Chương 1. Những van dé chung về hình thức khuyến mại giảm giá và pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá tại tỉnh Hà Giang Chương 3. Một số yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá.
NHŨNG VAN DE CHUNG VE HÌNH THUC KHUYEN MẠI GIAM GIÁ VA PHÁP LUẬT VE HÌNH THUC KHUYEN MẠI GIAM GIA 1. Khái quát về hình thức khuyến mại giảm giá 1. Khái niệm hình thức khuyến mại giảm giá “Hình thức có thé hiếu là cách thể hiện, cách tiễn hành một hoạt động nhằm mục đích cụ thé”'. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac - Lénin, hình thức “là một phạm trù chỉ phương thức ton tại và phat triển cua một sự vật, là hệ thong các moi liên hệ twong đối bên vững giữa các yếu tố của sự vật do”.
Các thương nhân hiểu được rang dé có thé thu hút và hướng sự lựa chon của khách hàng đến sản pham của mình thì ngoài việc xây dựng được một chiến lược kinh doanh tốt thì hoạt động khuyến mại nói chung và KMGG nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Ngày nay kinh tế ngày một phát triển, muốn đứng vững được trong giới kinh doanh và nâng tầm ảnh hưởng của mình thì khuyến mại quả là một công cụ hữu hiệu dé thực hiện điều đó. Vậy khuyến mại là gì và có tac dụng như nào? Theo Từ điển Tiếng Việt, “mãi” là mua, “mại” là ban’, khuyến mãi có nghĩa là khuyến khích mua hàng, còn khuyến mại có nghĩa là khuyến khích bán ra. Xét trên hai khía cạnh: người kinh doanh (người ban) và NTD (người mua), khi người kinh doanh muốn doanh số bán hàng tăng lên (hoặc gia tăng thị phần bán hang) thì họ có thể thực hiện các chương trình khuyên khích bán hàng hoá, dịch vụ, chương trình đó nên về phía người kinh doanh thì được gọi là CTKM (chương trình kích thích bán hàng), về phía NTD khi người kinh doanh tung ra chương trình kích thích NTD mua nhiều sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ nhiều hơn thì được gọi là chương trình khuyến mãi (chương trình kích thích NTD mua ! Nguyễn Quốc Hùng (1975), Hán Việt Tân từ điển, NXB, Nhà sách Khai trí Sài Gòn, tr.289 ? Lê Doãn Tá (2003), Một số van dé Triết học Mác — Lénin: Lý luận và thực tiễn (tái bản có bổ sung), NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.
33 3 Nguyễn Quốc Hùng, 1975, Hán Việt Tân từ điển, NXB, Nhà sách Khai trí Sai Gòn, tr. Đứng về phía người bán thì gọi là khuyến mại, đứng về phía người mua thì gọi là khuyến mãi. Do việc mua bán được tiễn hành đồng thời nên cả hai thuật ngữ này đều có thé sử dụng được?. Thông tin khuyến mãi hay khuyến mại giúp cho khách hàng (người tiêu dùng) hiểu rằng doanh nghiệp đang có chính sách ưu đãi nào đó dành cho khách hàng.
Dưới góc độ pháp lý, Luật Thương mại 1997 định nghĩa tại Điều 108: “Khuyến mại là hành vi xúc tiễn thương mại của thương nhân nhằm xúc tiễn việc ban hàng, cung ứng dich vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng”. Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định “khuyến mại là hoạt động xúc tiễn thương mại của thương nhân nhằm xúc tiễn việc mua bán hàng cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”. Cách thức thực hiện xúc tiến thương mai, tạo ra những điều kiện thuận lợi dé thúc đây mạnh mẽ việc bán hàng và cung ứng dịch vụ là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. So sánh với quy định tại LTM 1997 thì LTM năm 2005 hiện hành khi quy định về định nghĩa hoạt động khuyến mại có hai điểm mới cơ bản là mục đích của khuyến mại và cách thức khuyến mại thông qua quan hệ dịch vụ.
Theo đó, khuyến mại không chỉ nhằm mục đích xúc tiễn thương mai trong việc bán hang mà còn nhăm xúc tiến việc mua hàng. Bên cạnh việc tìm kiếm một khách hàng nhất định thì trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc tiêu thụ hết số lượng sản phẩm làm ra nhằm đem lợi nhuận và làm tăng thị phần cho doanh nghiệp trên thị trường là những mục tiêu quan trọng hàng đầu của doanh nghiệp. Đây là quy trình tất yếu, liên tục, từ khâu tìm nguồn nguyên liệu cho đến khi sản phẩm, dịch vụ đến với khách hang. Nhăm điều chỉnh van dé này, LTM 2005 đã bố sung hoạt động khuyến mại không chỉ là xúc tiễn việc bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ mà khuyến mại còn nhăm xúc tiên cho việc mua hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Nguyễn Thi Dung (2007), Pháp luật về xúc tiêu thương mại ở Việt Nam những van đề lý luận và thực tiễn, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.45 Như vậy, vẫn đề cơ bản của hoạt động này là hành vi của các cá nhân, tô chức kinh doanh bằng cách dành các lợi ích tăng thêm cho khách hàng ngoài các lợi ich mà bản thân hàng hoá, dich vụ mang lại nhằm thúc day quá trình tiêu thụ hàng hoá dịch vụ của họ trên thị trường. Đây cũng là tiêu chí quan trọng để phân biệt hoạt động khuyến mại với các hình thức xúc tiễn khác. Có nhiều biện pháp khắc nhau để người kinh doanh dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.
Lợi ích mà khách hàng được hưởng trong hoạt động khuyến mại có thé là lợi ích vật chất hay lợi ích phi vật chất. Hang hoá, dich vụ được khuyến mại và hàng hoá, dịch vụ dùng đề khuyến mại đều phải là những hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh, lưu hành trên thị trường. Trong đó phải kế đến những biện pháp như hàng mẫu; tặng hàng hoá cho khách hang; giảm giá bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ trước đó; bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vu dé khách hàng được hưởng một số lợi ích nhất định; Bán hang hoá, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiêu dự thi cho khách hàng dé chọn người trao thưởng; Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham gia các chương trình mang tính may rủi (bốc thăm, vé số dự thưởng.); Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên; Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hoá văn nghệ giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại. Ngoài ra, néu được cơ quan quan ly nha nước (CQQLNN) về thương mại chấp thuận thì các doanh nghiệp có thể tự do sáng tạo, thực hiện các hình thức khuyến mại khác: Vi dụ: có một số sản phẩm giấy vệ sinh từ 10 cuộn tăng lên 12 cuộn nhưng giá không đổi.
Đây là quy định mang tính “mở”, tạo sự linh hoạt, chủ động cho thương nhân tự quyết định các hình thức khuyến mại khác phù hợp với tình hình kinh doanh, trên cơ sở được sự chấp thuận của CQQLNN có thâm quyền để đảm bảo sự kiểm soát của cơ quan chức năng và tự do hoá môi trường kinh doanh. Trên thực tế, các hình thức này được áp dụng chủ động bởi các thương nhân, tạo nên sự linh hoạt khi có thể kết hợp giữa nhiều hình thức trong một chương trình 10 khuyến mại, như vừa giảm giá vừa giảm giá vừa tặng quà, vừa giảm giá vừa bốc thăm trúng thưởng. Tuy vậy, giảm giá vẫn là hình thức được các thương nhân áp dụng phổ biến nhất. Theo quy định Luật Thương mại 2005, hình thức khuyến mại giảm giá là “Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã được đăng ký hoặc thông bao.
Trường hop hàng hóa, dịch vụ thuộc điện Nhà nước quan lý gia thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phử`”. Te những phân tích trên, hình thức khuyến mại giảm giá có thé được định nghĩa là: việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của hình thức khuyến mại giảm giá Hoạt động KMGG là một trong các hình thức khuyến mại, vì vậy, KMGG sẽ mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của hoạt động khuyến mại. Theo đó, hoạt động KMGG có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại giảm gid là thương nhân Điều 91 LTM 2005 quy định quyền khuyến mại của thương nhân như sau: - Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tự tô chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình.
Cụ thê hơn, Nghị định số 18/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại quy định thương nhân thực hiện khuyến mại, gồm: + Thương nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trực tiếp tiễn hành hoạt động khuyến mại hoặc tiễn hành hoạt động khuyến mại thông qua các thương nhân phân phối (bán buôn, bán lẻ, đại lý, nhượng quyền thương mại và các thương nhân phân phối khác theo quy định của pháp luật) Š Khoản 3, Điều 92, Luật Thương mại 2005 11 + Thuong nhan kinh doanh dich vu khuyén mai thuc hién khuyén mai cho hang hóa, dich vụ cua thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân - Văn phòng đại diện của thương nhân không được khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện. Quan hệ dịch vụ này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ. Dé tăng cường cơ hội thương mại, thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại, cũng có thé lựa chon dịch vụ khuyến mại do thương nhân khác cung cấp trên cơ sở hợp đồng dịch vụ. Trường hợp này thương nhân phải đăng ký kinh doanh dịch vụ khuyến mại.