Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu bao gồm: lý do chọn đề tài; mục tiêu của đề tài; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa của đề tài; lược khảo tài liệu; kết cấu của đề tài. Tiếp theo, chương 2 sẽ hệ thống các lý thuyết liên quan, trình bày phương pháp nghiên cứu và đưa ra mô hình đề xuất nghiên cứu. 19 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm và các chức năng của NHTM 2.1 Khái niệm về NHTM Có nhiều định nghĩa về ngân hàng thương mại, theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành ngày 16/06/2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.2 Các chức năng của ngân hàng thương mại NHTM có 3 chức năng sau: a) Chức năng trung gian tài chính Với chức năng này, NHTM là “cầu nối” giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Ngân hàng huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng đem cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Việc làm này không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn đem lại lợi ích cho người gửi tiền, người đi vay và lợi ích cho nền kinh tế. + Với người gửi tiền: họ sẽ có thêm khoản thu nhập từ số tiền mà họ gửi vào ngân hàng. + Với người đi vay: họ sẽ có khoản vốn để kinh doanh, số tiền chi tiêu với mức lãi suất hợp lý. + Với NHTM: ngân hàng sẽ kiếm được lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay.
+ Với nền kinh tế: ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn để quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất. Chức năng trung gian tài chính được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM vì nó nói lên bản chất của NHTM là đi vay và cho vay. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. 20 b) Chức năng trung gian thanh toán Trong chức năng này, ngân hàng đóng vai trò như là người thủ quỹ của doanh nghiệp và cá nhân.
Khi có nhu cầu thanh toán, khách hàng có thể giao dịch thông qua ngân hàng, không cần phải trực tiếp thanh toán. Nhờ đó, khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian, có thể an tâm vì quá trình thanh toán diễn ra an toàn, nhanh chóng. c) Chức năng tạo tiền NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng (tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng. Từ số tiền dự trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, ngân hàng có khả năng tạo ra số tiền gửi gấp nhiều lần số tiền dự trữ ban đầu.
Sau đây là ví dụ về quá trình tạo tiền của ngân hàng. Giả sử tỷ lệ tiền dự trữ bắt buộc là 10%. Giả sử khách hàng M gửi tiền mặt 100 triệu đồng vào tài khoản thanh toán tại ngân hàng A. Ngân hàng A sử dụng 90 triệu đồng (90% tổng số tiền gửi) cho khách hàng N vay.
Khách hàng N dùng số tiền đã vay thanh toán tiền hàng hóa cho bạn hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng B thông qua hình thức chuyển khoản. Sau khi trích dự trữ bắt buộc 10%, ngân hàng B này lại tiếp tục cho vay bằng hình thức chuyển khoản với số tiền 81 triệu đồng. Số tiền này hình thành nên khoản tiền gửi mới tại ngân hàng D. Lúc này, tổng số tiền gửi ở các ngân hàng là: 100 + 90 + 81 + 72.
Quá trình tạo tiền cứ tiếp tục diễn ra cho đến khi tổng số tiền dự trữ bắt buộc bằng số tiền gửi ban đầu. Nhìn chung, các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Trong đó, chức năng trung gian tài chính là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau.2 Các vấn đề về thẻ thanh toán 2.1 Khái niệm về thẻ thanh toán Hiện nay, có rất nhiều khái niệm để diễn đạt thẻ thanh toán, mỗi cách diễn đạt khác nhau nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó của thẻ thanh toán: 21 Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng hoặc các máy rút tiền tự động. Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi ngân hàng, các tổ chức tài chính hay các công ty.
Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa ngân hàng/tổ chức tài chính với các điểm thanh toán. Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. Theo điều 2 của Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ- NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, “Thẻ ngân hàng”: Là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận.2 Phân loại thẻ Theo Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, thẻ thanh toán sẽ có 3 loại: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước. a) Thẻ ghi nợ (Debit card) Là loại thẻ được chủ thẻ sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, rút tiền mặt trong phạm vi số dư trên tài khoản tiền gửi của mình tại ngân hàng phát hành thẻ.
Loại thẻ này thông thường cấp cho khách hàng có số dư tài khoản tiền gửi thường xuyên có dư CÓ. Nhằm tạo sự thuận tiện khi khách hàng giao dịch vượt số tiền trong tài khoản, ngân hàng sẽ cấp cho chủ thẻ một hạn mức thấu chi. Để có thể sử dụng hình thức thấu chi, khách hàng phải thỏa một số điều kiện của ngân hàng. b) Thẻ tín dụng (Credit card) Là loại thẻ cho phép chủ thẻ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, rút tiền mặt trong hạn mức tín dụng được ngân hàng phát hành thẻ chấp thuận theo hợp đồng.
22 Khách hàng phải thanh toán toàn bộ số dư nợ trước ngày đến hạn. Nếu khách hàng thanh toán sau ngày đến hạn, khách hàng sẽ phải chịu khoản lãi trả chậm. c) Thẻ trả trước (Prepaid card) Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ (gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác) trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trước có đặc điểm khác với thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng là chủ thẻ không cần phải có tài khoản tại ngân hàng.
Thẻ trả trước bao gồm hai loại: thẻ trả trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh). Đối với thẻ trả trước vô danh, số dư trên mỗi thẻ không được vượt quá hạn mức do Ngân hàng Nhà nước quy định, không được nạp thêm tiền vào thẻ và chỉ được sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ.3 Lợi ích khi sử dụng thẻ - Đối với chủ thẻ: Khi sử dụng thẻ, khách hàng không phải mang theo trong người một lượng tiền mặt lớn, không sợ bị mất cấp. Ngoài ra, khách hàng còn được nhận thêm phần tiền lời từ số tiền trong tài khoản thanh toán với lãi suất không kì hạn. Với việc ngân hàng có thể cấp thẻ tín dụng trước cho khách hàng để thanh toán hàng hóa dịch vụ mà không bị tính bất kì một khoản lãi nào, khách hàng đã được ngân hàng giúp mở rộng khả năng thanh toán của mình.
- Đối với đơn vị chấp nhận thẻ: Việc sử dụng thẻ làm công cụ thanh toán làm cho người tiêu dùng thuận tiện và dễ dàng hơn trong việc mua hàng. Điều này tạo điều kiện cho người bán hàng có cơ hội tăng doanh số bán hàng của mình. Với việc chấp nhận thẻ thanh toán, người bán hàng có khả năng giảm thiểu các chi phí về quản lý tiền mặt như bảo quản, kiểm đếm nộp vào tài khoản ở ngân hàng. Ngoài ra, việc thanh toán giữa người mua và người bán được ngân hàng bảo đảm vừa nhanh chóng, thuận tiện và chính xác.
- Đối với ngân hàng: Để có thể sử dụng thẻ, khách hàng phải mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng. Điều này đã làm tăng lượng số dư tiền gửi và nguồn huy 23 động cho ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng còn có thêm khoản thu từ các nguồn như: phí mở thẻ, phí rút tiền mặt, phí thường niên.3 Khái niệm thẻ ATM và dịch vụ rút tiền tự động ATM - Thẻ ATM (thẻ ghi nợ nội địa): là thẻ do tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để thực hiện giao dịch thẻ trong nước, cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ. - Chủ thẻ: Là cá nhân hoặc tổ chức được tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ.
- Chủ thẻ chính: Là cá nhân hoặc tổ chức đứng tên thỏa thuận về việc sử dụng thẻ với tổ chức phát hành thẻ và có nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận đó. - Chủ thẻ phụ: Là cá nhân được chủ thẻ chính cho phép sử dụng thẻ theo thỏa thuận về việc sử dụng thẻ giữa chủ thẻ chính và tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ phụ chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ với chủ thẻ chính. - Giao dịch thẻ: Là việc sử dụng thẻ để gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng.
- Đơn vị chấp nhận thẻ (POS): Là tổ chức, cá nhân chấp nhận thanh toán hàng hoá và dịch vụ, cung cấp dịch vụ nạp, rút tiền mặt bằng thẻ.