CHƯƠNG 1-TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử và một số khái niệm liên quan bệnh sốt xuất huyết Dengue 1. Lịch sử về bệnh sốt xuất huyết Dengue Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây ra đã được biết đến từ rất lâu. Ở Philipine, năm 1953 đã xảy ra vụ dịch SXHD, đến năm 1956 có thêm một trận dịch và đã phát hiện thêm týp D3 và D4.
Một vụ dịch tương tự xảy ra ở Thái Lan vào năm 1958, nguyên nhân gây bệnh đã được xác định là vi rút Dengue. Từ đó dịch ngày càng lan rộng ra các nước Đông Nam Á, như Việt Nam năm 1958-1960, Singapore, Lào, Campuchia và các nước Tây Thái Bình Dương trong những năm sau. Theo Tổ chức Y tế thế giới, trong vòng 30 năm trở lại đây, bệnh SXHD đang trở nên trầm trọng. Số trường hợp mắc SXHD trung bình hàng năm lên tới hàng triệu người, trong đó có hàng chục ngàn ca tử vong do SXHD mỗi năm (8, 9).
Khái niệm chung về bệnh sốt xuất huyết Dengue Bệnh SXHD là bệnh nhiễm vi rút Dengue (DEN) cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn. Đây là bệnh dịch lưu hành địa phương ở Việt Nam, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và ven biển miền Trung. Biểu hiện lâm sàng của SXHD là sốt cao đột ngột, liên tục từ 2-7 ngày và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau: biểu hiện xuất huyết, chấm xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam hoặc nhức đầu chán ăn, buồn nôn hoặc da xung huyết, phát ban hoặc đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt. Biểu hiện của SXHD có dấu hiệu cảnh báo bao gồm các triệu chứng lâm sàng của SXHD kèm theo các dấu hiệu cảnh báo như: Vật vã, li bì hoặc đau bụng vùng gan, gan to hoặc nôn nhiều hoặc xuất huyết niêm mạc hoặc tiểu ít.
Đối với SXHD nặng khi có một trong các biểu hiện sau: thoát huyết tương nặng dẫn đến sốc giảm thể tích, xuất huyết nặng hoặc suy đa phủ tạng (10). Tác nhân gây bệnh do vi rút Dengue thuộc nhóm Flavivirus, họ Flaviviridae với 4 tuýp huyết thanh DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4 (11). Thời kỳ ủ bệnh từ 3- 14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày. Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt là giai đoạn trong máu có nhiều vi rút.
Muỗi bị nhiễm vi 5 rút thường sau 8-12 ngày sau hút máu có thể truyền bệnh và truyền bệnh suốt đời (12). Véc tơ truyền bệnh: Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà do muỗi đốt người bệnh có mang vi rút sau đó truyền vi rút sang người lành qua vết đốt. Ở Việt Nam, hai loài muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti (muỗi vằn) và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti. Aedes aegypti có nhiều ở thành phố, thị xã, sống trong nhà và ngoài trời, ưa đốt người vào ban ngày (cao điểm là lúc sáng sớm và chiều tối) và đốt nhiều lần đến khi no.
Sau khi đốt muỗi Aedes thường đậu ở nơi tối, ở độ cao 2m trở xuống và có thể bay xa 400m. Muỗi trưởng thành sinh sản ở những dụng cụ chứa nước (DCCN) nhân tạo gần nhà (13). Trứng của loài muỗi này tồn tại khá lâu, chịu đựng được nhiều tháng trong mùa khô, các ổ chứa bọ gậy, lăng quăng thường là ổ chứa tự nhiên như hốc cây, thân tre, vỏ ốc, kẽ bẹ lá; ổ chứa nhân tạo như lu, hồ, thùng phuy, chai, lọ, chân chén chống kiến, lọ hoa, những vật dụng phế thải xung quanh nhà có chứa nước (13). Phòng bệnh Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh, vì vậy diệt véc tơ, đặc biệt là diệt lăng quăng (bọ gậy) là biện pháp hiệu quả trong phòng, chống SXHD.
Cục Y tế dự phòng đưa ra các khuyến cáo phòng bệnh. Để loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy cần đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng; thả cá hoặc mesocyclops vào các dụng cụ chứa nước lớn (bể, giếng, chum, vại.) để diệt lăng quăng/bọ gậy; thau rửa các dụng cụ chức nước vừa và nhỏ (lu, khạp…) hàng tuần; thu gom, hủy các vật dụng phế thải trong nhà và xung quanh nhà như chai, lọ, mảnh chai, mảnh lu vỡ, ống bơ, vỏ dừa, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá., dọn vệ sinh môi trường, lật úp các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến; bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn/tủ đựng chén bát, thay nước bình hoa/bình bông. Để phòng chống muỗi đốt cần mặc quần áo dài tay; ngủ trong màn/mùng kể cả ban ngà; dùng bình xịt diệt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện diệt muỗi; dùng rèm che, màn tẩm hóa chất diệt muỗi. Cần tích cực phối hợp với chính quyền và ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch.
6 Những việc này phải được thực hiện thường xuyên, với sự tham gia nhiệt tình của từng hộ gia đình và của cả cộng đồng (14). Chương trình phòng, chống SXHD tại Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng trong những năm gần đây đã giúp tình hình dịch bệnh SXHD được khống chế phần nào. Các biện pháp phòng bệnh được Bộ Y tế, ngành Y tế Hà Tĩnh thực hiện triệt để như: triển khai các hoạt động hưởng ứng ngày ASEAN phòng chống SXHD, truyền thông đại chúng trên website của Cục Y tế dự phòng, Sở Y tế, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Tĩnh, đài truyền hình, truyền thanh, truyền thông trực tiếp; Giám sát dịch tễ, véc tơ, bệnh nhân SXHD; Điều tra ổ dịch sớm, tổ chức xử lý ổ dịch kịp thời; Phun hóa chất diệt muỗi chủ động diện rộng tại các khu vực có nguy cơ bùng dịch cao; Tăng cường sự tham gia của các đoàn thể, chính quyền địa phương, phát động chiến dịch diệt lăng quăng, bọ gậy (14, 15). Tình hình bệnh SXHD trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình mắc SXHD trên thế giới Trên thế giới, hiện nay SXHD được coi là bệnh truyền nhiễm tái nổi, trong vòng 50 năm qua SXHD tăng gấp 30 lần và hiện nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại (16). Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có 50 triệu người nhiễm Dengue hàng năm và hơn 70% số này sống ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (17). Theo WHO, khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á hiện chiếm 75% gánh nặng SXHD toàn cầu. Số ca SXHD được báo cáo liên tục tăng lên trong thế kỷ qua.907 ca SXHD và trong đó có 1.073 ca tử vong trong khu vực được báo cáo vào năm 2010 (18).
Ở các nước Đông Nam Á thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương, gánh nặng lớn nhất của SXHD đến từ Campuchia, Lào, Philippine, Singapore và Việt Nam. Số ca mắc bệnh tăng lên trong mỗi quốc gia trong mười năm qua và cả bốn tuýp huyết thanh đang lưu hành trong khu vực này. Các vùng nguy cơ mắc SXHD 2019 (19) Ngày 13/10/2011 Tổ chức Y tế Thế giới WHO và WPRO đã kêu gọi các nước cam kết và phối hợp hành động chống lại SXHD, để đạt được kết quả cao trong công tác phòng chống SXHD (20). Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2015, SXHD gia tăng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Tính đến tháng 9/2015, tại Malaysia, đã ghi nhận 85.488 trường hợp mắc, tử vong là 234 trường hợp, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2014; tại Philippines, ghi nhận 65.421 trường hợp mắc SXHD, tử vong 193 trường hợp, tăng 10,2% so với cùng kỳ; tại Singapore, ghi nhận 7.136 trường hợp mắc SXHD; tại Campuchia, ghi nhận 7.799 trường hợp mắc SXHD, tử vong 16 trường hợp, số mắc tăng 350% so với cùng kỳ năm 2014 (21). Theo WHO, bệnh SXHD đang diễn biến phức tạp, gia tăng về phạm vi và số lượng người mắc bệnh qua từng năm tại nhiều quốc gia. Hiện bệnh lưu hành tại 128 quốc gia, hơn 3,9 tỷ người sống trong vùng nguy cơ bị mắc bệnh, hàng năm có khoảng 390 triệu người nhiễm bệnh. Tại khu vực Đông Nam Á, có tới 7 trong số 10 nước bị SXHD nặng nề và bệnh luôn là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp nhập viện và tử vong ở trẻ em.
Từ năm 1980 trở lại đây số mắc SXHD đã tăng lên 8 gần gấp 5 lần so với 30 năm về trước.000 dân tại nhiều nước khu vực châu Mỹ và Đông Nam Á ở mức rất cao như: Peru (195), Nicaragua (199), Argentina (121), Brazil (171), Ecuador (49), Malaysia (141), Philippines (33), Lào (30), Singapore (20) (22). Tính đến 13/8/2020, nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới vẫn tiếp tục ghi nhận số mắc và tử vong cao: Malaysia 66.199 mắc, 109 trường hợp tử vong; Philippin với 55.160 mắc, 200 tử vong; Singapore 21.834 mắc; Lào với 4.155 mắc, 9 tử vong; Campuchia với 4.450 mắc, 5 tử vong; Riêng khu vực Châu Mỹ La tinh đã ghi nhận tổng số 1.477 mắc, 725 tử vong, trong đó cao nhất tại Bazil (1.245 mắc, 465 tử vong), Paraway (220.234 mắc, 73 tử vong) (23). Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam Tại Việt Nam, bệnh SXHD đã giảm trong những năm gần đây, có tỷ lệ mắc trên/100.000 dân là 56,7 ca, thấp hơn so với một số nước và tỷ lệ tử vong (0,029) thấp nhất so với các quốc gia trong khu vực. Bệnh lưu hành ở hầu hết các tỉnh, thành phố, nhưng tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Nam và miền Trung.
Giai đoạn từ 1980 - 1999, trung bình mỗi năm ghi nhận 100.000 trường hợp mắc, 300 - 400 trường hợp tử vong, tỷ lệ tử vong trung bình từ 0,08-0,09%. Trong đó có năm bùng phát với số mắc trên 300.000 trường hợp (năm 1987), trên 1.500 trường hợp tử vong (năm 1983, 1987). Giai đoạn từ 2000 - 2015 (có Chương trình mục tiêu quốc gia) tình hình dịch đã giảm, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 50.000 trường hợp mắc, gần 100 trường hợp tử vong. Trong năm 2017 ghi nhận 183,85 trường hợp mắc/100.497 trường hợp nhập viện), có 25 trường hợp tử vong.
So với cùng kỳ 2016 số trường hợp nhập viện tăng 9,7%. Song số mắc vẫn tập trung chủ yếu tại khu vực miền Nam (64,4%) và miền Trung (19,9%) so với tổng số trường hợp mắc bệnh của cả nước, do đây là khu vực bệnh lưu hành trong nhiều năm qua. Khu vực miền Bắc có tỷ lệ mắc thấp hơn (12,4%), tuy nhiên gần đây có gia tăng số trường hợp mắc tại Hà Nội (số mắc tuyệt đối Hà Nội đứng thứ 3 cả nước, số mắc trên 100.000 dân đứng thứ 19) (22). Năm 2018 số ca mắc/100.