Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái quát về giai đoạn điều tra và hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự Khi tội phạm xảy ra, việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn và do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất vụ án, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án được gọi là tố tụng hình sự. Theo định nghĩa của giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội thì: "Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ thể tố tụng hình sự hướng tới việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con người" [5].
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định. Như vậy, giai đoạn tố tụng hình sự là: Bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công minh, khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân [5]. Lê Cảm, BLTTHS nước ta chia quá trình giải quyết 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ án hình sự thành năm giai đoạn tố tụng theo thứ tự sau: giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án [4]. Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau; tương ứng với mỗi giai đoạn là chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền do pháp luật quy định.
Luận văn này không có điều kiện xem xét tất cả các giai đoạn của TTHS, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự. Vì vậy, sau đây chúng tôi sẽ trình bày khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự và hoạt động điều tra trong TTHS. Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng hình sự, được BLTTHS quy định trong 6 chương, từ chương VIII đến chương XIII.
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT kết thúc điều tra chuyển toàn bộ hồ sơ và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố. Trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra là khi cơ quan tiến hành tố tụng quyết định đình chỉ điều tra. Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được Luật TTHS quy định cụ thể. Thời hạn điều tra tối đa đối với tội ít nghiêm trọng không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20 tháng kể từ khi cơ quan tiến hành tố tụng quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là cơ sở phục vụ cho việc truy tố và xét xử; Đó là: chứng minh tội phạm và người thực hiện tội 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội… Tất cả các hoạt động tố tụng do chủ thể của giai đoạn điều tra thực hiện đều phải tuân thủ đúng các quy định của luật tố tụng hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác, khách quan, đúng pháp luật. Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là: Một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của tòa án. Đồng thời thông qua hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan tổ chức hữu quan [6]. Đặc điểm của giai đoạn điều tra Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn này như sau: Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình TTHS có thời hạn xác định bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án.
Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là các cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật TTHS quy định để chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp, các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều chỉ là CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Các tài liệu do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến hành thu thập mới được coi là những chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Thứ tư, biện pháp mà các chủ thể áp dụng trong giai đoạn điều tra là mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định, việc áp dụng các biện pháp đó tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án.
Các biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy định của Luật tố tụng hình sự. Khái niệm, đặc điểm hoạt động điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm hoạt động điều tra vụ án hình sự Điều tra là hoạt động có mục đích nhằm khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con người. Trong lĩnh vực phòng chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm.
Từ điển Luật học giải thích rằng: “Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” [28]. Có quan điểm cho rằng: trên thực tế, hoạt động điều tra vụ án hình sự được tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự: điều tra, truy tố, xét xử với những mục đích khác nhau nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên phần lớn các quan điểm cho rằng: hoạt động điều tra là tổng hợp tất cả các hành vi được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và do Cơ quan điều tra thực hiện. Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai vì hoạt động điều tra là chức năng nhiệm vụ của CQĐT và kết quả của hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra là cơ sở cho việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Như vậy, hoạt động điều tra được hiểu là: "tổng hợp tất cả các hành vi được CQĐT tiến hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ". 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm hoạt động điều tra vụ án hình sự Thứ nhất, hoạt động điều tra được tiến hành công khai theo các trình tự, thủ tục, thẩm quyền do pháp luật quy định. Khi tiến hành các biện pháp điều tra phải có mặt của những người mà luật định và họ phải ký vào biên bản hoạt động điều tra.
Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện ở biện pháp và các thủ tục tố tụng được tiến hành, còn nội dung, kết quả điều tra thì phải bí mật. Tính công khai của hoạt động điều tra là tiêu chí cơ bản nhất để phân biệt với hoạt động trinh sát được tổ chức và tiến hành dưới hình thức bí mật cả về nội dung, phương pháp để nắm bắt tin tức về tội phạm, theo dõi và truy bắt các đối tượng phạm tội, nhằm phòng ngừa tội phạm. Thứ hai, tùy theo đặc điểm của vụ án hình sự mà CQĐT áp dụng các biện pháp điều tra cho phù hợp. Thứ ba, phạm vi điều tra các tình tiết thực tế của vụ án rộng hơn phạm vi những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự do luật định.
Để xác định được một tình tiết quy định tại Điều 63 của BLTTHS thì CQĐT phải làm rõ được những tài liệu, chứng cứ liên quan. Chẳng hạn, để xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội, trước tiên phải chứng minh người đó có mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án (thông qua các dấu vết, vật chứng, lời khai người bị hại, người làm chứng…). Thứ tư, trong hoạt động điều tra vụ án hình sự có thể phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng các biện pháp cưỡng chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, thân thể; do đó thường tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân.