ĐẶT VẤN ĐỀ Vƣợn Cao Vít (VCV) - (Nomascus nasutus) một loài linh trƣởng quý hiếm ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. Danh lục Đỏ IUCN (2010) & sách Đỏ Việt Nam xếp VCV vào mức cực kỳ nguy cấp - CR. Nghị định số 32/2006/NĐ –CP xếp VCV vào nh m IB, đồng thời VCV nằm trong phụ lục I của công ƣớc CITES. Ở Việt Nam, loài Vƣợn đen Cao Vít đã từng phân bố rất rộng khắp trên các tỉnh phía đông bắc Việt Nam (Phạm Nhật, 2002).
Tuy nhiên, theo một số báo cáo nghiên cứu thực địa gần đây đã không ghi nhận đƣợc thêm thông tin gì về loài này ở khu vực đ nữa. Đầu năm 2002, tổ chức bảo tồn động thực vật thế giới (FFI) đã phát hiện đƣợc một quần thể nhỏ của loài này ở khu rừng Phong Nậm – Ngọc Khê giáp biên giới Việt – Trung thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Cho tới thời điểm hiện nay, chỉ còn một quần thể duy nhất của loài này tồn tại ở Việt Nam và Trung Quốc. Theo thông tin của hạt kiểm lâm huyện Trùng Khánh rừng thuộc xã Phong Nậm, Ngọc Khê có tổng diện tích 3.129 ha, tuy nhiên quần thể VCV này chỉ hoạt động trên diện tích khoảng 600 – 700 ha (Lê Trọng Dạt & Lê Hƣu Oanh, 2006).
Nguyên nhân làm cho loài VCV chỉ sử dụng một vùng phân bố hạn chế nhƣ vậy vẫn là câu hỏi với các nhà nghiên cứu. Theo một số nghiên cứu trƣớc đây, cấu trúc rừng c tƣơng quan với mật độ của các loài Linh trƣởng. Hamard (2009) đã chứng minh đƣợc mật độ của vƣợn tƣơng quan rất chặt với các đặc điểm thực vật bao gồm chiều cao, tán cây, cây thức ăn, tổng tiết diện ngang và mật độ cây cao. Ngoài ra, nghiên cứu của các tác giả khác cũng cho kết quả tƣơng tự mật độ vƣợn tƣơng quan với mật độ và kích thƣớc của cây (Medley, 1993b; Ross & Srivastava, 1994); tỉ lệ của các cây thức ăn (Felton et Al, 2003; Skorupa, 1986); tỷ lệ tán che phủ (Skorupa, 1986); kích thƣớc, lỗ hổng, cây chết (Medley, 1993b) và sinh khối của thực vật (Bartlett, 2007).
9 Việc xác định đƣợc tƣơng quan giữa các đặc điểm thực vật và phân bố của VCV giúp ta có thể xác định đƣợc mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố này tới sự phân bố của vƣợn. Từ đ c thể đề ra hƣớng tác động tới các nhân tố này nhằm phục hồi và bảo tồn các sinh cảnh của VCV. Đã c một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, thành phần thức ăn, tập tính vận động của VCV đƣợc công bố (Nguyễn Thị Hiền, 2009; Lƣu Tƣờng Bách, 2009). Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phân bố, số lƣợng quần thể hoặc nghiên cứu sinh cảnh, sinh thái tập tính loài mà chƣa c nghiên cứu nào đề cập tới mối tƣơng quan giữa các đặc điểm thực vật với phân bố của VCV ở Việt Nam.
Chính vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm cấu trúc thực vật với sự phân bố của quần thể Vượn Cao Vít tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”. Số liệu thu thập đƣợc và kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm thông tin về sinh cảnh sống, phân bố cũng nhƣ mối quan hệ giữa các đặc điểm thực vật với sự phân bố của VCV, là cơ sở khoa học cho việc đƣa ra các giải pháp quản lý bảo tồn loài linh trƣởng quý hiếm này ở Việt Nam. 10 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Phân loại học thú linh trƣởng ở Việt Nam Theo hệ thống phân loại của Brandon-Jone và cộng sự (2004), khu hệ thú linh trƣởng Việt Nam có 24 loài và phân loài thuộc 3 họ là: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae), họ Vƣợn (Hylobatidae).
Trong số 24 loài và phân loài, c 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam: gồm Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca condorensis), Vƣợn đen Cao Vít (Nomascus nasutus). Theo hệ thống phân loại học phân tử các loài linh trƣởng Đông Dƣơng (Roos Christian et al. 2007) thì Khu hệ thú linh trƣởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ: Họ cu li – Loridae, họ khỉ - Cercopithecidae, họ Vƣợn – Hylobatidae. Phân loại học Vƣợn Cao Vít Năm 1884 Kunkel d’Herculais lần đầu tiên mô tả loài Hylobates nasutus, mẫu vật này sống một thời gian ngắn ở Pari và đƣợc ghi nhận là bắt giữ ở gần vịnh Hạ Long, vùng ven biển miền Đông Bắc Việt Nam.
Năm 1892, Thomas mô tả một cá thể vƣợn đực bắt đƣợc ở đảo Hải Nam coi nhƣ một loài mới – Hylobates hainanus. Năm 1893, Matschie đặt thành H. concolor, là loài đƣợc mô tả đầu tiên bởi Harlan (1826) của một cá thể vƣợn nuôi nhốt sắp trƣởng thành có nguồn gốc từ đảo Borneo. Năm 1904 Pousargues đã xếp cả hai loài H.
hainanus thành loài H. nasutus và kết luận rằng mẫu vật mà Harlan (1826) mô tả là H. concolor không phải từ Borneo. Delacour (1951) cho rằng vƣợn đen Hải Nam là phân loài khác với vƣợn đen ở đất liền của Đông Dƣơng là H.
nasutus và vƣợn đen Hải Nam là H. Năm 1957, Simonetta đã đặt lại tên H. 11 concolor cho loài vƣợn đen Đông Dƣơng (Tonkin black gibbon) và H. hainanus cho phân loài Hải Nam.
Danh pháp này đƣợc sử dụng bởi hầu hết các tác giả sau này. Năm 1985 tác giả Đào Văn Tiến đã ghi nhận cả hai phân loài đều xuất hiện ở Việt Nam: H. concolor ở miền Tây Bắc Việt Nam phía tây của sông Hồng và H. hainanus ở phía Đông Bắc Việt Nam, phía đông của sông Hồng (Geissmann, 1989).
Brandon Jones (2004) cho rằng quần thể ở đảo Hải Nam và quần thể ở Đông Bắc Việt Nam đều là phân loài của loài vƣợn chƣa định tên N.nasutus đối với loài trên đất liền và N. hainanus đối với phân loài trên đảo Hải Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu sau này dựa trên sự khác biệt về hình thái màu lông, đặc trƣng tiếng hút kết hợp với những nghiên cứu gần đây về sự khác biệt về mặt di truyền đã cho rằng đây là 2 loài độc lập là N. Dựa vào công trình nghiên cứu của Groves (1972) ngƣời ta đã đề nghị phân họ Vƣợn thành bốn giống là Symphalangus, Nomascus, Bunopithecus và Hylobates.
Các loài vƣợn ở Việt Nam đều thuộc giống vƣợn mào Nomascus bao gồm vƣợn đen tuyền N. concolor, vƣợn đen chƣa định tên N. nasutus, vƣợn má vàng N. gabriellae, vƣợn má trắng N.
leucogenys và phân loài vƣợn má trắng siki N. Theo Roos Christian et al. 2007, phân loại học phân tử dựa trên trình tự gen cytochrome b ty thể của 64 cá thể vƣợn và một cá thể Hylobates lar dùng đối chứng trong đ c 44 dạng khác nhau. Sự khác nhau giữa các cặp từ 0,1 – 8,2%, trong các bậc phân loại sự khác biệt lớn nhất là giữa hai loài N.1: Tỉ lệ sai khác giữa các cặp nucleotit trong loài và giữa các loài thuộc giống Nomascus 1 2 3 4 5 6 (1) N.
gabriellae 7,1-7,8 7,4-7,9 4,8-6,0 3,3-4,6 3,0-3,9 0,1-1,1 Nhƣ vậy dựa trên các dẫn liệu về phân loại sinh học phân tử Roos C. leucogenys đƣợc công nhận là các loài riêng biệt. Dựa vào các nghiên cứu trên, hiện nay các nhà khoa học đã công nhận loài vƣợn phân bố tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng là một loài riêng biệt - loài vƣợn Cao Vít (Nomascus nasutus). Số lƣợng và phân bố của VCV Vùng phân bố tự nhiên trƣớc đây của Vƣợn đen Đông Bắc ở phía Nam tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam, Trung Quốc (đối với Vƣợn đen Hải Nam); phía Đông sông Hồng, Việt Nam (đối với Vƣợn Cao Vít) (Geissmann và cộng sự, 2000).
Hai loài này chỉ phân bố ở khu vực trên không c nơi nào trên thế giới do đ 2 loài linh trƣởng này là rất hiếm và đang c nguy cơ tuyệt chủng cao. Năm 1985 tác giả Đào Văn Tiến đã ghi nhận cả hai phân loài này đều phân bố ở Việt Nam với loài H.concolor ở phía Tây Bắc (phía tây sông Hồng) và H.hainanus ở phía Đông Bắc Việt Nam (phía đông sông Hồng) (Geissmann 1989). Trong cuốn “Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam”, Đào Văn Tiến (1985) cho biết, ngày 11 tháng 6 năm 1965 đã thu đƣợc 3 tiêu bản loài Vƣợn 13 đen Hải Nam (Hylobates concolor hainanus, Thomas, 1892) gồm 1 cá thể đực, 1 cái, 1 con non và ông đã nhận định: sự phân bố của vƣợn đen Hải Nam H. hainanus tới Cao Bằng cho phép nghĩ rằng vƣợn đen ở vùng Quảng Tây (Hoa Nam) càng thuộc dạng này.
Dạng Hylobates concolor hainanus có thể là Nomascus nasutus ngày nay? Từ năm 1965 đến nay, không có bất kỳ thông tin nào về dạng H. Một vài tài liệu có thông báo rằng, sự tồn tại của loài Vƣợn Cao vít có thể ở Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Bắc Kạn (Na Rỳ), Cao Bằng (Trùng Khánh). Ở Trung Quốc trƣớc những năm 1940 Vƣợn đen Hải Nam vẫn còn tìm thấy ở một số địa điểm thuộc phía Bắc tỉnh Quảng Đông và phía Tây Nam của tỉnh Quảng Tây và đƣợc coi là tuyệt chủng vào những năm 1950 (Geissmann và cộng sự, 2000). Tháng 9 năm 2006 ghi nhận đƣợc 3 đàn gồm 18 cá thể tại khu rừng Bangliang, quận Jingxi, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
Tháng 9 năm 2007 ghi nhận đƣợc 6 nhóm với 19 cá thể (Fan Pengfei, Yanlu, 2007). Ở Việt Nam, trƣớc năm 1983 Vƣợn đen Đông Bắc đƣợc ghi nhận tại các tỉnh phía đông sông Hồng, các mẫu da thu đƣợc định loại chắc chắn lƣu giữ ở bảo tàng và đƣợc thu thập ở Tam Đảo, Na Rỳ - Bắc Kạn, Trùng Khánh - Cao Bằng. Các vùng khác thuộc các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh nằm trong khu vực phân bố giả định của loài. Theo Lê Hiền Hào (1973) thu đƣợc 3 cá thể (1 đực lớn, 1 con non bộ lông mầu đen bám bông mẹ, 1 con cái).
Theo Phạm Nhật (2002) ghi nhận đƣợc loài có mặt ở Kim Hỷ, huyện Na Rỳ, tỉnh Bắc Kạn, Vừ Nhai (Thái Nguyên) và đã bị tiêu diệt ở Cẩm Phả (Quảng Ninh), Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Các cuộc khảo sát nghiên cứu tiến hành tại các xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ năm 2002 trở về đây. 14 Tháng 1 năm 2002 Vƣợn Cao Vít đƣợc ghi nhận tại khu rừng 3 xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng có 2 đàn khoảng 8 cá thể, kết quả phỏng vấn có thể có 16 - 20 cá thể.