Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư 1. Nguyên tắc - Đánh giá chăm sóc giảm nhẹ toàn diện nên được thực hiện tại thời điểm chẩn đoán ung thư. - Chăm sóc giảm nhẹ không phải là một điều trị thay thế cho điều trị ung thư.
Thay vào đó, chăm sóc giảm nhẹ và điều trị ung thư nên được lồng ghép và cung cấp đồng thời. - Chăm sóc giảm nhẹ có thể cải thiện sự tuân thủ và hoàn thiện điều trị ung thư bằng cách làm giảm các tác dụng không mong muốn của điều trị và cung cấp các hỗ trợ tâm lý xã hội cần thiết. - Điều trị ung thư có thể làm giảm các triệu chứng như đau và khó thở. - Nếu điều trị ung thư không còn có lợi, hoặc có hại hơn là có lợi, hoặc người bệnh không còn mong muốn, chăm sóc giảm nhẹ có thể trở thành hình thức chăm sóc có lợi duy nhất.
- Khi người bệnh về nhà từ bệnh viện ở giai đoạn cuối đời, nên sắp xếp để người bệnh được chăm sóc giảm nhẹ trong cộng đồng. - Suy mòn thường gặp ở người bệnh ung thư giai đoạn cuối do trạng thái dị hóa. Do đó dinh dưỡng nhân tạo thường không mang lại lợi ích và có thể làm trầm trọng thêm sự đau khổ do làm tăng tình trạng báng bụng, tràn dịch màng phổi, phù ngoại biên hoặc tăng tiết dịch đường hô hấp. Sơ đồ chăm sóc giảm nhẹ trong suốt diễn tiến bệnh Thời điểm chăm sóc giảm nhẹ nên được cung cấp: Từ khi được chẩn đoán, đánh giá chăm sóc giảm nhẹ ban đầu cần được thực hiện ngay từ giai đoạn sớm của bệnh và nếu cần, can thiệp nên diễn ra vào thời điểm chẩn đoán hoặc sau đó càng sớm càng tốt.
Xuyên suốt quá trình bị bệnh 1. Chăm sóc giảm nhẹ và hóa trị ung thư. - Tác dụng không mong muốn thường gặp của hóa trị độc tế bào bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy, táo bón, viêm niêm mạc (đau miệng), mệt mỏi và bệnh thần kinh ngoại biên. Nên được xử lý như trong Phần III và Phần IV.
- Liệu pháp miễn dịch với các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch có thể dẫn đến các phản ứng tự miễn cấp tính hoặc mạn tính, có thể xảy ra vài tuần hoặc vài tháng sau khi điều trị. Các hội chứng cụ thể bao gồm: + Các tác dụng không mong muốn liên quan đến miễn dịch phổ biến nhất là viêm phổi mô kẽ (gây khó thở và đôi khi suy hô hấp đe dọa tính mạng), viêm đại tràng (gây đau bụng và tiêu chảy) và viêm gan. + Các tác dụng ngoại ý liên quan đến miễn dịch khác có thể bao gồm: bệnh lý nội tiết, viêm cơ tim, viêm thận mô kẽ, thiếu máu/giảm bạch cầu trung 7 tính/giảm tiểu cầu, viêm khớp, viêm da, bệnh dây thần kinh và viêm màng bồ đào. + Các tác dụng không mong muốn liên quan đến miễn dịch thường đáp ứng nhanh với liệu pháp corticoid.
Tuy nhiên, liệu pháp corticoid cũng làm giảm hoặc phá hủy tác dụng chống ung thư của liệu pháp ức chế điểm kiểm soát miễn dịch. Do đó, thường phải đưa ra các quyết định khó khăn để cân bằng giữa sự thoải mái và an toàn ngay lập tức của người bệnh so với các lợi ích của phản ứng miễn dịch mạnh chống ung thư. Chăm sóc giảm nhẹ và xạ trị. - Xạ trị có thể vừa làm giảm và vừa gây ra một loạt các triệu chứng.
- Giảm triệu chứng: Xạ trị là phương thức điều trị giảm nhẹ rất quan trọng vì hiệu quả trong điều trị đau do di căn xương, khó thở do tắc nghẽn đường thở do ung thư và các triệu chứng khác liên quan đến ung thư. - Gây ra triệu chứng: Xạ trị có thể gây viêm ở bất kỳ mô nào và do đó dẫn đến viêm da có triệu chứng, viêm phổi mô kẽ, viêm thực quản, viêm đại tràng, viêm trựctràng hoặc viêm bàng quang. + Corticoid tại chỗ hoặc toàn thân đôi khi làm giảm đau và các triệu chứng khác do viêm do xạ trị. + Điều trị các triệu chứng khác có thể được áp dụng như trong Phần III và Phần IV.
Chăm sóc giảm nhẹ và phẫu thuật ung thư. Các phẫu thuật giảm nhẹ bao gồm: - Tạo hậu môn nhân tạo từ đại tràng hoặc hồi tràng do tắc đại tràng do ung thư. - Cắt đoạn ruột non do tắc ruột non do ung thư. - Mở dạ dày, hỗng tràng ra da do tắc nghẽn đường ra dạ dày do ung thư.
- Đặt stent môn vị cho tắc nghẽn đường ra dạ dày do ung thư. 8 - Đặt stent thực quản cho tắc nghẽn do ung thư. - Đặt ống thông mở dạ dày ra da để dẫn lưu. - Đặt ống thông mở dạ dày hoặc hỗng tràng ra da để cho ăn.
- Đoạn chi cho sarcoma xương gây đau. - Cắt bỏ các khối u gây ra dị dạng. - Đặt ống dẫn lưu màng phổi tạo hầm dưới da cho tràn dịch màng phổi có triệu chứng tái phát. - Đặt ống dẫn lưu màng bụng tạo hầm dưới da cho cổ trướng căng tái phát gây đau hoặc khó thở.
- Giải áp tủy sống trong chèn ép tủy sống hoặc hội chứng chèn ép chùm đuôi ngựa. - Hủy đám rối tạng trong mổ cho các khối u ung thư tầng trên ổ bụng không thể cắt bỏ gây đau. Trung tâm Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện K. Tiền thân là khoa Chống đau được thành lập tháng 6 năm 2000.
Đây là một khoa mới, một chuyên ngành y tế mới xuất hiện trong hệ thống y tế Việt Nam và trong hệ thống Chăm sóc và điều trị ung thư nói chung. Nhiệm vụ trọng tâm, cũng là những điều đã làm được: góp phần chăm sóc và điều trị toàn diện hơn cho các bệnh nhân ung thư, thể hiện rõ chính sách điều trị toàn diện của Bộ Y tế, thể hiện rõ tính nhân văn trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, văn minh của xã hội. Trung tâm đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao: Chăm sóc và Điều trị bệnh nhân; Nghiên cứu khoa học; Giảng dạy và Chỉ đạo tuyến; Hợp tác trong nước và quốc tế và các nhiệm vụ khác. Trung tâm tiếp tục định hướng phát triển hơn nữa về mọi mặt nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của xã hội, bệnh nhân.
phát huy vai trò tuyến cuối trong Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư trên toàn quốc. Số lượng bệnh nhân được khám và nhận điều trị tăng 9 dần qua các năm. Hiện tại mỗi năm khám và thu dung điều trị từ 3000 đến 5000 người với hàng vạn lượt khám và điều trị. Điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ .1 Đánh giá điều dưỡng trong chăm sóc giảm nhẹ.
Mỗi người bệnh có nhu cầu cần được chăm sóc giảm nhẹ nên được đánh giá bởi một điều dưỡng trong lần nhận bệnh nội trú hoặc ngoại trú đầu tiên. Các thành phần chính của đánh giá điều dưỡng chăm sóc giảm nhẹ gồm: - Xem xét tiền sử y khoa từ bệnh án và người bệnh, bao gồm các bệnh chính và các điều trị gần đây. - Đánh giá chức năng bằng cách sử dụng các thang đánh giá mức độ hoạt động chức năng Thang đo kết quả chăm sóc giảm nhẹ dành cho người Việt Nam (VietPOS) hoặc ECOG. - Đánh giá các triệu chứng thể chất và tâm lý.
- Các loại thuốc hiện tại, bao gồm cả liều lượng và khoảng thời gian dùng. - Dị ứng thuốc. - Khám thể chất. - Nhận định các vấn đề của người bệnh.
- Lập kế hoạch chăm sóc điều dưỡng. Biện hộ/lên tiếng vì lợi ích của người bệnh (health advocacy). Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo người bệnh nhận được sự chăm sóc tốt nhất có thể bằng cách hỗ trợ các bác sĩ thấu hiểu nhu cầu của người bệnh và hỗ trợ người bệnh tiếp cận với sự chăm sóc tốt nhất. Người điều dưỡng có cơ hội tiếp xúc, chia sẻ với người bệnh và họ có thể truyền đạt cho bác sĩ nhiều thông tin quan trọng về tiền sử y khoa, các giá trị sống, hiểu biết về bệnh tật, hy vọng và nỗi sợ hãi của người bệnh.
- Nhiều người bệnh và gia đình không quen thuộc với hệ thống y tế và/hoặc không biết cách tìm kiếm hoặc yêu cầu sự chăm sóc mà họ cần, điều 10 dưỡng có thể cung cấp, tư vấn hiệu quả để giúp người bệnh lựa chọn loại hình dịch vụ chăm sóc. - Trong các bệnh viện có dịch vụ tư vấn hội chẩn chăm sóc giảm nhẹ, các điều dưỡng có thể xác định người bệnh nào trong phòng bệnh của họ sẽ được hưởng lợi từ dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ. - Các điều dưỡng có vai trò quan trọng trong việc thông báo cho bác sĩ có trách nhiệm và nhóm làm việc khi triệu chứng (thể chất, tâm lý, xã hội, tâm linh) không được kiểm soát tốt. Liều cứu hộ morphin Khi bác sĩ kê đơn thuốc opioid như morphin với liều cố định (theo giờ cố định) để giảm đau hoặc khó thở, trong hầu hết các trường hợp bác sĩ cũng kê đơn liều cứu hộ cho cơn đau hoặc khó thở đột xuất.
Trong bệnh viện, điều dưỡng có vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc: - Nhận định kịp thời thời điểm khi nào người bệnh cần một liều cứu hộ morphin do đau hoặc khó thở và thông báo cho bác sĩ. - Cung cấp liều cứu hộ thwo chỉ định của bác sĩ và đánh giá hiệu quả giảm đau, giảm khó thở cũng như tác dụng không mong muốn nếu có sau mỗi liều cứu hộ. - Ghi nhận lại từng liều cứu hộ để bác sĩ có thể biết cần bao nhiêu liều cứu hộ mỗi ngày. - Thảo luận với bác sĩ về kế hoạch quản lý đâu trên từng người bệnh cụ thể.
Chăm sóc vết thương Điều dưỡng thường giữ trách nhiệm chính trong việc chăm sóc vết thương kể cả lành tính hoặc ác tính như thay băng, giảm áp lực lên các nền xương cứng, kiểm soát mùi hôi và trao đổi tình trạng vết thương với bác sĩ. Hỗ trợ cảm xúc cho người bệnh và người nhà. 11 Điều dưỡng có vai trò quan trọng trong việc động viên, hỗ trợ cảm xúc cho những người bệnh đang sợ hãi, các thành viên gia đình của họ và giúp họ hiểu về tình trạng bệnh. Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người chăm sóc.
- Điều dưỡng cũng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh và/hoặc người chăm sóc của họ để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của người bệnh, cả trong khi ở bệnh viện và đặc biệt là tại nhà.