Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Kinh tế, xã hội và văn hóa làng Vân (xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) thế kỷ XVII - XIX" do nghiên cứu sinh Ngô Văn Cường thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Quang Ngọc, bảo vệ năm 2017 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Mã số: 62.13).
Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ yêu cầu nghiên cứu cơ bản trong sử học đối với mô hình làng xã cổ truyền Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, cùng Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ. Tác giả trích dẫn quan điểm của Phan Đại Doãn nhằm nhấn mạnh làng xã là thực thể cơ bản của xã hội truyền thống, đóng vai trò nền tảng cần được làm rõ bản chất khi tiếp cận quá trình đô thị hóa. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ rõ: làng Vân (tên chữ là xã Yên Viên) là làng cổ ven sông Cầu có cơ cấu kinh tế kết hợp nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, đồng thời từng là lỵ sở của huyện Yên Việt và phân phủ Thiên Phúc; tuy sở hữu nguồn tài liệu thành văn phong phú nhưng trước đó chưa có bất kỳ công trình chuyên khảo lịch sử nào nghiên cứu toàn diện về địa bàn này ở giai đoạn thế kỷ XVII - XIX.
Luận án xác định 3 nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, mô tả kinh tế, xã hội và văn hóa làng Vân từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, qua đó làm rõ mối quan hệ tương tác giữa ba lĩnh vực này.
- Làm rõ mối liên hệ đồng đại trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa của làng Vân đối với một số làng nghề trong vùng ở cùng thời gian.
- Tìm hiểu kinh tế, văn hóa, xã hội ở làng Vân thế kỷ XVII - XIX.
Đối tượng nghiên cứu là bức tranh kinh tế, xã hội và văn hóa làng Vân trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX nhằm phục dựng diện mạo lịch sử và đánh giá sự vận động của làng trước thời kỳ cận - hiện đại.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Không gian: Làng Vân, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX mang đơn vị hành chính là xã Yên Viên, thuộc tổng Tiên Lát, huyện Yên Việt (từ năm 1820 đổi là huyện Việt Yên), phủ Bắc Hà (sau là phủ Thiên Phúc); nay thuộc thôn Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Thời gian: Trọng tâm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, có mở rộng khảo sát các giai đoạn cận kề để làm rõ tiến trình lịch sử.
- Nội dung: Tập trung vào ba thành tố chính gồm kinh tế (ruộng đất, nông nghiệp, thủ công nghiệp nấu rượu, thương nghiệp bến chợ), xã hội (tổ chức quản lý, kết cấu dân cư, dòng họ, thiết chế giáp, xóm, hội) và văn hóa (cảnh quan, kiến trúc, điêu khắc, tôn giáo, tín ngưỡng, khoa cử, phong tục, lễ hội).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được phân chia theo hệ thống tác giả nước ngoài, tác giả trong nước và các nghiên cứu chuyên biệt về làng Vân:
Về phía học giả quốc tế, các ghi chép sớm từ thế kỷ XVII - XVIII gồm tư liệu thương nhân, giáo sĩ phương Tây như S. Baron (Mô tả Vương quốc Đàng ngoài), Richard (Lịch sử Đàng Ngoài), Alexandre de Rhodes (Hành trình và truyền giáo), Jean Baptiste Tavernier (Tập du ký mới và kỳ thú về Vương quốc Đàng Ngoài), Dampier William (Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688). Đến thời kỳ thuộc địa, chính quyền thực dân đẩy mạnh nghiên cứu qua P. Ory (Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ, 1894), C. Briffaut (Thành bang An Nam, 1909), các khảo sát điền dã của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO), công trình kinh tế nông nghiệp của Y. Henry và nghiên cứu của Pierre Gourou (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, 1936). Giai đoạn 1945 - 1975 có Gerald C. Hickey (Village in Vietnam, 1964). Giai đoạn 1975 - 1986 có James C. Scott (The Moral Economy of the Peasant, 1976), Samuel L. Popkin (The Rational Peasant, 1978), Neil Jamieson (The Traditional Village in Vietnam, 1980). Sau năm 1986, các công trình quốc tế đi sâu vào chuyên khảo như Lương Văn Hy (Revolution in the Village), Insun Yu (Law and Society in Seventeenth and Eighteenth Century Vietnam, 1990), các nghiên cứu trường hợp của Ueda Shinya (làng Thanh Phước), Suenari (Nghi lễ tổ tiên ở Việt Nam: Đời sống xã hội làng Triều Khúc, 1998), Iwai Misaki (làng Trang Liệt), Berhard Dahm và Vincent J. Houben (Vietnamese Villages in Transition, 1999), công trình hợp tác Việt - Pháp do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên (Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ), cùng chương trình hợp tác quốc tế nghiên cứu làng Bách Cốc quy tụ hơn 200 chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản kéo dài từ năm 1993 đến 2013.
Về phía học giả trong nước, giai đoạn cải lương hương chính thập niên 1920 - 1940 có các bài viết của Đỗ Thiện, Hoàng Hữu Đôn, Nguyễn Như Ngọc trên tạp chí Nam Phong, nghiên cứu đình làng của Nguyễn Văn Khoan (1930), Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình (1937), Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1938), Sở hữu công ở Bắc Kỳ của Vũ Văn Hiền (1939), Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên, Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1945), luận án Nền kinh tế công xã Việt Nam của Vũ Quốc Thúc (1950). Sau năm 1954, miền Bắc tập trung vào chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp qua nghiên cứu của Nguyễn Hồng Phong (1958), Phan Huy Lê (1959), các ấn phẩm của Viện Kinh tế học (1960, 1968); miền Nam có khảo cứu văn hóa của Toan Ánh (Nếp cũ), lịch sử khai hoang của Nguyễn Văn Hầu (1972), Phan Khoang (1970), Sơn Nam (1973). Sau năm 1975, bộ sách Nông thôn Việt Nam trong lịch sử của Viện Sử học (1977, 1978), công trình của Trương Hữu Quýnh về chế độ ruộng đất, Trần Từ (1984) về cơ cấu tổ chức làng Việt, Bùi Xuân Đính (1985) về lệ làng phép nước, Nguyễn Đức Nghinh (1979, 1980) về chợ làng và chợ chùa. Từ sau Đổi mới (1986), nghiên cứu phát triển với các tác giả: Hà Văn Tấn (1987), Diệp Đình Hoa (1990), Phan Huy Lê (1991), Phan Đại Doãn (2001, 2010), Nguyễn Quang Ngọc (1993, 2009), Nguyễn Hải Kế (1996), Vũ Duy Mền (2006, 2010), Vũ Minh Giang, Bùi Thị Tân (1994), Mai Phương Ngọc (2013), Phan Phương Thảo (2004).
Về địa bàn làng Vân, các nguồn thư tịch cổ ghi nhận ngắn gọn như Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm. Pierre Gourou (1936) thống kê làng Vân nấu khoảng 2.000 lít rượu mỗi ngày, tiêu thụ khoảng 2 tấn gạo/ngày (700 tấn gạo/năm) và xếp làng Vân là làng nấu rượu quan trọng nhất trong 32 làng nấu rượu tại Bắc Giang. Sau năm 1990, địa phương được đề cập trong Bắc Giang những chặng đường lịch sử, sách Vân Hà xưa và nay của Hoàng Kỳ (1996), Phương ngôn xứ Bắc của Khổng Đức Thiêm và Nguyễn Đình Bưu (1994), Di tích Bắc Giang (2001), Địa chí Bắc Giang từ điển (2002), bài viết của Dương Văn Cầu (2006), Nguyễn Huy Hạnh (2006), Vi Thị Tỉnh và Nguyễn Tuấn Nghiệp (2012), luận văn thạc sĩ về lễ hội đền Chính của Phan Mạnh Dương (2011). Về Hán Nôm, có các đề tài sưu tầm văn bia của Bảo tàng tỉnh Bắc Giang do Nguyễn Văn Phong (2001) và Trần Văn Lạng (2005) chủ nhiệm, nghiên cứu văn bia thời Lê của Phạm Thị Thùy Vinh (2003), ấn bản Địa chí Bắc Giang: Di sản Hán Nôm (2003) giới thiệu 117 thác bản.
Khoảng trống được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chỉ khảo sát làng Vân ở từng khía cạnh riêng lẻ (văn hóa dân gian, lễ hội, dịch thuật một số văn bia) hoặc đặt trong diện mạo chung của tỉnh Bắc Giang, chưa có nghiên cứu chuyên khảo phục dựng hệ thống cơ cấu kinh tế, mô hình tổ chức xã hội và đời sống văn hóa của làng dưới góc độ lịch sử trong mối quan hệ với vị thế lỵ sở hành chính và một trung tâm sản xuất thủ công nghiệp ven sông.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận mác-xít, nhìn nhận kinh tế, xã hội và văn hóa trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng; trong đó điều kiện kinh tế giữ vai trò nền tảng chi phối thiết chế xã hội và sinh hoạt văn hóa, đồng thời văn hóa - xã hội tác động trở lại tiến trình kinh tế.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc: Sử dụng xuyên suốt nhằm tái hiện các sự kiện, quá trình vận động của làng Vân theo trục thời gian, phân tích bản chất và quy luật vận động nội tại của đối tượng.
- Phương pháp tiếp cận xã hội học lịch sử: Nghiên cứu làng xã truyền thống như một thực thể xã hội học trong quá khứ, kết hợp tài liệu quan sát hiện tại với tư liệu lịch đại.
- Phương pháp hồi cố: Dùng các dữ liệu, lời kể, tập tục còn bảo lưu sau thế kỷ XIX để soi chiếu, phục dựng hiện thực lịch sử giai đoạn trước; tác giả chỉ rõ hạn chế của phương pháp này là nguy cơ suy diễn quá xa nên luôn đối chứng với văn bản thành văn.
- Phương pháp nghiên cứu điền dã thực địa: Trực tiếp khảo sát hiện trường di tích, ghi chép văn bia, hệ thống kiến trúc nhà ở, công trình tôn giáo, tín ngưỡng, bến bãi, ao làng, dụng cụ sản xuất và thực hiện phỏng vấn sâu nhân chứng địa phương.
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Xem làng Vân là một hệ thống hoàn chỉnh cấu thành từ các phân hệ kinh tế, xã hội, văn hóa; đồng thời khảo sát mối quan hệ ngoài cấu trúc giữa làng Vân với mạng lưới làng xã lân cận ở vùng hạ lưu sông Cầu và lưu vực sông Ngũ Huyện Khê.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn bản học, khảo cổ học, phê phán sử liệu, dân tộc học và đặc biệt là phương pháp thống kê định lượng trong xử lý khối tư liệu địa bạ và văn bia.
Nguồn tư liệu được khai thác gồm:
- Thư tịch chữ Hán: Đại Việt sử ký tục biên, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm.
- Tài liệu lưu trữ: Địa bạ xã Yên Viên lập tháng 3 năm Gia Long thứ 4 (1805) và địa bạ các xã lân cận lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I; Hương ước xã Yên Viên tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội; hồ sơ di tích, sắc phong tại Thư viện tỉnh Bắc Giang.
- Nguồn tư liệu thực địa: Khảo sát 107 văn bia tại làng Vân (phát hiện mới 02 văn bia trong quá trình điền dã), mộc bản kinh Phật tại chùa Diên Phúc và mộc bản chùa Bổ Đà; 04 cuốn sách chữ Hán chép tay trên giấy dó biên soạn vào thế kỷ XIX lưu giữ tại tư gia các ông Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Văn Dũng ghi chép thần tích, sắc phong, điều ước, bài thuốc men rượu và minh thệ; cùng hệ thống di tích vật chất gồm 03 ngôi chùa, 03 ngôi đền, hệ thống ngõ cổ, nhà cổ và ao làng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các chặng đường nghiên cứu về làng xã Việt Nam từ các quan sát mô tả của phương Tây thế kỷ XVII đến các chương trình hợp tác quốc tế hiện đại; đồng thời điểm kê chi tiết toàn bộ các nguồn tư liệu và công trình khảo sát liên quan trực tiếp đến làng Vân. Trên cơ sở phân tích thành tựu và hạn chế của các tác giả tiền nhiệm, tác giả khẳng định việc nghiên cứu trường hợp làng Vân thế kỷ XVII - XIX là khoảng trống khoa học cần được giải quyết bằng phương pháp liên ngành và hệ thống sử liệu đa dạng.
Chương 2: Kinh tế
Chương 2 tập trung phân tích ba lĩnh vực then chốt: tình hình ruộng đất, sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp.
Về ruộng đất, địa hình làng Vân phân bổ theo thế đất bãi cao ven sông Cầu và đồng trũng ngập nước. Đất đồng trũng chiếm tới 90% diện tích canh tác của làng, ngập nước liên tục từ tháng 5 đến tháng 9 âm lịch hằng năm do nước mưa từ vùng núi Tiên Sơn và thượng lưu sông Cầu đổ về; ranh giới các thửa ruộng trũng này phải đánh dấu bằng "vè" tre cắm xuống bùn sau khi nước rút do không thể đắp bờ.
Theo Địa bạ xã Yên Viên lập năm Gia Long thứ 4 (1805), tổng diện tích công tư điền thổ của làng là 391 mẫu 6 sào 2 thước (trong khi bản đồ năm 1916 của Pháp ghi 556 mẫu 8 sào 6 thước, phản ánh tình trạng ẩn lậu đất hoang và mặt nước thời phong kiến). Làng Vân hoàn toàn không có ruộng hạng 1; ruộng hạng 2 chỉ có 145 mẫu 8 sào (chủ yếu tập trung ở cánh đồng Trúc Ổ/Đít Vịt), còn lại là ruộng hạng 3. Cơ cấu diện tích gồm ruộng vụ thu (vụ mùa) chiếm 301 mẫu 6 thước 9 tấc; ruộng vụ hạ (vụ chiêm) chỉ có 34 mẫu 9 sào 14 thước 1 tấc; đất bãi có 28 mẫu 3 sào 12 thước 5 tấc.
| Loại hình đất đai theo Địa bạ năm 1805 |
Diện tích (mẫu - sào - thước - tấc) |
Tỷ lệ / Đặc điểm |
| Tổng diện tích điền thổ |
391 mẫu 6 sào 2 thước |
Cơ sở tính thuế |
| Ruộng vụ thu (vụ mùa) |
301 mẫu 0 sào 6 thước 9 tấc |
Ruộng trũng, ngập lụt, cấy 1 vụ |
| Ruộng vụ hạ (vụ chiêm) |
34 mẫu 9 sào 14 thước 1 tấc |
Ruộng cao, chất lượng tốt |
| Đất bãi ven sông |
28 mẫu 3 sào 12 thước 5 tấc |
Xếp hạng 3, đất bồi phù sa trồng dâu |
| Ruộng công (công điền) |
2 mẫu 8 sào 1 thước |
Chiếm 0,59% trong địa bạ |
| Ruộng tư (tư điền) |
336 mẫu 0 sào 6 thước 0 tấc |
Chiếm 99,1% tổng diện tích |
Sự đối chiếu giữa Địa bạ năm 1805 và văn bia Bản xã hậu thần bi ký năm Gia Long thứ 8 (1809) cho thấy chức dịch làng đã báo cáo thiếu diện tích ruộng công: văn bia ghi nhận thực tế làng có 9 mẫu 1 sào ruộng công (trong đó có 4 mẫu 7 sào tại xã Hữu Lân và 2 mẫu 4 sào chia cho 4 giáp), nâng tổng số ruộng công lên 11 mẫu 9 sào 1 thước. Quá trình tư hữu hóa diễn ra mạnh mẽ: tư điền chiếm 99,1%. Toàn làng có 36 chủ sở hữu tư điền, bình quân 9 mẫu 8 thước 3 tấc/chủ ruộng; quy mô thửa ruộng từ 5 đến 7 mẫu chiếm tỷ lệ cao nhất (34,6% với 17/49 thửa). Ba địa chủ lớn nhất làng là Diêm Khắc Tốt (25 mẫu 2 sào 1 thước), Nguyễn Duy Dương (16 mẫu 5 sào 9 thước) và Xã trưởng Đỗ Danh Hài (16 mẫu 3 sào 1 thước). Quyền sở hữu ruộng đất của chức dịch rất phân hóa: trong 37 chức dịch đại diện năm 1809, chỉ có 3 người có ruộng (chiếm 8,1%), nhiều chức sắc như Xã trưởng Nguyễn Công Dung hay Thôn trưởng Nguyễn Đăng Hiệp không có ruộng. Hiện tượng phụ canh và xâm canh diễn ra phổ biến: có 7 chủ ruộng thuộc 4 xã lân cận (Thần Chúc, Viêm Xá, Ngô Xá, Thổ Hà) phụ canh 33 mẫu 6 sào 12 thước tại cánh đồng Trúc Ổ; ngược lại, 15 cư dân làng Vân đi xâm canh tại xã Tiên Lát và Thần Chúc, trong đó 34/49 trường hợp xâm canh là người không có ruộng tại làng Vân.
Ruộng Tam bảo ghi nhận qua văn bia đạt 46 mẫu 3 sào 5 thước (khởi đầu từ bia năm Cảnh Trị thứ 5 - 1667 khi Nguyễn Phúc Hoàng cúng 5 mẫu). Ruộng giáp có 8 văn bia ghi chép với tổng diện tích 4 mẫu, xuất hiện từ năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754).
Nông nghiệp trồng trọt chịu rủi ro thiên tai lớn, vụ mùa thường xuyên thất thu; người dân làng Vân duy trì ruộng để giữ sự ổn định theo tư duy "dĩ nông vi bản" và lấy phụ phẩm phục vụ chăn nuôi lợn nái, đồng thời thuê nhân công ngoài làng cấy hái. Kinh tế phụ gồm đánh bắt thủy sản trên sông Cầu, trồng dâu nuôi tằm trên 28 mẫu đất bãi (các bãi Bãi Cát, Âm Hồn, Cầu Nghè, Đuôi Hồ) và chăn nuôi lợn nái tận dụng bã rượu để bán lợn giống tại các chợ vùng.
Thủ công nghiệp trọng tâm là nghề nấu rượu. Truyền thuyết dân gian suy tôn bà Nghi Địch làm tổ nghề (ngày giỗ Thánh sư mùng 7 tháng Giêng cúng gà mái). Năm Chính Hòa thứ 24 (1703), làng tiến rượu vào triều và được vua Lê Hy Tông ban khen bốn chữ "Vân hương mỹ tửu". Tài liệu Yên Viên xã tục lệ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) ghi chép bài thuốc làm men rượu gồm 9 vị thuốc bắc; điều tra thực địa ghi nhận các biến thể bài thuốc men gồm 9, 13, 15 hoặc 24 vị thuốc bắc (gồm Mã Tiền, Đương Quy, Quế Chi, Thảo Quả, Ngũ Vị...). Quy trình sử dụng gạo tẻ xay bột trộn thuốc bắc làm men bánh, ủ nóng 12 tiếng, lên men cơm từ 7 đến 12 ngày. Dụng cụ gồm nồi đồng, nắp phẫn đậy kín, chậu sành Thổ Hà làm bể ngưng tụ nước bên trên ("thủy thượng"), dẫn rượu bằng ống nứa vào chum vò sành Thổ Hà. Mỗi mẻ nấu từ 21 đến 23 kg gạo cho ra 15 lít rượu; nồng độ rượu được kiểm tra bằng cách hút rượu vào ống nứa rồi nhỏ vào bát nước để quan sát tăm rượu.
Để giữ bí quyết kỹ thuật, làng duy trì tục thề cấm truyền nghề ("Minh thệ") tổ chức vào ngày xấu nhất của tháng Giêng hằng năm tại chùa Quảng Lâm (chùa Dộc) với sự tham gia bắt buộc của 4 cụ thượng đại diện 4 giáp, các chức sắc hương dịch và đại diện 12 dòng họ; lễ vật gồm gà trống trắng (bạch kê), bình rượu tăm, trầu nước và cỗ mặn. Phụ nữ làng Vân hầu như không lấy chồng ngoài làng để tránh lộ bí quyết. Nguồn nước nấu rượu lấy từ hệ thống ao làng được thả bèo hoặc rau rút nhằm thanh lọc nước; cuối thế kỷ XIX toàn làng có 3 ao công (ao chùa đào năm 1651, ao đền năm 1809 và ao do bà Nguyễn Thị Hợp cúng năm 1891) cùng 12 ao gia đình phục vụ các xóm.
| Phân bố ao làng cuối thế kỷ XIX |
Tên các ao cụ thể theo từng xóm |
| Xóm Thượng |
Ao Hàng, Ao Lũy, Ao cụ Mân, Ao chùa |
| Xóm Trung |
Ao cụ Tư, Ao cụ Sẻ, Ao cụ Đĩnh |
| Xóm Giữa |
Ao bà Lý Hạng, Ao cụ lang Tương, Ao nhà ông Quất |
| Xóm Đông |
Ao Đền, Ao Phó Trai, Ao nhà bà Đệ |
Thương nghiệp phát triển nhờ vị thế ngã ba giao thông thủy bộ. Chợ Tam Bảo lập năm Khánh Đức thứ 3 (1651), sau phát triển thành chợ Vân ven sông Cầu, kết nối mạng lưới chợ vùng (chợ Đống Gạo, Thổ Hà, Nhẫm Nghiên). Làng nhập nguyên liệu gạo từ Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh qua hệ thống thuyền buôn đường sông và xuất bán rượu cùng lợn giống đi khắp các trấn đồng bằng Bắc Bộ.
Chương 3: Xã hội
Chương 3 tái hiện cấu trúc tổ chức và phân tầng xã hội của làng Vân dưới tác động kép của một lỵ sở hành chính và một làng nghề tiểu thủ công nghiệp.
Về tổ chức quản lý, từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, xã Yên Viên là trung tâm huyện lỵ của huyện Yên Việt (Việt Yên) và từng là lỵ sở của phân phủ Thiên Phúc (giai đoạn 1832 - 1852). Bộ máy quản trị làng xã vừa vận hành theo quy chuẩn pháp luật nhà nước (với Xã trưởng, Thôn trưởng, Khán thủ, Sắc mục, Thủ khoán), vừa chịu sự chi phối của các tập tục nội bộ.
Về kết cấu cư dân, làng có sự phân hóa phức tạp giữa địa chủ sở hữu nhiều ruộng đất, tầng lớp chức sắc khoa bảng, các hộ chuyên canh thủ công nghiệp - thương nghiệp và bộ phận dân đinh không có tư điền phải làm thuê hoặc xâm canh. Địa bàn cư trú chia thành 4 xóm truyền thống: xóm Giữa (hình thành sớm nhất), xóm Trong, xóm Thượng và xóm Đông.
Thiết chế tập hợp cư dân dựa trên hệ thống 4 giáp: giáp Trung, giáp Giữa, giáp Đông và giáp Thượng. Các giáp sở hữu ruộng đất riêng, quản lý việc phân công sưu dịch, phụng tế Hậu thần, Hậu giáp và luân phiên cử người đảm nhiệm chức dịch Đương cai trong các kỳ tế tự. Bên cạnh giáp, làng tồn tại các tổ chức phường hội nghề nghiệp, Hội hưng công xây dựng công trình tín ngưỡng và Hội Tư văn quy tụ tầng lớp Nho học (thể hiện qua danh sách năm Tự Đức thứ 13 - 1860).
Quan hệ gia đình, dòng họ giữ vai trò hạt nhân trong việc bảo vệ sinh kế làng nghề. Làng Vân quy tụ 12 dòng họ cổ truyền. Thiết chế gia tộc gắn chặt với các quy ước nghiêm ngặt về hôn nhân nội hôn làng xã và trách nhiệm giữ gìn bí phương nấu men rượu qua nhiều thế hệ.
Chương 4: Văn hóa
Chương 4 khảo cứu diện mạo văn hóa vật thể và phi vật thể của làng Vân trong giai đoạn trung đại.
Về cảnh quan kiến trúc và điêu khắc, làng được che chắn bởi hình thế núi Phượng Hoàng, núi Con Voi, núi Quả Cảm và đoạn uốn khúc 8 km của sông Cầu tạo nên thế đất phong thủy tụ thủy ("hồi long cố tổ"). Không gian kiến trúc gồm hệ thống đường ngõ lát gạch cổ, bến nước ven sông, 03 ngôi chùa (tiêu biểu là chùa Diên Phúc khởi dựng quy mô lớn từ thế kỷ XVII và chùa Quảng Lâm/chùa Dộc) và 03 ngôi đền (nổi bật là đền Chính thờ thần thánh bản thổ). Hệ thống điêu khắc mỹ thuật thể hiện rõ qua hoa văn rồng mây, chạm khắc gỗ và bia đá thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn. Đặc biệt, mộc bản kinh Phật tại chùa Diên Phúc cùng các mộc bản khắc tên người làng Vân công đức tại chùa Bổ Đà phản ánh đời sống văn hóa tâm linh phát triển.
Về tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục, đạo Phật hòa quyện sâu sắc với tín ngưỡng dân gian bản địa qua tục bầu Hậu Phật, Hậu thần, Hậu giáp. Giáo dục khoa cử được duy trì thông qua hoạt động của Hội Tư văn và việc tôn vinh những người đỗ đạt trên văn bia. Văn học viết gồm các bài ký văn bia, thần tích, sắc phong và 04 tập sách Hán Nôm chép tay thế kỷ XIX; văn học dân gian phản ánh sinh động nghề nấu rượu và bản sắc địa phương qua các câu phương ngôn xứ Bắc. Các lễ tục tiêu biểu gồm lễ tế thần, lễ giỗ tổ nghề Nghi Địch mùng 7 tháng Giêng, hội vật cầu nước và nghi thức Minh thệ thề giữ bí quyết công nghệ rượu vào đầu xuân.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập một số đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử:
- Về nhận thức lịch sử: Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về kinh tế, xã hội và văn hóa của làng Vân (xã Yên Viên) trong khung thời gian thế kỷ XVII - XIX, góp phần làm sâu sắc thêm các nghiên cứu về làng xã cổ truyền Việt Nam.
- Về đặc trưng mô hình: Luận án chỉ ra tính chất hỗn dung đặc thù của làng Vân trong bối cảnh đồng bằng Bắc Bộ: làng vừa là một đơn vị kinh tế kết hợp nông nghiệp - thủ công nghiệp nấu rượu - thương nghiệp đường sông, vừa đồng thời giữ vai trò là lỵ sở của huyện Yên Việt và phân phủ Thiên Phúc, tạo nên một kết cấu xã hội và diện mạo văn hóa đa dạng, vượt ra khỏi khuôn mẫu của một làng thuần nông khép kín.
- Về tư liệu học: Luận án khai thác, khảo tả và phân tích khối tư liệu thực địa phong phú tại địa phương gồm 107 văn bia (phát hiện mới 02 văn bia), đối chiếu hệ thống địa bạ triều Nguyễn năm 1805 với tư liệu văn bia năm 1809 để chỉ ra sai số báo cáo của chức dịch làng xã; phát hiện và sử dụng 04 cuốn sách chữ Hán chép tay thế kỷ XIX lưu giữ tại tư gia về lệ làng, bài thuốc men rượu và văn bản minh thệ.
- Về thực tiễn: Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương tỉnh Bắc Giang; hỗ trợ việc hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa, quản lý thiết chế nông thôn và định hướng phát triển thương hiệu làng nghề truyền thống trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình: Do nguồn tư liệu thành văn trước thế kỷ XVII tại địa phương còn khan hiếm, một số vấn đề liên quan đến nguồn gốc khởi dựng làng và sự xuất hiện ban đầu của nghề nấu rượu buộc phải dựa vào truyền thuyết dân gian. Việc áp dụng phương pháp hồi cố từ các dữ liệu sau thế kỷ XIX tiềm ẩn nguy cơ suy diễn nếu thiếu tư liệu đối chứng độc lập. Bên cạnh đó, số liệu địa bạ năm 1805 chưa phản ánh trọn vẹn sự biến động dân số chi tiết qua từng giai đoạn lịch sử do hiện tượng ẩn lậu đinh điền.
Hướng nghiên cứu tiếp nối: Cần mở rộng nghiên cứu so sánh đồng đại giữa làng Vân với các làng nghề chuyên biệt khác ven lưu vực sông Cầu và vùng châu thổ Bắc Bộ (như Thổ Hà, Bát Tràng); đồng thời tiếp tục sưu tầm, dịch thuật toàn văn hệ thống mộc bản kinh Phật tại chùa Diên Phúc và chùa Bổ Đà để làm sáng tỏ sâu hơn các mối quan hệ giao lưu văn hóa - xã hội vùng Kinh Bắc thời trung - cận đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học, Văn hóa học và Việt Nam học khi tìm hiểu về mô hình làng nghề, cơ chế sở hữu ruộng đất thời Nguyễn và lịch sử địa phương xứ Bắc.
- Các nhà nghiên cứu Hán Nôm và văn bản học: phần khảo cứu 107 văn bia, thư tịch chép tay và địa bạ năm 1805 cung cấp nguồn cứ liệu nguyên gốc có giá trị xác thực cao.
- Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang: phục vụ công tác xếp hạng, bảo tồn di tích kiến trúc (đình, đền, chùa Diên Phúc), khôi phục lễ hội vật cầu nước, bảo vệ cảnh quan mặt nước ao làng và xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm rượu làng Vân.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu sở hữu ruộng đất của làng Vân theo Địa bạ năm 1805 có đặc điểm gì nổi bật?
Địa bạ xã Yên Viên lập năm 1805 ghi nhận tổng diện tích là 391 mẫu 6 sào 2 thước. Ruộng tư điền chiếm tỷ lệ áp đảo với 336 mẫu 6 thước (99,1%), trong khi ruộng công điền chỉ ghi 2 mẫu 8 sào 1 thước (0,59%). Làng không có ruộng hạng 1; ruộng hạng 2 có 145 mẫu 8 sào, còn lại là ruộng hạng 3. Toàn làng có 36 chủ sở hữu tư điền, diện tích tích tụ ruộng đất cá nhân cao nhất thuộc về Diêm Khắc Tốt (25 mẫu 2 sào 1 thước).
2. Điểm mâu thuẫn giữa số liệu ruộng công trong Địa bạ năm 1805 và văn bia năm 1809 là gì?
Địa bạ năm 1805 chỉ kê khai 2 mẫu 8 sào 1 thước ruộng công. Tuy nhiên, văn bia Bản xã hậu thần bi ký khắc năm Gia Long thứ 8 (1809) cho biết làng có thực tế 9 mẫu 1 sào ruộng công ở nhiều nơi (gồm 4 mẫu 7 sào tại xã Hữu Lân và 2 mẫu 4 sào cấp cho 4 giáp canh tác), nâng tổng diện tích ruộng công thực tế lên 11 mẫu 9 sào 1 thước. Điều này chứng minh chức dịch địa phương đã cố ý báo cáo thiếu diện tích ruộng công trong địa bạ nhà nước để tránh thuế và phục vụ chi dùng nội bộ làng xã.
3. Vì sao sản xuất nông nghiệp trồng lúa tại làng Vân thường xuyên bị bấp bênh?
Do đặc điểm địa hình lòng chảo ven sông Cầu, 90% diện tích đất nông nghiệp của làng Vân là ruộng trũng vụ thu (301 mẫu 6 thước 9 tấc). Hằng năm, từ tháng 5 đến tháng 9 âm lịch, nước lũ thượng nguồn sông Cầu và nước mưa từ các dãy núi xã Tiên Sơn đổ về làm cánh đồng ngập trắng, khiến vụ mùa hầu như mất trắng. Ruộng vụ chiêm canh tác thuận lợi chỉ có 34 mẫu 9 sào 14 thước 1 tấc, không đủ bảo đảm lương thực cho cư dân.
4. Kỹ thuật chế biến men rượu truyền thống của làng Vân được ghi nhận qua văn bản nào và gồm các nguyên liệu gì?
Kỹ thuật làm men được ghi chép trong tài liệu chữ Hán chép tay Yên Viên xã tục lệ lập năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) với bài thuốc gồm 9 vị thuốc bắc; khảo sát thực địa ghi nhận các bài thuốc gia truyền biến thể từ 9, 13, 15 đến 24 vị thuốc bắc (gồm Mã Tiền, Đương Quy, Quế Chi, Thảo Quả, Ngũ Vị...). Bột thuốc bắc được nghiền nhỏ trộn với bột gạo tẻ xay nhuyễn, nhào dẻo nắm thành viên bánh men và ủ nóng trên nia rải trấu trong 12 tiếng.
5. Làng Vân áp dụng biện pháp gì để bảo vệ độc quyền bí quyết nấu rượu?
Làng thực hiện thiết chế nghiêm ngặt gồm tục thề cấm truyền nghề ("Minh thệ") tổ chức định kỳ vào ngày xấu nhất của tháng Giêng tại chùa Quảng Lâm với sự tham gia của 4 cụ thượng 4 giáp, chức dịch và 12 dòng họ trước sự chứng giám của thần linh. Đồng thời, làng duy trì tục khép kín hôn nhân (phụ nữ làng Vân hầu như không lấy chồng ngoài làng), ngăn chặn triệt để nguy cơ truyền bí phương chế men và cất rượu ra các địa phương khác.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Ngô Văn Cường là công trình chuyên khảo lịch sử phục dựng bức tranh toàn diện về kinh tế, xã hội và văn hóa làng Vân từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX dựa trên nguồn tư liệu thực địa và thư tịch phong phú. Công trình đã làm sáng tỏ mô hình làng nghề thủ công ven sông kết hợp với vị thế lỵ sở hành chính cấp huyện, chỉ rõ mối liên hệ hữu cơ giữa địa bàn cư trú, phương thức mưu sinh phi nông nghiệp và các thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật có giá trị cho lịch sử làng xã Việt Nam truyền thống và công tác quản lý di sản nông thôn hiện nay.