnh và các yếu tố sinh thái

3.6.3. Các giải pháp gián tiếp về mặt kinh tế, xã hội

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Hiện trạng nai cà tông

Hiện trạng nai cà tông tại Lào đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Loài này thuộc họ Hươu nai (Cervidae) và được xếp vào nhóm nguy cấp (EN) theo IUCN. Động vật hoang dã Lào nói chung và nai cà tông nói riêng đang bị đe dọa bởi nạn săn bắn, phá rừng và xâm lấn sinh cảnh. Khu bảo tồn Nai cà tông Xonnabouly, tỉnh Savannakhet, là nơi sinh sống chính của loài này, nhưng môi trường sống của chúng đang bị thu hẹp do hoạt động của con người.

1.1. Tình trạng đe dọa

Tình trạng đe dọa của nai cà tông ngày càng gia tăng. Các mối đe dọa chính bao gồm săn bắn trái phép, chăn thả gia súc và khai thác gỗ. Theo thống kê, từ năm 1998 đến 2015, nhiều loài động vật hoang dã tại Lào đã rơi vào nhóm bị đe dọa hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Hệ sinh thái Lào đang bị suy thoái nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của nai cà tông.

1.2. Phân bố và sinh cảnh

Phân bố và sinh cảnh của nai cà tông chủ yếu tập trung tại các khu rừng khộp và rừng bán thường xanh. Khu bảo tồn Xonnabouly là nơi có mật độ nai cà tông cao nhất, nhưng sinh cảnh này đang bị thu hẹp do xâm lấn đất nông nghiệp và khai thác tài nguyên. Nghiên cứu sinh thái cho thấy, nai cà tông phụ thuộc nhiều vào các sinh cảnh tự nhiên, đặc biệt là các trảng cỏ và rừng thưa.

II. Giải pháp bảo tồn

Giải pháp bảo tồn nai cà tông cần được thực hiện đồng bộ và toàn diện. Các biện pháp bao gồm bảo vệ sinh cảnh, quản lý tài nguyên thiên nhiên và nâng cao nhận thức cộng đồng. Chương trình bảo tồn cần tập trung vào việc giảm thiểu các mối đe dọa và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quần thể nai cà tông.

2.1. Bảo vệ sinh cảnh

Bảo vệ sinh cảnh là yếu tố then chốt trong việc bảo tồn nai cà tông. Cần hạn chế các hoạt động khai thác gỗ và chăn thả gia súc trong khu bảo tồn. Quản lý tài nguyên thiên nhiên cần được thực hiện một cách bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học.

2.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức cộng đồng là một trong những giải pháp quan trọng. Cần tổ chức các chương trình giáo dục và tuyên truyền về tầm quan trọng của việc bảo tồn nai cà tông. Bảo vệ môi trường cần được coi là trách nhiệm chung của toàn xã hội, từ đó giảm thiểu các hành vi gây hại đến sinh cảnh của loài này.

III. Đặc điểm loài nai cà tông

Đặc điểm loài nai cà tông (Rucervus eldii) bao gồm các đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái. Loài này có kích thước lớn, sừng rụng hàng năm và thích nghi với sinh cảnh rừng thưa. Nghiên cứu sinh thái cho thấy, nai cà tông có tập tính kiếm ăn vào ban đêm và sử dụng các trảng cỏ làm nơi sinh sống chính.

3.1. Đặc điểm hình thái

Đặc điểm hình thái của nai cà tông bao gồm kích thước lớn, sừng nhiều nhánh và cơ thể thích nghi với việc di chuyển trong rừng thưa. Sừng của chúng rụng hàng năm và mọc lại vào mùa sinh sản. Động vật hoang dã Lào nói chung và nai cà tông nói riêng có những đặc điểm thích nghi đặc biệt với môi trường sống tự nhiên.

3.2. Tập tính sinh thái

Tập tính sinh thái của nai cà tông bao gồm kiếm ăn vào ban đêm và sử dụng các trảng cỏ làm nơi sinh sống chính. Chúng thường di chuyển giữa các khu rừng và trảng cỏ để tìm kiếm thức ăn và tránh kẻ thù. Hệ sinh thái Lào đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các tập tính này của nai cà tông.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu hiện trạng phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn loài nai cà tông rucervus eldii mclelland 1842 tại cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm của thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae) 1. Thành phần loài thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae) Nai cà tông thuộc họ Hươu nai (Cervidae). Số lượng loài trong họ thay đổi theo thời gian do các loài mới được phát hiện hoặc theo quan điểm phân loại khác nhau.

Theo Wilson and Reeder (2007)[156], số lượng loài thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae) là 51 loài, thuộc 19 giống.1: Thành phần loài và giống của họ Hươu nai (Cervidae) TT Giống Số loài 1. Odocoileus 2 Tổng cộng 51 Nguồn: Wilson and reeder (2005). 6 Burgin và cộng sự (2018)[34] đưa ra thống kê mới nhất về số lượng loài thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae). Số lượng loài được công bố trong tài liệu này tăng lên gần gấp đôi, gồm 93 loài, thuộc 18 giống.

Trong số đó, các giống có tổng số loài lớn nhất là giống Mazama với 24 loài, giống Muntiacus có 16 loài và giống Cervus có 16 loài. Tại CHDCND Lào, cho đến nay vẫn chưa có thống kê đầy đủ và rõ ràng về thành phần loài thú Móng guốc chẵn thuộc họ Hươu nai (Cervidae). Theo một số tài liệu (Duckworth et al. 1994, 1999, Hassanin 2007)[49],[50],[59], có ít nhất 7 loài được phát hiện (Bảng 1.2: Các loài thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae) của CHDCND Lào TT Tên tiếng Lào Tên tiếng Việt Tên khoa học Ông-Măng hoặc Rucervus eldi 1 Nai cà tông Ông hoặc Măng siamensis 2 Quàng Nai Rusa unicolor Muntiacus 3 Phan Sai Phu Luông Mang trường sơn truongsonensis Muntiacus 4 Phan Khao Nhai Mang lớn vuquangensis 5 Phan Đèng Hoẵng Muntiacus muntjak Muntiacus 6 Phan Đồng Mang roosevelt rooseveltorum 7 Phan Đào Hươu vàng Axis porcinus 1.

Một số đặc điểm của thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae) a). Đặc điểm hình thái, sinh học và giải phẫu Thú thuộc họ Hươu nai gồm các loài thú có kích thước cơ thể từ trung bình tới rất lớn. Các loài thú đều có chân mang số ngón chẵn, có 2 ngón (có guốc) và có sừng. Chúng đi bằng đầu ngón chân thứ III và thứ IV nên các 7 ngón này rất lớn và có kích thước gần bằng nhau.

Ngón thứ I đã bị tiêu biến, ngón thứ II và thứ V bị tiêu giảm về kích thước và hầu như không chạm đất, trừ khi mặt đất quá xốp (Lekagul and McNeely 1988, Hutchins et al. 2004, Đặng Huy Huỳnh et al. 2008, Nguyễn Xuân Đặng and Lê Xuân Cảnh 2009)[80],[64], [2],[6]. Thú thuộc họ Hươu nai hầu hết đều mang sừng ở con đực, trừ ở Tuần lộc (Rangifer tarandus) cả đực và cái đều có sừng (Holmes et al.

Sừng đặc và rụng hàng năm sau mỗi mùa sinh sản và mọc lại sau vài tuần.Sau khi sừng rụng, da xung quanh phát triển để che kín đế sừng, sau đó các động mạch hoạt động tích tụ canxi để phát triển thành sừng mới. Sừng non được phủ một lớp da có lông ngắn mềm như vải nhung nên được gọi là nhung. Sừng và răng nanh đóng vai trò vũ khí tự vệ nhằm cạnh tranh với các cá thể cùng loài (ví dụ: tranh giành vị trí đầu đàn, tranh giành thú cái trong mùa sinh sản và bảo vệ lãnh thổ,. Ngoài ra, sừng còn là vũ khí để tấn công hoặc tự vệ trước các loài động vật khác, như các loài thú ăn thịt hoặc loài động vật thiên địch khác (Hutchins et al.

Sừng của các loài họ Hươu nai (Cervidae) có nhiều nhánh và mang tính đặc trưng loài hoặc giống. Sừng của chúng rụng sau mùa sinh sản và mọc mới và cứng chắc trước mùa sinh sản năm sau. Sừng của chúng phát triển dần theo độ tuổi (Hickman et al. Việc hình thành sừng và rụng sừng hàng năm giúp thú giải thoát bớt lượng canxi dư thừa trong cơ thể.

Con cái giải thoát dư thừa canxi qua việc nuôi dưỡng bào thai và con non (Lekagul and McNeely 1988)[81]. Các loài họ Hươu nai (Cervidae) thường có tuyến lệ rất lớn cạnh góc trong của mỗi mắt và các tuyến da ở kẽ các ngón chân. Dịch tiết có mùi nặng và được thú sử dụng để thông tin liên lạc với nhau. Thú thuộc họ Hươu nai (Cervidae) không có răng cửa hàm trên.

Công thức răng là: i 0-3/3, c 0-1/1, pm 2-4/2-4, m 3/3 x 2 = 30-44 chiếc (Đặng Huy Huỳnh et al. Dạ dày có 4 ngăn và thích nghi với việc tiêu hóa chất 8 Xenluloza thực vật. Trong dạ dày có hệ sinh vật và ký sinh trùng cộng sinh phong phú giúp phân hủy Xenluloza. Tóm lại, chúng có đặc điểm nhai lại thức ăn trong lúc nghỉ ngơi (Hanley 1982, Đặng Huy Huỳnh 1986, Lekagul and McNeely 1988)[57],[3],[81].

Đặc điểm phân bố và sinh cảnh Các loài thú thuộc họ Hươu nai thích nghi với rất nhiều sinh cảnh khác nhau trên trái đất, phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng loài. Chúng xuất hiện từ Bắc cực đến các lãnh nguyên (Tundra) và các khu rừng nhiệt đới (Hutchins et al. Chúng thường cư trú ở các khu vực rừng liền kề với vùng có sinh cảnh trảng cỏ, trảng cây bụi. Chúng thường di chuyển qua lại giữa các khu rừng và trảng cỏ, cây bụi.

Thời điểm ban ngày, chúng thường sử dụng rừng làm nơi tránh nắng và ẩn náu, lẩn trốn các loài thú ăn thịt. Chúng thường nghỉ ở khu vực bìa rừng để dễ quan sát kẻ thù và nhanh chóng chạy trốn vào rừng rậm. Thời điểm ban đêm, sáng sớm hoặc chiều muộn chúng di chuyển ra các khu vực trảng cỏ trống dọc bìa rừng để kiếm ăn (Bhumpakphan 2000)[175]. Theo Duckworth et al.

(1994, 1999)[49],[50], các loài thú thuộc họ Hươu nai của CHDCND Lào sống và hoạt động trong nhiều sinh cảnh khác nhau, nhưng chủ yếu trong rừng thứ sinh, nguyên sinh, các trảng cỏ và trảng cây bụi. Các loài khác nhau về mặt kích thước và tập tính sinh thái. Sinh cảnh sinh sống khác nhau, nhưng nhìn chung các loài thú phân bố ở CHDCND Lào không đòi hỏi khắt khe đặc biệt về sinh cảnh sống ngoại trừ loài Nai cà tông (Rucervus eldii siamensis). Nai cà tông chỉ xuất hiện ở khu rừng khộp (Dry Dipterocarp forest), trảng cỏ (Topical grassland hoặc Savannah) và rừng bán thường xanh (Mixed deciduous forest) tại vùng đồng bằng của các tỉnh miền Nam như tỉnh Savannakhet và tỉnh Champasak (Vongkhamheng and Phirasack 2002)[143].

Đặc điểm dinh dưỡng và thức ăn Các loài thú thuộc họ Hươu nai đều là những loài chuyên ăn thực vật. Chúng sử dụng hệ vi sinh vật sống trong dạ dày để phân hủy xenluloza và lignin thực vật. Để thích nghi với việc tiêu hóa thức ăn thực vật, chúng có dạ dày phức và ruột tịt nhỏ với dạ dày 4 ngăn (Hình1.1) và có tập tính nhai lại thức ăn (Hanley 1982, Hickman et al. Tập tính nhai lại thức ăn là một đặc điểm tiến hóa giúp cho thú nhanh chóng thu được lượng lớn thức ăn ở các bãi trống nơi dễ bị kẻ thù (động vật ăn thịt) phát hiện và tấn công.

Sau đó, chúng tìm nơi an toàn hơn để từ từ nhai lại thức ăn cho dễ tiêu hóa. Trong dạ dày, ngăn thứ nhất là túi dạ (Rumen) có kích thước lớn hơn các ngăn khác và chứa nhiều sinh vật ký sinh giúp phân hủy xenluloza thực vật. Quá trình lên men tiêu hóa cũng đã được bắt đầu từ đây (Lekagul and McNeely 1988)[81]. Tại ngăn thứ II (Hình1.

Quá trình này được lặp lại nhiều lần cho đến khi thức ăn trong ngăn thứ nhất đủ nhỏ mới chuyển sang ngăn thứ III (túi sách - Omasum) để tiếp tục tiêu hóa. Cuối cùng, thức ăn chuyển đến ngăn thứ IV (túi múi khế - Abomosum) nơi có chứa các dịch tiêu hóa. Tại đây, thức ăn được tiêu hóa hoàn toàn và sau đó chất dinh dưỡng được hấp thụ ở ruột non. Các loại thức ăn mềm như cỏ, lá non được tiêu hóa trong khoảng một ngày, còn các thức ăn thô cứng sẽ cần nhiều thời gian hơn, quá trình này có khi kéo dài lên tới cả tuần (Lekagul and McNeely 1988)[81].

Các loài thú có khả năng nhai lại không chỉ sử dụng các vi sinh vật để chiết xuất chất dinh dưỡng từ thực vật, chúng còn sử dụng các vi sinh vật như nguồn protein chính. Các vi sinh vật sử dụng protein thực vật để sinh sống và sinh sản, khi chúng được di chuyển cùng với các vật chất thực vật chưa tiêu hóa từ ngăn thứ nhất túi dạ (Rumen) tới ngăn thứ III túi sách 10 (Omasum) và cuối cùng tới ruột non, tại đây các vi sinh vật bị thú Móng guốc chẵn tiêu hóa để hấp thụ lượng protein trong chúng. Như vậy, các loài thú nhai lại hấp thụ được nhiều hơn các Axit amin quan trọng so với việc tiêu hóa các protein thực vật (Hutchins et al.1: Dạ dày của thú Móng guốc chẵn nhai lại Nguồn: https://www. Đặc điểm sinh sản Các loài thú thuộc họ Hươu nai thường chỉ sinh 1 con và rất ít khi sinh tới 2 con.

Hầu hết các loài chỉ sinh sản mỗi năm một lứa. Chúng có thời gian mang thai từ 3- 10 tháng, thời gian nuôi con khoảng 2-3 tháng.Một số loài có chu kỳ động dục từ 20-30 ngày vào tất cả các tháng trong năm (Đặng Huy Huỳnh và cộng sự 2010)[4]. Mùa sinh sản thường trùng với thời gian bắt đầu sinh trưởng mạnh của thực vật (mùa xuân ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới, mùa mưa ở vùng nhiệt đới). Sự phong phú của nguồn thức ăn thực vật mới xanh non giúp thú mẹ có nhiều sữa và thú non mới sinh tiếp cận được nguồn thức ăn phong phú, có chất lượng cao để nhanh chóng phát triển.

11 Ở đa số các loài thú thuộc họ Hươu nai, con non thường có khả năng đi lại hoặc thậm chí có thể chạy theo mẹ ngay sau khi sinh vài giờ. Một số loài sau khi sinh thường dấu con mới sinh chưa khỏe tại nơi kín đáo để đi kiếm ăn và chỉ quay lại 1-2 lần trong ngày để cho con bú và liếm vệ sinh con của mình. Khi con đã khỏe hoặc cứng cáp hơn và có thể đi lại nhanh nhẹn, chúng bắt đầu đi theo mẹ kiếm ăn. Đa số các loài hươu nai là đa thê (polygamy), một thú đực có thể giao phối với vài thú cái khác nhau và một thú cái có thể có nhiều thú đực đến giao phối trong suốt mùa động đục (Lekagul and McNeely 1988)[81].

Đặc điểm tập tính Các loài thú trong họ Hươu nai (Cervidae) hoạt động chủ yếu vào ban đêm. Rất ít loài thú trong họ Hươu nai sống đơn lẻ, hầu hết các loài đều sống theo đàn. Tuy nhiên, các cá thể đực và các cá thể cái sống cách li nhau trong hầu hết thời gian của năm. Đa số các cá thể đực trưởng thành sống cách li với các cá thể cái trưởng thành và con non.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu hiện trạng và giải pháp bảo tồn loài nai cà tông tại Lào" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của loài nai cà tông, một loài động vật quý hiếm đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Nghiên cứu không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự sống còn của loài này mà còn đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả, từ việc nâng cao nhận thức cộng đồng đến việc xây dựng các khu bảo tồn an toàn. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học và các biện pháp cụ thể có thể thực hiện để bảo vệ loài nai cà tông.

Để mở rộng kiến thức về bảo tồn động vật và tài nguyên thiên nhiên, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu bảo tồn loài xá xị Cinnamomum parthenoxylon tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa, nơi cũng đề cập đến các giải pháp bảo tồn loài quý hiếm. Bên cạnh đó, tài liệu Giải pháp bảo tồn tài nguyên thú rừng với sự tham gia của cộng đồng tại khu bảo tồn Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu cơ sở khoa học phục hồi rừng sau cháy tại khu rừng phòng hộ Nam Ngum, Lào cũng mang đến những thông tin bổ ích về phục hồi hệ sinh thái, một phần quan trọng trong bảo tồn động vật hoang dã. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến bảo tồn thiên nhiên.