Chương 1 KỊCH VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 1. Những quan niệm mới trong sáng tác về đề tài lịch sử của văn học Việt Nam từ năm 1986 đến nay 1. Bối cảnh thời đại và nhu cầu đổi mới của văn học sau năm 1986 Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến chống đế quốc Mĩ đã kết thúc thắng lợi. Lịch sử dân tộc lại mở ra một thời kì mới – thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước.
Tuy nhiên, từ năm 1975 đến năm 1985, đất nước ta lại gặp những thử thách, khó khăn mới, nhất là khó khăn về kinh tế chủ yếu do hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm. Tình hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới. Nghị quyết của Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ VI (năm 1986) đã chỉ rõ “đổi mới là nhu cầu bức thiết”, là “vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc. Từ năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với phương Tây.Trước đây, do chiến tranh và giới hạn của hệ tư tưởng nên sự giao lưu văn hóa còn hạn chế, chủ yếu là giao lưu với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay trong xu thế toàn cầu và sự bùng nổ của công nghệ thông tin sự giao lưu và những ảnh hưởng của văn hóa, văn học thế giới đến đời sống văn hóa, văn học của nước ta. Đất nước bước vào công cuộc đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học. Công cuộc đổi mới của văn học đã đi qua nhiều chặng đường. Từ năm 1975 đến năm 1986 là giai đoạn “nhận đường” đầy trăn trở và còn nhiều lúng túng.
Nhưng từ năm 1986 về sau với chủ trương đổi mới chung, việc đổi mới văn học đã trở thành ý thức của đông đảo những hoạt động văn học. Có thể 7 nói, một trào lưu văn học đổi mới đã hình thành, mặc dù vẫn còn nhiều tranh luận giữa cái cũ và cái mới. Chính trong thời gian này, không chỉ trong văn học mà cả trong sân khấu, điện ảnh đã xuất hiện một số cây bút nổi tiếng mới mẻ như Trần Văn Thủy, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Quang Thân…Sự xuất hiện của các nhà văn với những tác phẩm mới chứng tỏ các văn nghệ sĩ nước ta luôn tiềm ẩn sự nhạy cảm với cái mới, họ luôn ý thức được trách nhiệm của cá nhân người cầm bút đối với nhân dân, đất nước và đã góp phần không nhỏ của mình vào chủ trương đổi mới của văn học nước nhà. Từ đây, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới, cập nhật hơn những vấn đề của đời sống hằng ngày.
“Chưa bao giờ chỉ trong một thời gian ngắn, ta lại thấy xuất hiện nhiều tác phẩm được dư luận chú ý nhiều như vậy” [18; 110]. Thời kì mới đặt ra nhiều vấn đề cần phân tích, lí giải là mảnh đất màu mỡ cho tiểu thuyết. Những tên tuổi quen thuộc từ trước như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Tô Hoài…vẫn tiếp tục sáng tác, có nhiều đóng góp mới. Thế hệ những nhà văn kế tiếp như Thái Bá Lợi, Nguyễn Quang Lập, Lê Minh Khuê, Tạ Duy Anh, Trần Thùy Mai…tỏ ra năng nổ hơn.
Thơ ca cũng có một sự khởi sắc trong các sáng tác của Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Dư Thị Hoàn, Phùng Khắc Bắc…Nếu thơ ca thời kì chiến tranh ca ngợi sức mạnh cộng đồng, giàu tính chiến đấu thì thơ ca thời kì đổi mới có khuynh hướng hướng nội, trở về tiếng nói nội tâm của mỗi cá thể. Cái riêng tư trở thành đối tượng miêu tả có nghĩa xã hội với giá trị nhân bản. Nghiên cứu và phê bình văn học cũng có nhiều đóng góp. Tuy có những cách đánh giá khác nhau xoay quanh một vấn đề, một tác phẩm văn học, nhưng không còn tình trạng áp đặt và quy chụp về quan điểm văn học.
Với một số tác phẩm thời trước cách mạng tháng Tám, tác giả được đánh giá lại, giải tỏa những ám ảnh nặng nề trong quá khứ. Tự lực văn đoàn, Phong trào Thơ mới…đều được khôi phục vị trí trong lịch sử văn học. Các tác giả như Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính được tôn vinh và xóa bỏ những 8 nhận thức lệch lạc về họ với những nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Lê Đình Kị, Phan Cự Đệ, Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Đăng Điệp, Trương Đăng Dung, Bích Thu…Điều đặc biệt là ở giai đoạn này xuất hiện xu thế “hai trong một”, người sáng tác đồng thời viết lí luận phê bình. Kịch cũng có sự phát triển mạnh mẽ, có chỗ đứng trong lòng công chúng: Nhân danh công lí của Doãn Hoàng Giang, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Nguồn sáng trong đời…của Lưu Quang Vũ, Mùa hè ở biển của Xuân Trình…Công chúng thời hậu chiến, đặc biệt là sau năm 1986, có sự phân hóa, cũng như trong sáng tạo.
Do sự phát triển của một số ngành giải trí quá nhanh nên nền kịch có phần bị áp đảo và dần dần thất thế. Sự phân hóa của công chúng theo thị hiếu thẩm mĩ cũng đưa đến việc những vở kịch có chất lượng nghệ thuật cao, giá trị nội dung sâu sắc ít đươc quan tâm so với kịch thị trường. Một mặt, công chúng vẫn tiếp nhận những vở diễn cũ, mặt khác, đòi hỏi vở diễn phải bắt kịp những thay đổi của đời sống, đi vào những vấn đề thế sự. Giữa lúc cơn khát của độc giả cũng như khán giả về những vở kịch như thế thì sự xuất hiện của Phạm Quang Long đầu thế kỉ XXI với một loạt tác phẩm kịch có giá trị, đặc biệt là những vở về đề tài lịch sử đã đem lại cho người đọc, người xem một hứng thú mới cũng như đáp ứng được nhu cầu đổi mới của văn học sau 1986.
Quan niệm mới về đề tài lịch sử trong văn học Khái niệm Kịch trong văn học Việt Nam chỉ thể loại văn học sân khấu tiếp nhận từ phương Tây đầu thế kỉ XX để phân biệt với loại hình văn học sân khấu dân gian với tên gọi Tuồng, Tích trò. Nền kịch Việt Nam được coi là hình thành từ những năm 1920, là sản phẩm của sự giao lưu văn hóa Đông Tây trên nền thuộc địa, vẫn quen gọi bằng khái niệm “kịch nói”. Mặc dù ra đời muộn hơn so với các nước khác, song kịch nói ở Việt Nam hình thành trên cơ sở tiếp thu được những tinh hoa thể loại từ những quốc gia có nền kịch truyền thống như Pháp, Đức. Vì vậy, từ sớm kịch nói 9 đã có những thành tựu, đặc biệt là kịch nói về đề tài lịch sử.
Với tính xung đột và tính hành động, thể loại kịch có thể làm “sống” lại lịch sử, đem đến cho người xem một hứng thú đặc biệt. Về khái niệm lịch sử, cho đến hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau. Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Lịch sử là quá trình ra đời, phát triển đã qua hay cho đến tiêu vong” [46; 1017]. Như vậy, lịch sử là quá trình phát sinh, phát triển đã qua của một hiện tượng, sự vật nào đó diễn ra theo trình tự thời gian.
Lịch sử luôn luôn được nhận biết dưới hai dạng thức, đó là dòng lịch sử khách quan và dòng lịch sử trong nhận thức - chủ quan - của con người. Kịch về đề tài lịch sử theo Từ điển Thuật ngữ văn học là một thể loại văn học lịch sử. Đó là thể loại sáng tác về các sự kiện và nhân vật có thật trong lịch sử, do đó mà có tên gọi là “lịch sử”. Đồng thời, đó là kịch chứ không phải kí sự lịch sử, vì thế, nó không chỉ kể lại sự kiện và nhân vật, mà nó còn tái hiện lại cuộc sống con người với cả không khí thời đại, các chi tiết về tâm hồn, cá tính, trang phục, nhà ở, đồ dùng, lời ăn, tiếng nói…, và đặc biệt miêu tả đời sống cụ thể sinh động của nhân vật lịch sử, một trải nghiệm của con người có tính cách, cá tính trong dòng chảy của lịch sử, khiến cho người đọc không chỉ đọc được một câu chuyện , mà còn như được sống, được trải nghiệm với thời đại ấy nữa.
Mặc dù, có dung lượng ngắn và có sự dồn nén cao, nhưng kịch lịch sử cũng đã cung cấp cho người đọc, người xem một bức tranh tương đối rộng về hoàn cảnh mà nhân vật sống. Các tài liệu sử học mà nhà văn dựa vào thường chỉ nêu các sự kiện và nhân vật chính. Bản thân sự kiện và nhân vật trong sách sử cũng rất giản đơn, sơ lược, thiếu chi tiết, vì thế, khi viết buộc nhà viết kịch phải tưởng tượng, hư cấu. Đồng thời, cùng với sự tưởng tượng, người viết kịch lịch sử còn phải đưa những sự kiện của quá khứ trở về thời hiện tại của nó, cho người đọc sống lại với bối cảnh thời đại.
Chính vì thế, kịch lịch sử chỉ thu hút độc giả khi hiện thực lịch sử mà nó lựa chọn, phản ánh, đề cập, gợi mở đến những vấn đề đang được con người và xã 10 hội quan tâm. Người sáng tạo phải bằng cảm quan nhạy bén của mình phát hiện, lựa chọn được những vấn đề có thể đối thoại được với cuộc sống đương thời. Hiện thực lịch sử ấy phải được lí giải bằng quan điểm tiến bộ, khoa học, nhân văn vừa trung thành với tinh thần của lịch sử, vừa kết nối một cách tinh tế với hiện thực đương đại. Tác phẩm thường mượn chuyện xưa nói chuyện nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua.
Với đề tài lịch sử, các nhà nghiên cứu thường đánh giá luôn là một khó khăn, thách thức với tất cả các nhà văn, nhà viết kịch không chỉ riêng ở nước ta. Tuy nhiên, trong dòng chảy của văn học Việt Nam, kịch lịch sử vẫn luôn âm ỉ và đến đầu thế kỉ XX bắt đầu phát triển khá mạnh. Các tác giả bắt đầu chú ý hơn và khai thác sâu hơn đề tài lịch sử: từ nhân vật, sự kiện đến những biến cố trong lịch sử dân tộc. Hơn bao giờ hết, lịch sử trở thành nguồn đề tài phong phú và hấp dẫn đối với các tác giả.