mở đầu thời kỳ Bắc thuộc kéo dài 1117 năm, lịch sử gọi là thời Bắc thuộc (từ năm 179 TCN đến năm 938). Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc dưới ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc: Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường tên địa danh hành chính của cả nước và các bộ có những thay đổi và tên gọi khác nhau. Ninh Bình, theo sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép: “Đời Tần thuộc Tượng Quân. Đời Hán thuộc quận Giao Chỉ, từ đời Ngô, đời Tấn về sau thuộc châu Giao, cuối đời Lương là châu Trường Yên” [50, tr.
Trong chính sách cai trị của mình với nước ta ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và vùng xa trung tâm, hầu hết các triều đại phong kiến phương Bắc vẫn để cho các tù trưởng cũ giữ bộ lạc của họ, một số vùng của châu Trường Yên là vùng núi chủ yếu là đồng bào người Thổ (cách gọi người Mường sau này) là một trong những vùng đất như vậy. Sau khi họ Khúc khôi phục nền tự chủ, trải qua các triều đại phong kiến đầu tiên của Việt Nam từ Ngô, Đinh, Tiền Lê vẫn gọi là châu Trường Yên. “Đời Lý gọi là phủ Trường Yên, sau gọi lại là châu Đại Hoàng; đầu đời Trần là lộ Trường Yên, sau đổi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành trấn; năm Quang Thái thứ 10 (1398), đổi trấn Trường Yên thành trấn Thiên Quang. Thời thuộc Minh gọi là châu Trường Yên” [50, tr.
Thời Lê, dưới triều Lê Thái Tông (1433 - 1442) chia làm hai phủ Trường Yên và Thiên Quan. Trong đó phủ Thiên Quan lãnh 3 huyện, có Lạc Thổ (Lạc Sơn ngày nay) lệ vào Thanh Hoa (tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Đời Hồng Đức (1470 - 1498), Lê Thánh Tông cho nhập hai phủ Trường Yên và Thiên Quan vào Sơn Nam thừa tuyên. Thời nhà Mạc, gọi hai phủ Trường Yên và Thiên Quan là Thanh Hoa ngoại trấn.
Sau khi nhà Lê diệt nhà Mạc, lại đem hai phủ này lệ vào Thanh Hoa gọi là ngoại trấn. Bản triều, đầu đời Gia Long vẫn theo như thời Lê. Năm Gia Long thứ 5 (1806), đổi Thanh Hoa ngoại trấn làm đạo Thanh Bình, vẫn lệ thuộc vào Thanh Hoa. Năm 1821 đổi tên phủ Trường Yên làm phủ Yên Khánh, năm 1822 đổi tên đạo Thanh Bình làm đạo Ninh Bình, năm 1829 đổi làm trấn Ninh Bình [50 - tr.
Trong cuộc cải cách hành chính 1831 - 1832 dưới triều vua Minh Mệnh, trấn Ninh Bình thành tỉnh Ninh Bình. Tỉnh Ninh Bình dưới triều Nguyễn có 2 phủ gồm 7 huyện. Phủ Yên Khánh gồm 4 huyện (Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn và Kim Sơn); Phủ Thiên Quan gồm 3 huyện (Phụng Hóa, Yên Hóa và Lạc Thổ). Lạc Thổ đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836) đổi thành Lạc Yên, sau đổi làm Yên Lạc, ngày nay là huyện Lạc Sơn tỉnh Hoà Bình.
Ghi chép về huyện Lạc Yên sách Đại Nam nhất thống chí cũng ghi tương tự như trên: “Nguyên là đất phủ Trường Yên; đời Lê Quang Thuận đặt làm huyện Lạc Thổ, do phủ kiêm nhiếp, họ Quách là thổ tù nối đời quản trị; bản triều đầu đời Gia Long cũng theo như thế, năm Minh Mệnh thứ 17 đổi tên hiện nay, mới đặt lưu quan; năm Tự Đức thứ 9, bỏ tri huyện, do tri phủ kiêm nhiếp. Nay lãnh 4 tổng, 50 xã thôn” [50, tr. Sau khi đánh chiếm nước ta, thực dân Pháp lập ra các tỉnh mới trên cơ sở chia các tỉnh cũ thời phong kiến. Ngày 22 tháng 6 năm 1886 theo Nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ tỉnh Mường được thành lập là tách phần đất có người Mường cư trú từ các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Ninh Bình và Hà Nội.
Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Chợ Bờ (thuộc châu Đà Bắc). Tỉnh Mường lúc đó có 4 phủ là: Vàng An, Lương Sơn, Chợ Bờ và Lạc Sơn. Phủ Lạc Sơn bao gồm phần lớn diện tích đất đai của các huyện Tân Lạc, Lạc Thủy và Yên Thủy ngày nay, cũng là đơn vị hành chính lớn nhất của tỉnh Mường. Năm 1908, thực dân Pháp cắt chuyển một phần đất đai của phủ Lạc Sơn là Lạc Thủy cho tỉnh Hà Nam rồi đổi từ “phủ” thành “châu”.
Châu Lạc Sơn lúc này gồm 4 tổng: Lạc Thành, Lạc Đạo, Lạc Nghiệp, Lạc Thiện với 52 xã. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, huyện Lạc Sơn tiếp tục có một số thay đổi lớn về đơn vị hành chính. Sau khi đất nước độc lập, Nhà nước Việt Nam quyết định xóa bỏ một số cấp trung gian như phủ, châu, tổng gọi chung là huyện, hợp nhất các xã nhỏ thành xã lớn. Châu Lạc Sơn đổi thành huyện Lạc Sơn, từ 50 xã thành 10 xã mới gồm: Cộng Hòa, Tự Do, Liên Cộng, Dân Tiến, Đại Đồng, Kiến Thiết, Đoàn Kết, Quyết Thắng, Toàn Thắng và Thạch Bi.
Ngày 15/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 480/TTg, tách huyện Lạc Sơn thành hai huyện Lạc Sơn và Tân Lạc, đồng thời thị trấn Vụ Bản được thành lập, huyện Lạc Sơn lúc này gồm 28 xã, 1 thị trấn. Ngày 01/01/1991, xã Liên Hòa tách thành 2 xã mới: Bình Chân và Bình Cảng. Đến ngày 27/3/1999, xã Đa Phúc chuyển giao về huyện Yên Thủy và như vậy Lạc Sơn có 29 đơn vị hành chính, gồm các xã: Quý Hòa, Miền Đồi, Mỹ Thành, Tuân Đạo, Văn Nghĩa, Văn Sơn, Tân Lập, Nhân Nghĩa, Thượng Cốc, Phú Lương, Phúc Tuy, Xuất Hóa, Yên Phú, Bình Hẻm, Chí Đạo, Chí Thiện, Bình Cảng, Bình Chân, Định Cư, Hương Nhượng, Liên Vũ, Ngọc Sơn, Tự Do, Vũ Lâm, Tân Mỹ, Ân Nghĩa, Yên Nghiệp, Ngọc Lâu và thị trấn Vụ Bản [2, tr. Hiện nay, Theo Nghị quyết về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Hòa Bình số 803/NQ-UBTVQH14 ngày 17/12/2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2020, huyện Lạc Sơn có 24 đơn vị hành chính, gồm 23 xã: Ân Nghĩa, Chí Đạo, Bình Hẻm, Định Cư, Hương Nhượng, Mỹ Thành, Miền Đồi, Ngọc Lâu, Ngọc Sơn, Nhân Nghĩa, Quý Hòa, Quyết Thắng, Tân Lập, Tân Mỹ, Thượng Cốc, Tự Do, Tuân Đạo, Văn Nghĩa, Văn Sơn, Vũ Bình, Xuất Hóa, Yên Nghiệp, Yên Phú và 1 thị trấn là Vụ Bản.
Về phân cấp hành chính, trong khoảng thời gian từ năm 1886 kể từ khi tỉnh Mường được thành lập đến năm 1975, Lạc Sơn là một huyện của tỉnh Hòa Bình, từ năm 1975 đến năm 1991, là một huyện của tỉnh Hà Sơn Bình và từ năm 1991 đến nay nằm trong địa giới hành chính tỉnh Hòa Bình [2, tr. Các thành phần dân tộc Từ những bằng chứng của khảo cổ học chứng minh Lạc Sơn là một trong những nơi cư trú của người nguyên thủy. Các công cụ lao động ở Hang Trại (xã Tân Lập), di chỉ Mái đá Làng Vành (xã Yên Phú), thuộc nền văn hóa Hòa Bình. Những cư dân cư trú đầu tiên trên vùng đất này chính là người Việt Cổ.
Trải qua một quá trình hình thành và phát triển, người Việt cổ cũng đã bị phân hóa thành hai bộ phận là người Việt (Kinh) và người Mường. Khác với nhiều vùng đất khác ở tỉnh Hòa Bình, ở huyện Lạc Sơn cho đến cuối thế kỷ XIX vùng đất này chủ yếu là người Mường sinh sống. Sách Đồng Khánh địa dư chí có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ghi: “Trong huyện đều là người Thổ (Mường), tính quen mạnh tợn, giỏi bắn nỏ, thích săn bắn, không học chữ Nho… tính tình quê mùa chất phác” [71, tr. Do đặc điểm về địa hình, vị trí địa lý nên ban đầu con người sinh sống trên vùng đất này thưa thớt rồi sinh sôi này nở ngày một đông thêm.
Mãi về sau thì mới có sự tiếp nhận thêm các dòng người từ bốn phương tụ tập lại. Nhưng chủ yếu những người di cư đến vùng đất này chủ yếu là người Việt do chính sách của các triều đại phong kiến. Cho đến đầu thế kỷ XX thì mới có sự xuất hiện của nhiều tộc người khác nhau sinh sống ở huyện Lạc Sơn. Theo thống kê của năm 2019 thì ở huyện Lạc Sơn có 16 dân tộc cùng sinh sống như: Mường, Kinh, Dao, Thái, Tày, Nùng,.
Sự phân bố dân cư, dân tộc mang yếu tố xen kẽ, cao thấp khác nhau. Theo số liệu thống kê dân số, huyện Lạc Sơn tính đến ngày 31/10/ 2019 có 136.652 nhân khẩu, được phân bố theo các dân tộc trong bảng sau: Bảng 1. Thành phần các dân tộc huyện Lạc Sơn STT Dân tộc Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Ghi chú 1 Mường 124.5% 3 Các dân tộc khác 683 0.652 100% Nguồn: Chi cục Thông kê huyện Lạc Sơn tỉnh đến ngày 31/10/2019 Bảng thống kê trên cho thấy, tại Lạc Sơn có nhiều dân tộc sinh sống trong đó tập trung nhiều nhất là dân tộc Mường và Kinh thuộc ngữ hệ Việt - Mường. Dân tộc Mường Địa bàn cư trú chủ yếu của người Mường là ở những thung lũng thấp, tương đối bằng phẳng, có nhiều đồng ruộng.
Hiện nay Mường là tộc danh chính thức, được nhà nước công nhận và sử dụng trong các văn bản pháp quy. Tuy nhiên, trong đời sống và văn học dân gian, người Mường tự gọi mình là Mol, Mual, Mul hay mon… tùy cách gọi của từng địa phương. Mol, Mual, Mul, Mon đều có nghĩa là Người. Trước kia, Mường là một từ chỉ khu vực hành chính tương đương một châu, huyện hay một xã lớn như Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động.
Ở Hòa Bình người Mường là chủ nhân lâu đời nhất của mảnh đất này. Ngay từ thời xa xưa, người Mường đã cư trú trên khắp các huyện thị trên địa bàn tỉnh, tuy mức độ phân bố không đồng đều cả về mật độ và số lượng. Hòa Bình là khu vực đặc điểm về địa hình phù hợp với đặc điểm cư trú chủ yếu của người Mường mà nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định. Đó là vùng núi đá vôi thấp xen kẽ với những khối đá phiến, giữa các dãy núi có những mặt bằng thung lũng rộng, những đồi lượn sóng thấp.
Trong quá trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân hóa thành hai tộc người Mường và Việt từ nguồn gốc chung là người Lạc Việt sau hơn 1000 năm thời kỳ Bắc thuộc, thì tộc người Mường không có thay đổi nhiều về địa bàn cư trú của mình.